Ngô Nhân Dụng: Biden đối đầu với Trung Cộng cách nào?

Ngô Nhân Dụng: Biden đối đầu với Trung Cộng cách nào?

Vào thế kỷ 15, Trung Quốc đứng đầu thế giới về kinh tế, quân sự. Các triều đình Minh, Thanh còn cả “sức mạnh mềm” nhờ ảnh hưởng trên các nước láng giềng. Từ thế kỷ 19, Trung Quốc đã suy sụp. Hiện nay Tập Cận Bình cổ động cho “Trung Quốc Mộng” để tái lập vai trò bá chủ cũ. Mỹ và Trung Quốc sẽ tranh giành ảnh hưởng trên thế giới trong một thế hệ tới, nếu không nói là trong cả thế kỷ 21.
Trong cuộc cạnh tranh này, một nhược điểm của nước Mỹ là chính sách ngoại giao luôn thay đổi. Chính phủ Mỹ lên xuống theo chu kỳ các cuộc bầu cử. Các đảng chính trị, Cộng Hòa và Dân chủ, phải chiều theo dư luận dân chúng vì nhu cầu tranh cử. Mà dân Mỹ thường chỉ nhìn vào các vấn đề thiết thực của họ, không coi các chính sách ngoại giao là quan trọng. Mỗi chính phủ mới lên lại có thể đảo ngược các chính sách bang giao, khiến người ta cảm thấy nước Mỹ không có một chiến lược lâu dài.
Điều may mắn là hiện nay tất cả mọi người Mỹ đều coi Trung Cộng là một đối thủ lâu dài, nguy hiểm nhất. Điều này được thể hiện rõ ràng trong quốc hội; cả hai đảng suy nghĩ giống nhau, đồng ý phải đối phó với Trung Cộng. Những đối thủ nhỏ như Iran, Cuba, đáng quan tâm nhưng không đáng sợ. Còn nước Nga, hiện càng ngày càng đi xuống, dù bên ngoài vẫn làm ra vẻ mạnh.
Những vụ “tin tặc” (hackers) xâm nhập vào máy điện toán của các công ty và chính quyền Mỹ, mà mọi người coi chỉ có guồng máy gián điệp của Nga mới có khả năng thực hiện, cho thấy Vladimir Putin cũng nguy hiểm không khác gì Tập Cận Bình. Nhưng hành động len lỏi vào các hệ thống điện toán để có thể làm tê liệt, hoặc điều động theo ý muốn, để nhắm vào mục tiêu nào? Gián điệp Nga có thể phát ra các lệnh làm xáo trộn hoạt động của các ngân hàng, các nhà máy điện, hải cảng hay phi trường, cho đến cơ quan nguyên tử lực ở Mỹ; nhưng sau đó họ sẽ làm gì để có lợi cho nước Nga và chính quyền Nga?
Những hoạt động phá hoại quy mô đó chỉ có lợi cho Nga nếu một cuộc chiến tranh toàn diện giữa hai quốc gia. Mà chắc chắn ông Putin không muốn điều này xảy ra; bởi vì cuối cùng chỉ có Trung Cộng hưởng lợi. Vì thế, đối thủ lớn nhất của Mỹ trên thế giới vẫn là Trung Cộng.
Cuộc cạnh tranh giữa hai cường quốc sẽ có tính cách toàn diện, nhưng quân sự không phải là mặt quan trọng nhất. Nước Mỹ đã thắng trong cuộc chiến tranh lạnh thế kỷ trước là do sức mạnh kinh tế và sức hấp dẫn của lý tưởng tự do. Điều này tới nay vẫn đúng. Sức mạnh lâu dài của nước Mỹ là “sức mạnh mềm,” biểu hiện trong lối sống của một “xã hội mở” người dân được sống tự do. Sức mạnh mềm này chỉ có thể được thi thố khi nước Mỹ tạo được niềm tin của các dân tộc khác, các quốc gia khác. Cho nên bên cạnh cuộc chạy đua kinh tế, Mỹ phải liên kết mạnh hơn với các dân tộc cùng theo chế độ dân chủ tự do, vượt lên trên những xung khắc quyền lợi nhất thời.
Trên mặt kinh tế, Trung Cộng có một chiến lược lâu dài. Tập Cận Bình đã cổ động cho kế hoạch Một Vành Đai, Một Con Đường, khai thác các quặng mỏ ở châu Phi và gia tăng trao đổi với các nước châu Mỹ La Tinh.
Trung Cộng đã chiếm chỗ của Mỹ, trở thành nước giao thương lớn nhất với vùng Nam Mỹ, ngoài Mexico. Năm 2019, các nước này trao đổi $223 tỷ hàng hóa với Trung Cộng, chỉ có $198 tỷ với Mỹ. Trung Cộng đã cho các nước trong vùng vay nợ nhiều tỷ đô la, trong chiến lược dùng tiền nợ để ràng buộc lâu dài mà Bắc Kinh đã áp dụng khắp thế giới. Trung Cộng nhắm vào các quặng mỏ đồng trong vùng núi Andes, mua nông sản và thịt của Argentine và Brazil. Cựu tổng thống Bolivia, ông Jorge Quiroga nói, “Người ta hỏi tôi thích Mỹ hay Trung Quốc hơn, tôi trả lời: Brazil! Lại hỏi tôi, sau Brazil là nước nào, tôi nói, Trung Quốc!” Chính phủ mới ở Mỹ phải xét lại những mối bang giao này.
Tại châu Á, sau khi chính phủ Mỹ rút ra khỏi thỏa ước Hợp tác Á châu Thái Bình Dương (TPP), bây giờ Mỹ không thể trở lại tham dự thỏa ước mới thay thế TPP dù 11 nước còn lại vẫn giữ. Vì họ sẽ đặt ra các điều kiện mới mà quốc hội Mỹ không thể chấp thuận. Trong khi đó Trung Cộng đã xúc tiến để ký kết thỏa ước RCEP với các nước Đông Nam Á cùng Nam Hàn, Nhật Bản, Australia và New Zealand. Nhưng RCEP là một thỏa ước sơ sài và rất yếu, cho nên Mỹ vẫn có thể xúc tiến việc liên kết với các quốc gia Á châu để tạo một liên minh kinh tế mạnh hơn. Điều này có thể thực hiện được nếu chính phủ mới ở Mỹ tỏ ra thiết tha muốn nối chặt lại các quan hệ thương mại. Và các nước Á Đông đang trông đợi dấu hiệu đó.
Cạnh tranh kinh tế trong thời gian tới sẽ là một cuộc chạy đua kỹ thuật, trong các lãnh vực viễn thông và trí khôn nhân tạo. Nước nào mạnh hơn sẽ dẫn đầu thế giới trong việc ấn định các tiêu chuẩn cho các nước khác cùng theo. Nếu Mỹ thắng thế, các chế độ dân chủ sẽ thắng, nếu Trung Cộng mạnh hơn, quyền tự do của các dân tộc đều bị đe dọa.
Trong hai năm qua, chính phủ và quốc hội Mỹ đã chú trọng tới mặt trận này khi dùng các biện pháp ngăn chặn không cho các công ty Trung Quốc như Huawei chiếm lĩnh thị trường viễn thông 5G ở Âu châu cũng như trong các nước khác. Mỹ đã được các nước Âu châu ủng hộ trong kế hoạch không cho các công ty Trung Cộng xâm nhập, vì quyền lợi của chính họ.
Một lợi thế của Mỹ là Trung Quốc hiện nay còn lệ thuộc vào việc nhập cảng chất bán dẫn (semiconductor) để chế tạo các chip điện tử hiện đại nhất. Mỹ còn tiếp tục giữ được lợi thế này trong hàng chục năm tới. Mỹ đã cấm các công ty Mỹ, và các công ty Âu châu, Úc, Nhật Bản, Nam Hàn, vân vân đang dùng đồ của Mỹ, không được cung cấp các chip mạnh nhất cho Huawei và ZET. Ấn Độ cũng cấm các công ty lớn Trung Cộng như Alibaba, TenCent, TikTok. Nhưng chiến thuật này không thể tiếp tục về lâu về dài. Các xí nghiệp sẽ tìm cách “xé rào,” có thể mở ra những trung tâm nghiên cứu và sản xuất trong lục địa Trung Hoa, giúp Trung Cộng thoát nạn và phát triển thêm.
Chính quyền mới ở Mỹ sẽ phải áp dụng một chiến thuật cô lập hóa Trung Cộng bằng cách liên minh với các nước hiện đang dẫn đầu về chất bán dẫn và chế tạo chip. Khi Mỹ và một số nước như Đài Loan và Nam Hàn đồng ý lập một hàng rào kỹ thuật ngăn cản Trung Cộng, thì hiệu quả sẽ chắc chắn và vững vàng hơn.
Nhưng chính phủ Mỹ làm cách nào biện hộ cho cuộc liên minh này, khi các nước khác thấy chính họ bị thiệt hại về kinh tế?
Một cách thuyết phục các đồng minh đó là nhu cầu liên kết giữa nước tự do dân chủ trước mối đe dọa của chế độ cộng sản Trung Hoa đang làm sống lại tham vọng đế quốc ngàn đời.
Chính phủ Mỹ cần chứng tỏ cho các nước Đài Loan, Nhật Bản, Úc, Nam Hàn và các nước Âu châu rằng các quốc gia dân chủ cần đoàn kết trước mối đe dọa của một nước độc tài đàn áp dân Tây Tạng, Tân Cương, lại nuôi giấc mộng khuynh đảo thế giới.
Nước Mỹ phải làm sống lại niềm tin vào chế độ tự do dân chủ, trong lòng người dân các nước đồng minh ở Á châu. Chế độ dân chủ mang một nhược điểm nội tại, không thể thay đổi được, là lúc nào cũng chứa đựng các mối xung đột, có khi sinh ra chia rẽ gay go. Nhưng chế độ dân chủ có một sức mạnh là luôn luôn biết cách tự cải thiện để tiến tới. Cuộc bầu cử ở Mỹ vừa qua cho cả thế giới thấy là ngay cả khi người ta chia rẽ trầm trọng, lúc người dân đã bỏ phiếu rồi thì thể chế dân chủ càng vững chắc hơn. Vì những nền tảng như chế độ phân quyền, tinh thần trọng pháp, vẫn còn, không thay đổi.
Cho nên, một nhiệm vụ của chính quyền mới ở Mỹ là củng cố niềm tin vào lối sống trong các “xã hội mở.” Các nước dân chủ ở Á châu sẽ là đồng minh lâu đời của Mỹ, sẽ hợp tác với Mỹ để mở rộng lối sống dân chủ tự do cho người dân các nước khác trong vùng được hưởng.
Đó là chiến lược bền bỉ mà nước Mỹ phải nắm chắc trong cuộc chạy đua kinh tế và thi thố sức mạnh mềm với một chế độ độc tài vẫn ôm giấc mộng đế quốc lâu đời là Cộng sản Trung Quốc.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: