Chương Dân: Chuyện Các Bậc Tiền Bối (*)

Chương Dân: Chuyện Các Bậc Tiền Bối (*)

Phần trên trang đầu của báo Nam Phong số 22, tháng 4 năm 1919
Bài “Chuyện quan Hiệp biện Phạm Phú Thứ” đăng trên báo Nam Phong số 22 tháng 4 năm 1919

TIỂU DẪN
Nước ta từ thuộc về bản triều, trong khoảng trăm năm trở lại đây, bao nhiêu là người có danh tiếng còn để lại những lời hay nết tốt, hoặc ở trong quốc sử, hoặc ở trong mấy bài bia văn hạnh trạng của các vị tiên nho, thật là đủ làm gương cho người hậu tiến.
https://946328a3e048818e0de963d280a29907.safeframe.googlesyndication.com/safeframe/1-0-37/html/container.html
Chỉ vì nước ta thủa nay nghề xuất bản vẫn kém, sách vở không truyền bá được mấy tí, cho nên chúng ta không biết được gương tốt ấy mà noi theo. Phong tục ta ngày một suy đồi đi, cũng có ít nhiều bởi đấy.Vì tôi nghĩ thế, nhân khi xem sách, hay là khi hầu chuyện cùng các cụ, có nghe thấy được điều gì, là những điều có quan hệ với việc lập thân xử thế mà chúng ta nên bắt chước, thời nhặt lại mà biên thành tập này, mỗi chuyện phụ thêm lời bàn, gọi là Chuyện các bậc tiền bối, để làm gương soi mình và kính đem dâng cho những người có chí cầu cổ trong đám thanh niên chúng ta.

Chuyện quan Hiệp biện Phạm Phú Thứ

Cụ Phạm Phú Thứ tên chữ là Giáo Chi, hiệu là Trúc Đường, người làng Đông Bàn tỉnh Quảng Nam. Ngài đỗ giải nguyên khoa Nhâm Dần đời Thiệu Trị; khoa Quý Mão đỗ luôn hội nguyên, tiến sĩ, rồi ra làm quan. Đến đời Tự Đức, ngài có phụng phái đi qua Tàu, sau lại sang xứ Tây nữa. Ngài lại có làm Thượng thư bộ Hộ 10 năm, làm Tổng đốc Hải Dương kiêm coi việc thương chánh 6 năm, công lao với Nhà nước nhiều lắm. Lúc ngài đi sứ Tây về, tâu mấy phen xin vua cải lương việc chính trị, giáo dục trong nước, lại xin phép in ra những bộ sách mới như Bác vật tân biên, Vạn quốc công pháp, Khai môi yếu pháp để ban cấp cho các trường học và cho sĩ phu trong nước coi. Đến năm Tự Đức thứ 34, ngài về nhà, rồi mất, được truy thọ hàm Hiệp biện Đại học sĩ. Ngài thật là một vị đại thần rất trung thành, rất tài cán, có kiến thức, biết thời thế, lại đủ cả văn chương, đức hạnh, không phải như những ông khác chỉ gặp nhịp tốt làm nên quan lớn mà thôi.
Trong Liệt truyện(**)đã có chép truyện ngài tường tất lắm. Đây tôi chỉ thuật lại một truyện về lúc ngài mới ra làm quan, và kính dịch luôn cả cái sớ và cái thư của ngài, để biết rằng các cụ đời trước học cốt để gì chớ không phải để mà cầu phú quý.
Niên hiệu Tự Đức năm thứ 3, lúc bấy giờ ngài làm thị độc viện Tập hiền và sung chức khởi cư chú ở Kinh diên. Nhân trời mùa đông, mưa lạnh, đức Dực Tôn ít ra thị triều và Kinh diên cũng không giảng sách. Ngài bèn dâng sớ lên can vua. Sớ rằng:
“Kẻ hạ thần có nghe: Sự siêng năng là cái đức tốt của thánh nhân, cái nết tốt của người quân tử. Xưa vua Thuấn là bậc đại thánh, nối vua Nghiêu lên làm vua, trong thiên hạ đã thái bình, mà ngài còn khăng khăng lo làm việc, không chút rồi rảnh. Vua Văn Vương cũng là bậc đại thánh, cái thánh đức của ngài đủ làm phép tắc cho muôn nước, mà ngài còn chăm lo việc dân đến nỗi không rỗi mà ăn. Hai vua ấy siêng năng là dường nào! Đức Thế Tổ ta, chải gió dầu mưa, không nài khó nhọc, mới dựng được nghiệp lớn. Đến đức Thánh Tổ, đức Hiến Tổ đều là thức khuya dậy sớm, lo toan việc nước, nên nước nhà mới được an trị như bây giờ. Thật là cái đức tốt, cái nết tốt của Liệt thánh ta không kém gì vua Thuấn vua Văn. Bởi sự trị yên trong nước hễ không tới thì lui, cho nên đấng nhân quân phải siêng lo luôn, rồi đâu mà chơi nhởi.Nay đức Hoàng thượng lên giữ thánh nghiệp của Liệt thánh, bốn biển về lòng. Vậy mà kẻ hạ thần trộm thấy công việc chốn triều đình còn bê trễ, thần dân trong nước còn đương ngóng cổ trông ơn vua. Lúc nầy chính là lúc Hoàng thượng chăm lo mới phải. Thế mà ngài lên ngôi ba năm nay, nhân khi tiết hậu đổi thay, thường hay ngự se, qua tiết thu đông lại càng săng (1) lắm. Các quan ngự y điều trị, dùng ra đến bên ngoài phương thuật; các đình thần dưng sớ thỉnh an, muốn nói mà không dám cạn lời. Nay nhờ phúc trời, thánh thể đã mạnh khỏe, ngài nên tự cường, đừng có lòng trễ nhác, bắt chước theo đế vương, theo Liệt thánh, còn e không thỏa trông mong của thiên hạ. Huống gì về tiết mùa đông, ngày thì mưa, ngày thì nắng, là sự thường. Thế mà chốn đại đình vắng thấy nghi chầu, nơi hậu uyển thường nghe tiếng trống; trễ nải như vậy, tôi e trị hóa càng ngày càng lùi. Nơi Kinh diên không giảng sách thì điều được điều mất không xét vào đâu, mà lời nói lành ngày vắng. Bầy tôi ít thấy vào ra mắt, thì phận vua tôi xa cách, mà tình kẻ dưới ngày sơ. Các quan phủ, huyện các nơi, chực dẫn kiến mãi mà không được, thì sự lợi sự hại trong dân sao thấu tai vua, mà dân chánh ngày kém. Phương chi việc trong nước không phải chỉ mấy điều đó mà thôi. Vậy kẻ hạ thần cúi xin Hoàng thượng hãy nghĩ đến các vua đời trước vì siêng năng mà làm nên chính trị, rồi ngài nhớ lấy mà đừng quên, gắng lấy mà đừng trễ; nước nhà được yên ổn mà dài lâu cũng bởi đó mà ra.Kẻ hạ thần ngôi thấp nói cao, mình biết mình chắc có tội, ngửa nhờ lượng thánh xét cho”.
Sớ ấy dâng lên, đức Dực Tôn ban quở, vì trong sớ nói có điều thất thực. Liền có “chỉ” xuống bảo đình thần nghị tội ngài. Ngài phải chịu tội đồ, bị phát phối vào trạm Thừa Nông (2). Ngài có ông anh tên là Phạm Phú Duy, đỗ cử nhân, làm hành tẩu bộ Binh, lúc bấy giờ đình gian về ở nhà. Ông anh nghe ngài bị tội thì lấy làm lo, tin theo lời họa phúc của thế tục, toan rời mộ tiên nhân, bèn gửi thư bàn với ngài. Ngài được thư, trả lời rằng:
“Tiếp người nhà đến, đưa thư của anh và nói rằng anh vì cớ em mắc tội mà ăn không ngon ngủ không yên, cầu thần phật, khấn ông bà, rước thầy địa phúc mồ mả. Anh làm như thế thật đã hết lòng với em lắm. Em đọc đi đọc lại thư anh mà biết rằng lòng anh thương em dẫu người hiền đời xưa cũng không bằng. Song em trộm nghĩ rằng: Trời với người vẫn một lý thông nhau, ông cha với con cháu vẫn một khí liền nhau; hễ việc người xong thì không oán hận gì trời; hồn phách ông cha được yên thì con cháu ắt thạnh. Nhưng cốt mình ở cho chánh, thì dẫu gặp phải bần tiện hoạn nạn cũng đành; chớ trời nào có phải mỗi việc theo ý người cho thuận thích thì mới gọi là không oán hận đâu; ông cha nào có phải muốn cho con cháu chỉ ăn no mặc ấm, lấy giàu sang khoe khoang với đời, thế mới gọi là xương thạnh đâu. Đạo Nho ta nói rằng , nói rằng khí đều là bất ngoại một chữ “chánh”. Tiên nhân ta chứa đức đã mấy đời, đến Bà cố ta rồi đến Tiên khảo ta lại thêm bồi nên phúc. Mộ Bà cố ta trải mấy mươi năm nay bình yên vô sự, còn phát hay chẳng phát thì cứ coi con cháu là chúng ta đây cũng đã thấy rồi. Vả thạnh có suy, lẽ thường vẫn thế. Muốn cho thắng được cái lẽ thường ấy thì mình phải tu đức. Huống gì trời cho người ta cũng có chừng có đỗi, tham quá sao được. Nay bỏ nhân sự đi, không nói đến chuyện tu đức, mà cứ cậy vào địa lý là một cái thuật mọn, thế có phải là sai không? Ôi! Tiên khảo ta tu nhân tích đức, để che chở cho con cháu, nay ngài mất chưa giáp năm mà thằng con bất hiếu này đã lốm lụy vào vòng luy tiết; các nhà địa lý thấy vậy, chắc cho là tại chỗ đất không được tốt, mà anh em ta nhân đấy cũng có nghi sợ thật. Song họ nói vậy chớ họ không dám đoán quyết rằng em bị tội là tại chỗ đất ấy, và cũng không dám đoán quyết rằng cuộc đất ấy thì phải bị tội ấy, chẳng qua nói chống chỗ đất ấy không được tốt mà thôi. Những việc mà tai mắt ta không nghe thấy thì ta không thể tin được, ta nên tin ở lý. Dẫu rằng lý không qua số, nhưng số mầu nhiệm khó biết mà lý là phải chẳng rành rành, ta nên cứ đó mà theo. Cho nên người quân tử không cậy thuật cậy số mà phải cứ lý là thế. Em nghĩ đi nghĩ lại, em tự tín đã lâu; việc rời mộ tiên khảo ta quan hệ rất lớn, xin anh phải nghĩ kỹ đã, đừng vội. Em lại nghe: anh ở nhà buồn bực, việc nhà nhác không buồn trông đến, đêm nằm thở dài, ăn không hết bữa, đều là vì em cả. Anh nghĩ như thế là thương em đó sao? Hay là anh đem lòng mà “lo được lo mất” cho em? (3). Vả người quân tử lấy đức thương người, đức là gì? Là cứ đạo mà làm, mà có sở đắc trong lòng ta. Ta tuy chưa chắc đã làm đạo được, nhưng bình nhật học đạo thánh hiền, cũng đã biết giữ phận, phận sao chịu vậy, than trách làm chi? Thưa anh, trượng phu ở đời, lấy chánh học sáng đạo nghĩa, lấy danh tiết neo cang thường, cái phận sự của mình rất lớn lao, được mất nên thua là tại rủi với may, thật không đủ kể. Thầy Mạnh Tử có nói rằng:”Ta việc gì mà chẳng vui” là thầy đã tự tín lắm. Nếu người ta mà không bụng tự tín, hơi thấy được đã mừng, hơi thấy mất đã lo, hoảng hốt mê man, nghe ai bày chi theo nấy: bữa nay đổi hướng nhà, đến mai chữa nghạch cửa, làm rộn ràng mà chẳng nhằm việc gì. Ấy là tại trong lòng không lấy lý làm chủ, cho nên lời họa phúc của thế tục mới làm day động được. Ông Tô Đông Pha có câu thơ rằng:”Bốn biển biết nhau chỉ Tử Do” (4) . Người đời xưa anh em ở với nhau một lòng một dạ, việc gì cũng nương theo nghĩa lý, thuận theo mạng trời, cho nên mới có câu thơ như thế. Em vẫn biết bụng anh thương em lắm, song thấy người xưa thương nhau là khuyên nhau lập chí cho bền, làm việc phải nghĩa, thì cách thương nhau ấy lại càng thiết hơn. Xin anh lấy cách ấy mà thương em, thì em nhờ anh nhiều lắm”.
LỜI BÀN
Các cụ đời xưa, hễ đã có học mà nói ra, làm ra, đều theo nghĩa lý, theo sách vở. Như cụ Phạm Phú Thứ đây, đã làm cận thần của vua, thì cố làm cho hết bổn phận mình, gặp việc đáng can thì can, không có sợ họa đến mình mà nín lặng. Đến khi đã bị tội thì cam tâm chịu, không nhân đó mà đổi dạ sắt đanh. Bởi cụ hay lấy lẽ chánh mà giữ mình, miễn là mình không hổ với mình là được; còn về việc thành bại họa phúc thì phó mặc cho Trời. Ôi! Mình làm nên tội mình mà lại đổ cho tại mồ mả của ông cha là điều rất vô lý. Cho nên cụ không nghe là phải. Thế mà lại có người đem di hài của tổ tiên mình bữa nay vùi xuống chỗ này, đến mai bới lên vùi xuống chỗ khác, tìm long điểm huyệt, mong cho phát phú phát quý, cũng lạ thay!
__________________
Chú thích:
(*). Nguồn: Nam Phong, Hà Nội, số 22 tháng 4 năm 1919. Rút trong sưu tập Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1917 – 1924 do Lại Nguyên Ân sưu tầm, biên soạn, nhà xuất bản Tri Thức, Hà Nội, 2019, các trang 195-196-197-198-199. [Phan An Sa sao lục].
(**). Liệt truyện: ý nói bộ Đại Nam chính biên liệt truyện do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, ghi tiểu sử và công trạng các quan chức, nhân vật triều Nguyễn [Lại Nguyên Ân].
(1). Săng: tiếng Đàng Trong là năng, nhiều lần [Phan Khôi].
(2). Trạm Thừa Nông ở phía nam kinh đô Huế, tục kêu là Cung Nông [Phan Khôi].
(3). Câu này dùng chữ “hoạn đắc hoạn thất’ trong sách Luận ngữ [Phan Khôi].
(4). Tô Đông Pha là Tô Thức, người đời Tống bên Tàu. Ông ấy có một người em tên là Tô Triệt, tên chữ là Tử Do. Hai người cùng có văn chương đức hạnh có tiếng thời ấy, mà ở với nhau thân thiết lắm [Phan Khôi].

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: