Chú Thập Sắt – truyện ngắn của Nguyễn Liệu

Chú Thập Sắt.

Truyện ngắn của Nguyễn Liệu

Phía Nam cầu sông Vệ theo con đường xuống biển độ 5 cây số, đó là làng chánh quán của chú Thập Sắt.

Dân trong làng lớn nhỏ già trẻ ai ai cũng gọi chú là chú Thập Sắt. Chú họ Hồ tên Sắt, người con trai thứ 10, và cũng là người con trai duy nhất, vì anh chị em chú, trừ một đứa em gái, đều chết chưa đầy một tuổi. Người trong làng gọi đùa chú là chú Thập Sắt cái tên lạ lạ, thấy hay hay rồi trở thành thói quen. Có rất nhiều chuyện về chú, và chuyện nào cũng đặc biệt, thiện có, ác có, chung qui nghe rất ly kỳ. Không biết trong cái làng có lắm người giàu, có học hành, thêm bớt thế nào mà câu chuyện về chú Thập Sắt kể đi kể lại luôn luôn muốn nghe, và chú cũng có những chuyện hay hay cho từng thành phần tuổi tác, và quan niệm sống khác nhau trong làng.

Người già cả, người có một lần biết Sài gòn lục tỉnh thời Pháp thuộc trước năm 1945 họ rất hãnh diện khi kể chuyện chú Thập Sắt giết chết ông quan một người Pháp ở cầu chữ Y.
Năm 1942 Sài gòn còn nhỏ lắm, chỉ có khu phố chung quanh chợ Bến Thành và phố Tàu ở Chợ Lớn, ngoài ra tuy có đường nhựa, có trụ đèn điện, nhưng còn hoang vu nhất là về đêm. Đầu cầu chữ Y phía Sai gòn , một đồn lính lê dương trấn giữ. Quan một Henry người Pháp làm trưởng đồn. Vì thế tuy xa cách trung tâm Sai gòn nhưng ban đêm khu này an toàn, dù có ồn ào náo nhiệt vì vài cái quán ăn, quán rượu của người Hoa kiều, có gái điếm, có khách làng chơi, nhất là lính tráng.
Chú Thập Sắt năm ấy 15 tuổi, theo bà cô trong họ vào Sài Gòn để học nghề, nhưng chú bỏ nhà bà cô trốn theo bọn du đảng ở Chợ lớn. Cuộc đời chú theo bà cô vào Sai gon, rồi bỏ học nhập bọn du côn Hoa kiều Chợ Lớn, có thể viết thành sách. Nhưng người lớn tuổi chỉ thích thú chuyện chú giết quan một người Tây trong quán rượu.

Henry tướng người cao lớn, nhất là cái bụng phệ không còn cách gì phệ hơn. Vì bụng phệ nên hai tay như ngắn lại, trông gã có vẻ lùn hơn, nhưng thật sự gã không lùn, còn cao hơn lính đồng bọn trong đồn của gã.
Mười đêm như chục, đúng 10 giờ khuya gã mới mò ra quán rượu gần cổng đồn uống lệ nhệ đến quá nửa đêm mới về đồn. Vì thế cái quán rượu này trước mười giờ rất đông khách, phần lớn cũng là lính . Mỗi người lính thường kẹp theo cô gái làng chơi nên quán đông đúc ồn ào. Đến 10 giờ, quan một Henry bước vào, thì lính thuộc hạ từ từ biến mất, quán vắng trống trơn. Chủ quán đành chịu vậy, nhưng bù lại ban ngày và trước mười giờ đêm, lính ra vào tấp nập, họ trả tiền khá sòng phẳng, tiền “ buột boa” đều đều.

Chú Thập Sắt xin được chân rửa chén trong quán rượu của người Hoa kiều này. Chú làm việc từ 12 giờ trưa đến khi quán đóng cửa. Tuy tuổi 15 nhưng chú như người thanh niên trên mười tám hai mươi. Khỏe, cao, các bắp thịt đẫy đà như dân lao động nặng. Tóc quắn, da đen láng như dân châu Phi. Cặp mắt to hơi xếch trông có vẻ hơi dữ tợn. Con rồng xanh đậm chạm trên cánh tay phải, và nhiều vết thẹo đủ nói lên tuy còn con nít, nhưng thành tích giang hồ chú đã được đáng kể.

Chủ quán độ năm mươi, người béo tốt, đầu tóc hớt trụi trông như một tên hề trên sân khấu, nhưng khuya quá, suốt ngày, từ ba giờ sáng, mệt mỏi, chú muốn đóng cửa ra về nhưng không dám tỏ thái độ bất bình với vị quan một. Ngồi trong quày trả tiền chủ quán gục đầu trên chiếc bàn toán ngái ngủ. Người làm việc trong quán ra về từ sớm, chỉ còn lại chú Thập Sắt và ông chủ quán. Chú chưởi thề :
“Đụ mẹ, chịu hết nổi, thằng chó này tới số rồi.”
Chú Thập, chăm chăm nhìn vào cái cồng tấc điện ở bên trái nơi cửa chính ra vào.
Ba cô gái giang hồ tiếp tục đổ bia vào cái ly cối lớn trước mặt ông quan Tây say túy lúy. Trên bàn đống vỏ chai nằm ngổn ngang. Tiếng ngáy khò khò đều đều của chủ quán không át được tiếng Tây bồi đùa dỡn mơn trớn lố lăng của ba cô gái.

Chú Thập Sắt rón rén kéo nhẹ ngăn kéo hốt nắm tiền bỏ vào túi, lẹ làng rút con dao lớn chuyên chặt xương bò, chạy thẳng đến phía sau quan một . Một nhát mạnh vào cổ, người đàn ông to lớn chỉ kịp ré lên một tiếng, cái đầu lìa cổ rớt ngay xuống cái bàn đầy vỏ chai, máu tung toé như giếng phun. Ba cô gái sửng sốt, chết điếng, bất động. Đèn vụt tắt. Chú Thập Sắt phóng nhanh ra cửa trước, cắm đầu chạy qua bên kia cầu chữ Y mất dạng trong đêm khuya. Tránh nơi có ánh đèn, tránh con đường lớn, chú chạy bán sống bán chết về hướng trước mặt. Chú kể lại, toàn là đường vắng vẻ hoang vu sình lầy. Thế mà, hơn một tháng sau, chú lần mò về được quê nhà.

Lớp người có đầu óc cấp tiến rất thích thú kể đi kể lại chuyện chặt đầu tên thực dân Pháp và chuyện nhận nước viên hương kiểm trong làng.
Nhân cụ Tuần vũ quan đầu tỉnh về thăm làng, quan tri huyện chỉ thị cho lý trưởng tổ chức cuộc thi bơi trong xã để chào mừng quan lớn.
Chương trình tổ chức đúng 10 giờ sáng, nhưng từ tờ mờ sáng dân làng tấp nập kéo ra bờ sông để chiếm chỗ thuận tiện vừa xem bơi đua, vừa xem quan lớn ngồi trên khán đài thiết lập trên bờ sông. Số thanh niên dự thi kể các làng xã lân cận đông lắm, chen chúc bơi lội tập vợt nước tung toé trắng xóa, nhộn nhịp, ồn ào náo nhiệt cả một khúc sông. Cờ xanh đỏ tím vàng căng trên mực nước làm đường ranh cho cuộc đua bơi khá hào hứng và hiếm có này. Hình như trên mười lăm năm nay mới có cuộc đua bơi hào hứng quan trọng như thế này, nên dân làng nghỉ việc đồng áng đến xem đông nghịt không còn chỗ chen chân. Vì quan lớn đến trễ, nên đến quá canh trưa vẫn chưa khai mạc cuộc thi đua thể thao này. Một số dân làng ra về. Đám thanh niên từ sáng đã lặn lội đùa dỡn bơi lội dưới nước đều lên bờ ngồi phơi nắng, mặt tái tím vì lạnh, có người run lập cập, nhưng vẫn chưa tới giờ khai mạc cuộc tranh tài. Người đi xem người dự thi ra về khá đông dù loa trên khán đài luôn luôn loan báo giờ khai mạc cuộc thi đua hào hứng hiếm có này sắp bắt đầu.

Gần ba giờ chiều đoàn xe quan tuần đến. Quan tuần, quan phủ, và một số quan Tây ngồi đông đủ trên khán đài. Thầy lý trưởng bối rối ra lệnh cho viên hương kiểm đôn đốc cuộc thi. Tiếng loa gọi lớn báo cho số thanh niên dự thi bắt đầu ra đường mức chờ lệnh. Tiếng loa nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhưng không thấy một bóng thanh niên nào bước ra mức khởi hành. Tuy tiếng loa gọi không dừng, nhưng vẫn không có một người nào dự thi bước ra. Viên hương kiểm cũng như là ban điều khiển cuộc thi, bối rối, sợ sệt, tức bực, cầm roi bước xuống khán đài, đánh những người ngồi trên hai bờ sông thúc dục họ bước ra dự thi, dù lớn tuổi, dù không có ghi tên trước. Tiếng loa nhắc đi nhắc lại có nhiều giải thưởng có giá trị, nhưng số có ghi tên dự thi vì ngâm nước lâu quá, đang phơi nắng cho bớt lạnh, phần đông đã bỏ cuộc, và vì quá trưa đói bụng. Một số người bị viên hương kiểm đánh đau sợ sệt bước ra đường khởi hành cuộc thi, một số né tránh bỏ chạy làm đám người đứng chờ xem hổn loạn.
Chú Thập Sắt bị một roi vào đầu đau quá, chú liền ôm choàng viên hương kiểm nhảy đại xuống nước. Lẹ làng bất ngờ quá làm viên hương kiểm không kịp đối phó, hai người vật lộn dưới nước. Đám đông dân chúng đang sợ sệt rối loạn bỗng vỗ tay như pháo nổ, hoan hô, la hét chứng kiến cuộc vật lộn của hai người dưới nước. Trên khán đài, tất cả quan khách đều đứng dậy vui vẻ vỗ tay khích lệ cuộc tranh tài đô vật dưới nước, duy có thầy lý trưởng biết rõ đó là sự đánh lộn ẩu đả mất dạy của tên nào đây, chứ chương trình không có cuộc đua vật lộn dưới nước vô trật tự như thế này.
Thầy lật đật bước xuống lấn chen trong đám đông chạy đến nơi thì chú Thập Sắt đã nhảy lên bờ chạy cút mất dạng. Tiếng vỗ tay vang dội cả một khúc sông.
Xác người hương kiểm chìm sát đáy sông. Quan huyện khi biết được sự thật liền đứng dậy xin lỗi quan tuần vũ và các quan khách, các thông ngôn đang ríu rít dịch cho các quan Tây sự việc đã xảy ra bất thường nên đành giải tán. Quan tuần vũ không nóng giận, không bực bội quở trách, trái lại cười vui nói với quan huyện xem vật lộn dưới nước lý thú hơn cuộc bơi đua.
Ông hương kiểm được vớt lên cấp cứu, và được võng về nhà dưỡng bịnh. Dân làng bàn tán phấn khởi, họ bảo giống như quan tuần, xem vật lộn dưới nước lý thú hơn xem bơi đua. Một số người bỏ về trước tiếc rẻ không được xem cuộc vật lộn bất ngờ lý thú như thế.

Thầy xã trưởng có bà con với gia đình chú Thập Sắt nên chỉ khuyên cha mẹ chú sắm lễ vật đi với ông đến tận nhà viên hương kiểm chịu tội và xin lỗi. Chú Thập Sắt biến khỏi làng ba bốn ngày sau mới trở về.

Chuyện cứu đói của chú Thập Sắt làm cả làng, nam phụ lão ấu, đều mến phục lòng hào hiệp hiếm có của chú.
Năm 1944, năm hai triệu người chết đói. Người phương Bắc từng tóp, từng đoàn, nối nhau lê lết vào Nam ăn xin, vì năm ấy đê điều bị thiên tai phá vỡ, mùa màng không thu hoạch được. Bọn phất xít Nhật dùng lúa thế than đá chạy đầu máy xe lửa. Nhà cầm quyền bắt dân bỏ cấy lúa để đất trồng cây đay làm bao tải cung cấp cho quân đội Nhật. Dân chúng trải qua trận đói kinh khủng.
Cha mẹ chú thập tuy là phú nông, không phải địa chủ, nhưng hàng năm thu hoạch khá nhiều vì gia đình nổ lực trực tiếp canh tác. Chánh quyền kêu gọi dân chúng tiết kiệm để chống đói.
Một hôm cha mẹ, và đứa em gái chú Thập Sắt sang bia kia sông ăn giỗ phía họ hàng ngoại. Chú Thập ở nhà thấy ngoài đường người lê lết ăn xin thảm thiết.Chú liền mở cổng ngõ gọi vào. Người đói khổ bước vào đứng chật sân nhà. Chú liền mở cửa kho lúa và phát cho mỗi người độ nửa an lúa. Tin tức mau chóng số người ăn xin càng kéo đông vào sân nhà và lảnh lúa đi ra.
Bà mẹ chú Thập kể lại :
“Ăn giỗ xong thường thường chúng tôi ở lại ăn cúng “ hậu thường” chiều đó, rồi mới về nhà. Hôm ấy tự nhiên tôi thấy trong người khó chịu, hơi muốn xây xẩm mặt mày, muốn ói mửa, cặp mắt lại nháy luôn, tôi bảo nhà tôi nên về sớm đừng chờ ăn tối. Nhà tôi không nghe mải mê nói chuyện với bà con về dự đám giổ chính trong họ. Năm nào cái giỗ này cũng lớn lắm, có khi làm cả bò vài con heo mới đủ đãi khách. Tôi không hiểu trời khiến sao ông nhà tôi ổng lại chiều ý tôi, có lẽ ổng thấy tôi muốn ói mửa mặt tái mét, nên chúng tôi ra về.
Tời đất quỉ thần ơi ! Tôi vừa đến cổng ngõ, người ta trong vườn trong sân đông như kiến, toàn là bọn ăn mày, ăn xin ,rách nát, đang khuân những bao đựng lúa, có người bỏ vào cái quần áo rách gói lại. Lúa đổ rới rớt trên lối đi vào nhà. Nói có Trời, ban đầu tôi tưởng bọn đói cướp phá ban ngày, nên tôi hoảng quá la làng kêu cứu. Ông nhà tôi ổng la lớn “Trời ơi thằng con trời đánh thánh đâm nó phá nhà, nó mở kho lúa cho người ta vào hốt, trời ơi là trời, ông vừa la vừa giựt lại các bao lúa người ta cầm trên tay, làm đám đông lật đật kéo nhau đùm túm chạy mau ra đường cái quan.” Bà cười kể tiếp :
“ Cũng may về kịp, còn phần kho lúa, nếu trễ thì có lẽ chúng tôi cũng phải dắt nhau đi ăn xin. Thằng con bỏ trốn ba bốn ngày mới dám ló đầu về nhà, tuy vậy ông nhà tui ổng vẫn cưng nó, không dám la sợ nó đi hoang không về.”
Câu chuyện phát lúa cho người đói rách của chú Thập Sắt làm cho mọi người ai ai cũng mến thương phục chú vì chưa có ai làm được như vậy.

Năm khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám chú Thập Sắt đúng 18 tuổi. Chú gia nhập đoàn vệ quốc quân. Cha mẹ chú khóc lóc không muốn đứa con trai một bỏ nhà đi lính, nhưng quá trễ, vì khi toán lính chú lên xe lửa vào Nam tham gia mặt trận đầu tiên chống thực dân Pháp ở đập Đồng Cam Phú yên, thì gia đình chú mới hay tin chú nhập ngũ.

Đại đội xung phong của chú lấy tên đoàn quân cách mạng Lê trung Đình, một lãnh tụ chống Pháp người Quảng Ngãi. Chưa tới một nửa đoàn quân có súng, còn phần nhiều cầm dao bảy hay cây gậy. Chú thập Sắt lãnh cây gậy, và chú tự tin vì chú rành các môn quyền côn thuộc môn phái Tây Sơn Bình Định. Người ta đồn rằng khi chú múa cây côn tến bắn không lọt được. Đoàn quân Lê trung Đình phục kích đoàn cồng- voa quân thực dân Pháp trên đường núi từ ga La Hai lên đồn Xuân Phước. Cuộc phục kích thất bại đoàn quân vệ quốc bị thiệt hại nặng, nhưng chú Thập Sắt lập được công to. Chú cầm gậy đuổi theo tên lính tây đen vác khẩu súng trung liên chạy ra khỏi bãi mìn. Người lính Tây hoảng hốt cắm đầu chạy,không dám quay súng lại. Chú Thập Sắt bám sát con mồi sả gậy vào đầu tên lính đang tẩu thoát. Hoảng hốt người lính quỳ xuống dơ cao tay đầu hàng. Vác khẩu súng trung liên, dắt người tù binh máu mê đầy người về bộ chỉ huy, chú Thâp Sắt được tuyên dương công trạng. Hình chú vác chiến lợi phẩm dẫn tù binh lính Tây được các tờ báo lớn in trang nhất. Tấm hình chiến thắng vẻ vang này được các tờ báo lớn ở nước ngoài in trang nhất, một thắng lợi lớn cho đoàn vệ quốc Lê trung Đình, cho vệ quốc quân toàn quốc Việt nam, tuy cuộc phục kích đó hao hụt hơn nửa số quân. Tấm gương anh dũng người chiến sĩ vệ quốc quân đó được loan truyền học tập khắp quân dân trong nước. Nhưng chú Thập Sắt lại trở về quê tự giải ngủ. Dân làng rất hãnh diện về chú.

Trong đám nông dân ít học trong khi làm việc ngoài đồng ruộng, khi tụ tập trong các chòi canh ban đêm để canh gác trong làng, thường kể đi kể lại những chuyện ăn chơi hoàng đàng của chú Thập Sắt. Những chuyện chú “ chạy làng” các sòng bạc, việc phá các cuộc đá gà đang gây cấn sát phạt, những vụ đánh trọng tài khi đội bóng đá gà nhà của chú bị thua, những chuyện lột quần gái điếm vác chạy hàng mấy cây số, chuyện phá rạp hát bội ở làng bên cạnh. Thiệt hư không biết như thế nào nhưng người kể chuyện tùy hứng cứ thêm thắt vào cho lý thú, nên càng ngày chú càng trở nên con người đặc biệt, loại “ súp bơ mên”.
Mỗi khi chú đến sòng bài người chủ sòng mời chú điếu thuốc và năn nỉ : “để anh em kiếm chút cháo nghen chú Thập” chú Thập cười đốt điếu thuốc thế là an toàn không sợ có gì xảy ra. Rước gánh hát về làng, thầy lý trưởng cùng người chủ gánh hát, việc đầu tiên đi tìm chú Thập nói một tiếng, thì cuộc vui trình diễn không có gì trở ngại.

Chú treo cổ tên ăn trộm lừng danh như trong phim cao-bồi
Mỗi lần quan trên mãn án ân xá cho thằng Tạo, là cả huyện những nhà kha khá đều lo lắng đêm không ngủ được. Thằng Tạo về ! thằng Tạo về ! dân làng này đồn qua làng kia, bên này sông bên kia sông đều lo lắng. Có những nhà thận trọng cất bộ lư đồng, đèn đồng trong tủ, trong rương, ban đêm nằm chận trên nắp rương, cửa đóng kỹ khóa kỹ, đêm hôm nghe tiếng chó sủa người già cả ít ngủ sẻ thức kêu con cái thức dậy đề phòng. Thằng Tạo bên kia sông là tên trộm lừng danh từng vào tù ra tội, nhưng hắn được tha ngày trước thì lập tức đêm sau ít nhất cũng hai ba nhà bị mất trộm. Người ta đồn rằng thằng Tạo có phép tàng hình và biệt tài về “ ẩn bóng”. Người ta đồn rằng thằng Tạo có luyện ngải Miên, có bùa Hời, nên dù dao chém sắt như chém bùn nhưng không hề hấn gì vào da thịt nó. Nhưng có một điều chắc chắn là nó chạy rất nhanh, rất khỏe, nó đã từng biểu diễn cho bà con trong xóm xem nó chạy trên đất ải cứng vào mùa hè, nó chạy đứng tóc, như cái bóng vút qua. Mọi người đều lo lắng không biết hiểm họa đến cho nhà mình đêm nào.

Chú Thập Sắt, đêm khuya trời tối như mực mài, ngữa bàn tay không thấy, ra bờ sông sát mé nước nằm chờ. Nhà thằng Tạo bên kia sông. Quá khuya, một bóng người trong xóm chú bước ra bờ sông để lội nước qua bên kia. Chú Thập Sắt nghi ngờ đó là thằng Tạo con mồi chú chờ đợi suốt mấy giờ đồng hồ. Đợi bóng người lội nước sâu gần khuất quần, chú Thập Sắt phóng tới vừa la lớn : “ Tạo ! Tạo !”. Người ăn trộm hoảng hốt ném gói đồ mang trên vai, lặn xuống nước, nhưng không kịp. Hai người vật lộn dưới nước trong phút chốc rồi yên lặng, thằng Tạo chết ngợp dưới bàn tay thép tàn ác của chú Thập Sắt. Chú kéo xác thằng Tạo vào công viên trên bờ sông, treo cổ xác chết trên cành cây cổ thụ như người chết thắt cổ. Chú đặt bao vải chứa đồ ăn trộm ướt sũng dưới chân xác chết để sáng ngày ai mất thì nhận về. Tuy không ai nói ra nhưng dân làng biết treo cổ thằng Tạo ngoài chú Thập Sắt không còn ai đủ sức làm. Cũng có người hỏi chú về những việc chú làm thì chú chỉ cười đáp “ Ba chuyện ruồi bu mà”, không bao giờ chú kể lại những chuyện những thành tích chú đạt được dù thiện ác tốt xấu.

Năm hai mưoi tuổi chú có vợ. Vợ chú là một tiểu thư của quan đốc học hồi hưu giàu có bên kia sông. Cha mẹ chú Thập Sắt rất hãnh diện được làm sui với gia đình danh giá giàu có và nhất là đức độ ai ai cũng kính mến. Chưa kịp làm lễ phản diện, người ta đã thấy tám người trai tráng trong làng khiêng cáng chở cô dâu chạy khẩn cấp trên mười lăm cây số đến phòng cấp cứu bịnh viện lớn ở thị xã. Người nhà cho biết vì cô bị sốt rét ngã nước nặng, nhưng dân làng biết chắc, vui như một chuyện tiếu lâm. Vì danh giá của gia đình quan đốc học nên cha mẹ chú Thập Sắt thông cảm và mọi việc được giải quyết êm xuôi không có lời qua tiếng lại. Bạn bè thân chú Thập Sắt hỏi, chú vẫn một câu trả lời “ Ba chuyện ruồi bu.”

Năm 1954, chú Thập Sắt đi tập kết ra Bắc. Chú không đảng phái, không làm chánh quyền, không ai oán thù, không ân oán giang hồ trong điạ phương, thế mà dân làng ngạc nhiên thấy chú mang gói vào Qui Nhơn xuống tàu đi tập kết. Cha mẹ chú, em gái chú, nhất là mẹ chú, khóc hết nước mắt kéo áo chú trở lại, nhưng chú bảo đi hai năm cho biết Hà nội ba mươi sáu phố phường, rồi về, có gì mà khóc. Chú đã biết Sài gòn lục tỉnh rồi bây giờ cơ hội tốt không tốn một xu, đi cho biết Hà nội mà sao lại không đi.

Sau năm 1975, chiến tranh chấm dứt. Người đi tập kết sau hai mươi năm trở về, họ lại vui vẻ kể chuyện chú Thập Sắt.
Chuyến tàu hải quân Ba Lan chở đồng bào Quảng Ngãi tập kết ra Bắc, cập bến Vinh Thanh hóa. Trong lúc chưa ổn định chỗ ở, trong buổi phát gạo và cá khô cho cho đồng bào mới cập bến, có người cán bộ hách dịch ăn nói lỗ mãng ; “ Người miền Nam chỉ biết dành ăn, thiếu cách mạng tính, giai cấp tính”. Nghe nói chú Thập Sắt nóng run lên, chú liền nhảy đến nắm cổ người cán bộ ăn nói hổn láo, cho một quả đấm trời giáng vào mặt người cán bộ hách dịch này. Máu phun thành vòi, người cán bộ ré thét lên rồi ngã trên đống gạo, đoàn người chờ lãnh gạo vổ tay hoan hô như pháo nổ. Cảnh sát nổ súng giữ trật tự, xiềng tay chú Thập Sắt dẫn đi. Toán y tá cứu thương cấp cứu người cán bộ. Sau đó mới biết người cán bộ hỗn láo hách dịch là ông bí thư huyện, dân chúng kể cả đảng viên trong huyện rất oán ghét nhưng không dám tỏ thái độ. Cú đấm của chú Thập Sắt làm ông gãy tám cái răng và đui một mắt. Tòa án nhân dân xử kín chú Thập Sắt 12 năm khổ sai vì tội phản động chống phá cách mạng.

Chú Thập cải tạo đúng 12 năm, và vì ban chỉ đạo xét chú lao động tốt nên cho chú về, và giới thiệu chú vào làm việc trong hãng nấu rượu cho hãng rượu quốc doanh Thanh hóa, vì chú có kinh nghiệm trên mười năm nấu rượu cho ban giám thị nhà lao làm kinh tế tự túc.
Đặc biệt chú sáng tạo pha một liều lượng loại thuốc diệt rầy Mitox làm nồng độ rượu cao ngon, đem lại lợi tích lớn cho ban giám thị, đó là lời nhận xét của ông giám trị trưởng nhà lao chú cải tạo 12 năm. Làm trưởng ban kỷ thuật hãng nấu rượu chưa đầy hai năm thì chú lại bị ông giám đốc hãng đưa chú ra tòa lãnh 8 năm tù khổ sai vì tội tham nhũng.
Tỉnh ủy cho người về điều tra tham nhũng trong hãng nấu rượu, ông giám đốc đổ tội cho chú Thập, chú nổi điên đánh ông giám đốc trước ban điều tra mấy bạt tai, và chú bị ra tòa, nhưng bốn năm sau, phe ông giám đốc thất thế, thua phe trẻ mới học Liên Xô về, nên ông giám độc bị bãi chức và lãnh mấy năm tù vì tham nhũng, và do đó chú Thập Sắt được tự do.
Thế là chú Thập Sắt trong hai mươi năm tập kết ra Bắc, chú bị giam đúng 16 năm.!

Làng chú Thập Sắt ít người đi tập kết nhưng có vài người là cán bộ cao cấp. Một ông thiếu tướng công an và một ông thứ trưởng bộ giao thông vận tải. Hai vị cán bộ cao cấp này sau ngày đình chiến về thăm quê hương sớm nhất. Ông thiếu tướng đi cả một đoàn xe bốn chiếc có người bảo vệ về làng, nhà ông xưa kia là một túp tranh rách nát nay không còn nữa, và cũng không có bà con. Có lẽ dân làng thấy ông về sợ hãi nên không ai dám ra xem đoàn xe của ông, và ông hỏi gì họ cũng lắc đầu, xa lạ. Ông bí thư xã, chánh quyền xã mời ông vào cơ quan uống trà, rồi đoàn xe ra về.

Ông thứ trưởng về làng có vẻ khiêm nhượng lặng lẽ hơn. Bà cụ ông ngày xưa quét chợ ở ngay trong đình lều chợ, hai mươi năm sau ông về mẹ già đã qua đời, xe ông dừng nơi chợ, trẻ con bao quanh xem chiếc xe hơi bóng loáng. Ông bước xuống chợ không dấu được nỗi xúc động. Người vợ trẻ ăn mặc sang trọng kiểu cách ngồi trong xe, chụp mấy tấm hình chung quanh chợ. Một lát, xe quanh trở lại ra khỏi làng.

Chú Thập Sắt đi tập kết về ! Bà con ơi Chú Thập Sắt về ! trẻ con đầu làng la rống lên vì người lớn chạy ra bến đò đón chú Thập Sắt hai mưoi năm xa cách. Chú ốm gầy hẳn, tóc bắt đầu hoa râm, nhưng cặp mắt sắc, và cái miệng hay cười của chú không thay đổi.
Chú Thập Sắt về ở nhà cha mẹ chú ngày xưa. Ngày nay, cha mẹ chú qua đời, người em gái làm chủ ngôi nhà đó. Bà con trong xóm làng, già trẻ trai gái đều đến thăm chú. Biết tánh anh, người em gái vui mừng mua rượu ngon, mực khô và đậu phụng rang, để ông anh lâu ngày về tiếp khách. Trong vài ba tuần đầu nhà chú lúc nào cũng đông khách. Những người nghèo khổ nhất trong làng cũng được chú ân cần hỏi thăm.
– Chị chín Đào chuyên quét chợ còn không bác
– Nó qua đời lâu rồi chú, nó chết thảm lắm vì không chịu đi tản cư, nên hai bên đánh nhau nó bị đạn máu ra nhiều quá, chết nửa đường đi nhà thương
– Còn bà Tồn em chú bảy Sum ?
– Bà đó ở mướn cho người ta ngoài Tam kỳ rồi thằng Cháu thằng Vầy chú còn nhớ không, nó làm tới đại tá, về chở bả là cô ruột nó vào Sài Gon nghe nói bả già yếu lắm rồi
– À thằng Trì con bà Ta ra sao bác ?
– Nó tử trận rồi, nó đi lính biệt động, rồi nghe nói nhảy đâu ngoài Lạng sơn Cao Bằng và mất tích luôn. Nó có vợ có hai đứa con trai.

Có người nhớ lại ngày đi tập kết người em gái thường cho biết anh tôi vì muốn biết thủ đô Hà nội nên đi tập kết chứ ảnh có chính trị chính triết gì đâu, có đảng phái có đấu tố ai đâu mà sợ phải đi trốn ra Bắc, nên hỏi chú :
“ Ra Bắc thấy Hà nội ra sao chú ?
– Tôi đâu có tới được Hà nội, chỉ lẫn quẩn ở Thanh hoá hai mươi năm rồi về đây thôi.
– Nghe mấy ổng về nói chú đánh ông bí thư huyện vì ổng chưởi dân miền Nam hả chú ?
– Chuyện ruồi bu mà…

Được nửa năm, chú thập Sắt làm một nhà tranh bên góc vườn, dưới bóng cây đa rậm rạp, sát con đường có tráng nhựa từ Sông Vệ chạy xuống biển An chuẫn. Phòng ngoài rộng có thể kê được 4 cái bàn, chú làm quán rượu, phòng trong là phòng ngủ. Quán mở cửa từ trưa đến tối, buổi sáng chú nấu rượu đế.
Tấm vách ngoài, dùng sơn màu xanh, chính tay chú viết “Quán Phá Thành Sầu
Phía dưới, chữ nhỏ hơn : không tiền không trở ngại, xin mời vào lai rai.
Uống rượu với đậu phụng rang hoặc củ kiệu, các thứ chua, chỉ có thế thôi.

Một hôm ông bí thư xã và một số ủy viên xã đến thăm chú, uống rượu. Ông bí thư vui vẻ hỏi :
“ Chú giảng cho chúng tôi nghe ý nghĩa mấy chữ ‘ quán phá thành sầu’ , cháu nghĩ hoài không ra.
Chú Thập Sắt cười trả lời :
“ Không nói các chú cũng biết, tôi đâu có học hành gì, nhưng khi nhỏ thường nghe ông già tôi ổng thường lai rai với mấy ông già bạn của ổng, rồi khi cao hứng ổng ngâm nga, nên tôi còn nhớ thút mút câu “ Dục phá thành sầu duy hữu tửu” nên tôi lấy ba chữ phá thành sầu để đặt tên cho quán và cũng để nhớ lại ông già tội nghiệp.
-Nhưng câu đó nghĩa là sao chú ?
– Câu đó có nghĩa là chỉ có rượu mới phá được cái sầu cái buồn cái chán của con người.
Ông bí thư gật gật đầu hiểu được câu thơ của người xưa.

Quán của chú bán giá vốn, ai có sẵn tiền thì trả, không tiền thì thôi, hoặc khi có dịp sẽ trả. Với những người già cả ra quán uống vài ly cho dãn xương dãn cốt, chú không lấy tiền, còn mời bảo năng ra uống cho vui. Vì thế những người lớn tuổi người già cả thường đến quán chú uống lai rai. Một hôm có đám học sinh đem mực khô ở nhà đến quán chú mua rượu uống, chú không bán còn khuyên bảo học sinh còn nhỏ không nên uống rượu. Tin này loan ra ngoài làm cho dân chúng càng kính nể chú.

Hết
( trích trong tập truyện ngắn BÊN KIA ĐÈO của Nguyễn Liệu Amazone xuất bản Amazone.com)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

<span>%d</span> bloggers like this: