Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 49

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 49

 

Sầu Ly Ai Oán (1)

 

Sầu Ly Ai Oán một bài thơ lục bát dài viết theo thể trường ca bi oán phỏng theo tâm trạng bà Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân khóc chồng là vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Bà Lê Ngọc Hân đã viết bài thơ song thất lục bát dài bằng chữ nôm với tên đề: “Ai Tư Vãn“. Tôi tạm giải nghĩa nôm na : Ai là ai oán, tư là riêng tư, vãn là than vãn.

Bài thơ khóc chồng cũng là một bản điếu văn đọc trước bài vị linh cữu vua Quang Trung.

 

Trong lịch sử Việt Nam có hai người khóc mà thành thơ. Đó là trường hợp anh chàng vệ quốc đoàn Hữu Loan khóc vợ được tôi miêu tả bằng bài thơ song thất lục bát dài. Tôi xin chép lại toàn bộ ra đây. Vì thấy tâm trạng nàng Ngọc Hân và chàng Hữu Loan rất giống nhau. Cả hai không chủ ý làm thơ mà chỉ vì do quá thương cảm đớn đau mà nghẹn ngào khóc ra thơ. Một người khóc vợ và một người khóc chồng

Thắp Nén Hương Sầu 

chuyển thể thơ Hữu Loan: Màu Tím Hoa Sim

 

Phận là gái ba anh bộ đội

Xa gia đình sớm tối chiến khu

Em trai  bé bỏng ngây thơ

Vẫn chưa biết nói mẹ già em thương

 

Tôi Hữu Loan người chồng vệ quốc

Đợi chờ em mái tóc còn xanh

Kết hôn ngày đẹp tháng lành

Không đòi áo cưới, yêu anh trọn đời

 

Tôi tranh thủ mấy hồi vội vã

Đôi giày đinh tầm tã hành quân

Bùn lầy lưá tuổi đang xuân

Em cười xinh xắn nồng nàn ngất ngây

 

Chàng độc đáo em say chới với

Tình vợ chồng đắm đuối yên vui

Cưới xong buồn bã hên sui

Mấy ngày nghỉ phép ngậm sang ngang

 

Cứ ái ngại tào khang nồng thắm

Gái có chồng ảm đạm hành trình

Cuộc đời vệ quốc chiến binh

Biết đâu vĩnh biệt khi mình hy sinh?

 

Cũng khối kẻ rập rình núi đỏ

Nắm xương tàn cổ độ trăng thu

Linh hồn lạc lối thâm u

Tìm người vợ trẻ mịt mù bi ai

 

Nhưng không chết người trai từng trải

Mà chết người em gái hậu phương

Em tôi một buổi bên sông

Cuốn trôi rờn rợn thê lương phũ phàng

 

Tôi xin phép về làng thăm mộ

Mẹ tôi ngồi bên hố thương đau

Chiếc bình hoa cưới úa màu

Muội tàn bám lạnh dãi dàu năm xưa

 

Thương mái tóc vẫn chưa tròn búi

Vội ra đi buồn tủi cơ hàn

Ái ân chưa trọn trăng tuần

Để anh côi cút tấm thân phong trần

 

Vẫn chưa thuả lời trăn ý trối

Dặn gì nhau lần cuối em ơi!

Ngày xưa đồi tím sương rơi

Áo em cũng tím lòng tôi ngẹn ngào

 

Tôi nhớ lại đèn khuya  huyền ảo

Một mình em vá áo cho chồng

Miệt mài suốt cả đêm trường

Bát cơm miếng nước tình thương dạt dào

 

Chiều Đông bắc trời sao u ám

Ba người anh thê thảm bi thương

Cái tin em gái trôi sông

Đi nhanh hơn cả lấy chồng mừng vui!

 

Gió thu sớm ngậm ngùi mây nước

Dòng sông quê bạc phước trăng tàn

Em trai mới lớn hỏi han

Ngỡ ngàng ảnh chị lệ tràn mãi thôi

 

Gió hiu hắt mây trời hờ hững

Chiều hành quân qua những đồi sim

Cỏ vàng héo uá trong tim

Nỗi buồn day rứt im lìm bước đi

 

Muà sim chín thầm thì tha thiết

Cảnh chiều hoang biền biệt Ninh ơi!

Ai hò biển lá xa xôi

Vô tình ác ý giưã đời thương đau…

 

Chiều hoang tím vàng thu chẳng dứt

Tôi ngân nga da diết lời ca

Áo anh sứt chỉđường tà

Vợ anh chết sớm mẹ già chưa khâu…

 

Muà sim chín càng đau  rớm lệ

Gió thông reo kể lể hồn thơ

Nấm mồ cỏ dại bơ vơ

Có ai thắp nén hương mờ  cho tôi!

 

20.3.2010 Lu Hà

 

Ngọc Hân không phải là một thi sĩ chuyên nghiệp, nàng là con gái yêu nhất của vua Lê Hiển Tông mẹ là bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền. Vua Lê Hiển Tông có hàng tá công chúa nhưng không ai được mang chữ ngọc mà chỉ có Ngọc Hân và Ngọc Bình là em gái nàng được coi như ngọc. Cuối thế kỷ 18 và tiền bán thế kỷ 19 chữ nôm rất phát triển một loại chữ cả tượng thanh lẫn tượng hình. Phát âm hoàn toàn bằng giọng nói thường ngày của người Việt, còn chữ viết từa tựa chữ Hán cải biên đi rất nhiều, chỉ dành cho các vương tôn hoàng tộc văn sĩ học giả là có thể đọc được. Thời gian này đã có hai nhà thơ trứ danh viết thơ song thất lục bát là ông Nguyễn Gia Thiều và bà Đoàn Thị Điểm. Tôi thấy Ngọc Hân đúng là bạn hồng nhan tri kỷ của tôi. Nàng thông hiểu niêm luật làm thơ, uyên bác tinh hoa cổ học các điển tích bên Tàu. Còn ông Nguyễn Huệ là người chồng tào khang một vị đại anh hùng cứu quốc trong lòng Ngọc Hân. Nếu cùng sinh một thời tôi sẽ kết bạn thơ văn với nàng Lê Ngọc Hân trên trang Facebook ngay và tôi thầm yêu nàng. Tôi chắp tay cầu nguyện kiếp sau nàng sẽ là vợ tôi. Tôi sẽ ôm ghì lấy nàng mà hôn hít ân ái cho trời rung đất lở, cho hai vầng nhật nguyệt phải sôi sục khi mờ lúc ảo mới thôi và nàng sẽ sinh ra cho tôi một đàn con. Thi sĩ mà tôi hay mơ mộng thế đấy.

 

Ngọc Hân chịu ảnh hưởng bởi hai tác phẩm kinh điển Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc đều là những tiếc khóc bi ai của người thiếu phụ xa chồng, phải đi lính cho triều đình và nàng cung nữ bị bỏ rơi trong cung cấm. Nhưng cả hai tác phẩm đó đều do những cái đầu thi nhân nhào nặn ra. Nhưng trường hợp Hữu Loan và Ngọc Hân chẳng phải thi nhân chi hết mà vô tình thành thi nhân. Ngọc Hân trở thành bà Hoàng duy nhất trong lịch sử cổ kim đông tây biết làm thơ và lại thơ rất hay. 

 

Tôi lại thấy trong thơ Ngọc Hân còn hương vị của nhà thơ Bạch Cư Dị mô tả về mối tình vương giả giữa vua Đường Minh Tông và nàng Dương Quý Phi cũng được tôi mô tả lại bằng thơ:

Hận Tình Dương Ngọc Hoàn Và Lý Long Cơ

cảm xúc từ Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị

 

Võ Hoàng Đế nằm yên linh cữu

Đấng chí tôn nội tử lên ngôi

Long Cợ sầu cảm xa xôi

Nhớ thương Hoàng Hậu nổi trôi bến tình

 

Cao Lực Sĩ một mình chiêu mộ

Ra công tìm kiều nữ nhân gian

Họ Dương có ả Ngọc Hoàn

Xuân xanh vừa chớm đến tuần cập kê

 

Dáng lướt thướt bầu thê giáng thế

Hoàng tử phi diễm lệ thu ba

Chiếu truyền đạo sĩ tài hoa

Ba cung sáu viện nhạt nhòa trúc mai

 

Mạch suối ấm liễu đài băng tuyết

Đỉnh Ly Sơn thắm thiết da ngà

Phẩm tiên đôi trái mâm nga

Trăng vàng sóng sánh mặn mà quý phi

 

Thưa thánh thượng thầm thì oanh yến

Động bướm hoa hiển hiện thiên thai

Tóc mây lõa xõa mày ngài

Trống canh thủng thẳng trâm cài điểm tô

 

Chim cúc trái tha hồ ân ái

Buổi thiết triều trễ nải cho qua

Bầu tiêu lai láng thềm hoa

Lửa tình cuồn cuộn xuýt xoa dạt dào

 

Không có gió lẽ nào hờ hững

Cột buồm vua lừng lững ra khơi

Gối chăn nghiêng ngả đất trời

Rồng mây hừng hực lả lơi sóng trào

 

Vua sủng ái má đào thục nữ

Bậc mẫu nghi thiên hạ như ai

Họ hàng quyền qúy phát tài

Khiến bao cha mẹ mộng hoài cô nương

 

Khói hương khấn cầu mong sinh gái

Điệu nghê thường êm ái vũ y

Cung đàn sáo đệm lâm ly

Phong phanh dải lụa kinh kỳ đèn sao

 

Quân Ngư Dương ào ào vũ bão

An Lộc Sơn máu đỏ chiến bào

Sục sôi lửa lựu đêm nào

Yến oanh dan díu nghẹn ngào giai nhân

 

Phút tan nát mây Tần gió Sở

Cả Trường An khốn khổ bi ai

Cung Phi thểu não gót hài

Mặt hoa ủ rũ phủ đài tang thương

 

Cảnh đế đô thê lương hỗn loạn

Đạp lên nhau phách tán hồn kinh

Bao nhiêu giận dữ bất bình

Bất tuân thánh chỉ gia hình qúy phi

 

Thế là hết lệ chi quả ngọt

Đường Minh Hoàng chua xót đắng cay

Cúi đầu thảm khốc thương thay

Bụi vàng Kiếm Các đọa đày Nga Mi

 

Bóng chiều nhạt đầm đìa nước mắt

Dải lụa hồng xiết chặt bi ai

Hồn xiêu phách lạc tuyền đài

Hoang sơ Ba Thục u hoài Mã Ngôi

 

Mô đất nhỏ núi đồi cỏ dại

Tiếng quạ kêu tê tái quân vương

Cành vàng lá ngọc gió sương

Hận cùng giun dế đêm trường mưa rơi

 

Rồi lên ngựa tả tơi binh tướng

Đất Tây Xuyện cảnh tượng hoang tàn

Tháng ngày trông đợi hồi loan

Lạc Dương trở lại giang san mơ màng

 

Lý Thái Bạch ôm trăng khóc nguyệt

Điệu thanh bình hủy diệt thanh danh

Nịnh thần kèn cựa tranh dành

Dèm pha Phi Yến thôi đành chịu tang

 

Non xanh cỏ biếc hàng mây ngói

Vườn Phù Dung nhức nhối dấu yêu

Vị Ương Thái Dịch tiêu điều

Sen khô mai héo mĩ miều còn đâu

 

Thềm rêu mọc úa sầu cung nữ

Tóc bạc phơ tư lự thẫn thờ

Canh thâu trằn trọc giấc mơ

Màn đêm bao phủ lờ mờ sông Ngân

 

Quan thái giám tay chân run rẩy

Thái thượng hoàng lẩy bẩy dung nhan

Nỗi niềm tưởng nhớ khóc than

Vua tôi nức nở lệ chan dòng dòng

 

Trước thềm điện soi đường đom đóm

Sương thu rơi lốm đốm nhành mai

Ý sầu trằn trọc đêm dài

Âm dương cách trở u hoài canh thâu

 

Mộng chẳng dứt dãi dầu tơ liễu

Bóng người xưa yểu điệu hao gày

Gối loan lạnh lẽo heo may

Châu sa lã chã mặt mày xác xơ

 

Cầm túi gấm bơ phờ ngắm nghía

Mùi hương thơm hồng tía hồn say

Mả hoang xót lại vật này

Lờ mờ hư ảo đắng cay phũ phàng

 

Gió xuân hận bóng nàng phảng phất

Áo xiêm y ngây ngất hoa cười

Dao đài Quần Ngọc chơi vơi

Hỏi nơi cung Hán còn người nào hay

 

Vì thánh thượng có tay thuật sĩ

Đất Lâm Cùng gọi quỷ chiêu hồn

Cưỡi mậy đạp gió sóng cồn

Thiên tào địa phủ bồn chồn tìm đâu

 

Chợt ngoài cõi thần châu mù mịt

Gác tiên bồng chi chít cỏ hoa

Hiên tây liễu phủ lòa xòa

Màn che trướng phủ thượng tòa Thái Chân

 

Tiên nữ bẩm đạo nhân hạ giới

Xứ gỉa là khách mới ghé chơi

Bồi hồi thốt chẳng ra lời

Song Thành Tiểu Ngọc cho mời vào ngay

 

Mặt trông mặt ai hay tình cũ

Cơn sóng lòng chan chứa ngất ngây

Ai ngờ chén ngọc vơi đầy

Phút giây hội ngộ vui vầy là bao

 

Sương móc đọng ruột bào gan héo

Khóe hạnh trào muôn nẻo đường mây

Hôm nay chàng đã đến đây

Nghê thường khúc nhạc canh chầy xót xa

 

Đành từ biệt lầu nga gác phượng

Hộp Hoa Điền trân trọng mở ra

Vàng dòng nửa mảnh kim thoa

Ngọc châu còn một nhạt nhòa khói bay

 

Ôm mặt khóc giãi bày kể lể

Cây liền cành mưa bể gió nguồn

Cánh chim phấp phới hoàng hôn

Ngàn sao chứng dám lệ tuôn đôi hàng !

 

Lòng sầu hận dở dang ân ái

Bụi Tràng An tê tái thê lương

Tội tình chi hỡi mỵ nương

Hồng nhan bạc mệnh đoạn trường bi ai!

 

* Dương Ngọc Hoàn tức Dương Qúy Phi, từng làm pháp sư gọi là Thái Chân

Lý Long Cơ tức vua Đường Huyền Tông hay gọi là Đường Minh Hoàng

 

5.12.2014 Lu Hà

 

Bây giờ tôi sẽ dẫn dắt các bạn nhẩn nha phân tích ý nghĩa từng chữ khó hiểu, ta cứ đi  từng bước một từng câu từng khổ có 4 câu thơ nhé:

” Ai Tư Vãn, tiếng khóc than

Điếu văn Hoàng Hậu ngút ngàn khổ đau

Trải qua đại nạn bể dâu

Xe rồng hun hút dãi dầu khói hương”

 

Ngọc Hân theo chồng vào Nam sinh sống tức vua Quang Trung đóng đô ở Phú Xuân.

Hương lửa 6 năm nồng ấm và Ngọc Hân đã sinh ra cho Nguyễn Huệ hai đứa con công chúa Nguyễn Ngọc Bảo và hoàng tử Nguyễn Quang Đức. Nguyễn Huệ đang rất sung sức ông còn ép cả vua Càn Long gả con gái cho để lấy cớ xin của hồi môn là các vùng đất Quảng Đông Quảng Tây vốn dĩ là đất của nước Đại Việt là mảnh đất của cha ông tổ tiên ta để lại. Ngô Thì Nhậm thảo tờ biểu rất hay xin cưới con gái vua nhà Thanh, Nguyễn Huệ làm phò mã nhưng thực ra chỉ là chọc tức Càn Long mà thôi và Nguyễn Huệ sai tướng Vũ Văn Dũng đi sứ chỉ là để do thám tình hình quân sự. Nguyễn Huệ đang hăm hở chuẩn bị mở rộng chiến tranh ra phía Bắc để đòi lại đất đai. Càn Long  cũng run sợ ngoài mặt giả bộ đồng ý gả con gái cho Nguyễn Huệ nhưng trong thâm tâm chỉ muốn trả lại vùng đất Quảng Tây thôi, một vùng đất đai cằn cỗi chó ăn đá gà ăn sỏi để làm của hồi môn cho con gái yêu. Người ta thường nói: Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Người tính không bằng trời tính. Vũ Văn Dũng nghe được hung tin cấp báo nghiêm mật từ hệ thống tình báo riêng từ Phú Xuân: Vua Quang Trung đã băng hà. Cả sứ đoàn phải ngậm tăm coi như không có chuyện gì lặng lẽ rời bỏ nước Tàu để về nước gấp. Cái chết của vua Quang Trung làm cho kẻ thù của ông ở Gia Định là Nguyễn Ánh đắc ý, người anh cả sau khi trao quyền hành cho em trai mình là Nguyễn Huệ chỉ dám nhận mình Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc ở thành Qui Nhơn thì tưng hửng. Cái chết của Huệ bí mật đến mức phái bộ của Nhạc nghe tin vua ốm cũng bị cản lại.

 

Có nhiều giả thuyết về cái chết của Nguyễn Huệ có người đồn vua Càn Long tặng vua Nguyễn Huệ cái áo lông chim có tẩm độc? Nhưng tôi không tin một người ranh ma như Gia Cát Lượng, Lưu Bá Ôn, Tư Mã Ý, Tào Tháo mà lại chịu mặc áo của kẻ thù phương Bắc tặng? Tôi cho rằng ông Nguyễn Huệ bị bệnh do một thời gian chiêu nạp binh mã, phải sống ở  rừng rú với đồng bào người Thượng, nên ông bị bệnh sốt rét, hay thương hàn gì đó hoặc khi lên ngôi vua do ăn uống quá điều độ, cưới được gái Bắc Ninh hát quan họ hay lại rất chiều chồng hơi một tý là canh sâm, linh chi ngàn năm toàn những thứ bổ béo thượng hạng, nên cơ thể ông không tiêu hóa hấp thụ kịp thành ra thừa chất. Thừa lượng đường Glucose trong máu ông Nguyễn Huệ mới nông nỗi như vậy thật là thê thảm cho một võ tướng, nàng Ngọc Hân ngây thơ chẳng hiểu gì về y học. Ngọc Hân lại rất giỏi các món thit kho tàu nấu đông, nem chua giò chả….  Theo tôi chuẩn đoán: Không những chỉ có chất đường nhất là mỡ tích tụ trong gan ông Nguyễn Huệ quá nhiều đầy ứ ra ? Ông bị chứng bệnh béo phì huyết áp cao và bị tai biến mạch máu não người xưa gọi là chứng huyễn vận. Sách sử có ghi chép rằng: Một buổi chiều mùa thu năm 1792, vua Quang Trung đang ngồi làm việc , bỗng nhiên hoa mắt , tối sầm mặt mũi, mê man bất tỉnh, ngã lăn quay xuống. Chính tôi thỉnh thoảng cũng có triệu chứng này. Mỗi khi phải thay 4 cái lốp ô tô cho mùa đông hay mùa hạ tôi cũng thường hay dễ rất mệt mỏi, hoa mắt choáng váng, tôi vội phải xoa mặt làm các động tác vuốt cổ. Theo lời khuyên bảo chí tình của bác sĩ. Tôi nhịn ăn sau 3 tháng từ hơn 70 kg xuống chỉ còn 58 kg, mỗi sáng ngủ dậy tập khí công  khoảng 30 phút.

 

Tôi nghĩ ông Nguyễn Huệ bị bệnh tiểu đường cấp 2 mà từ lâu mà không biết. Bệnh xuất hiện ở những người trưởng thành trông vẻ bên ngoài rất trai tráng, do ăn nhiều thừa chất mà các tế bào trở nên đối kháng với Insulin mà tuyến tụy không thể tạo ra đủ. 

 

Nàng Lê Ngọc Hân mở đầu trong Ai Tư Vãn bằng 4 câu :

” Gió hưu hắt phòng tiêu lạnh lẽo

Trước thềm lan hoa héo don don

Cầu tiên khói tỏa đỉnh non

Xe rồng thăm thẳm, bóng loan dàu dau”

 

Đúng là hơi thơ của Ôn Như Hầu đã nhập vào nàng Lê Ngọc Hân:

“Trải bách quế gió vàng hưu hắt

Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng

Oán chi những khách tiêu phòng

Mà xui phận bạc nằm trong má đào”

 

Còn tôi lại viết cuộc tình của nàng và sự nghiệp của ông Nguyễn Huệ là đại nạn bể dâu, không riêng gì cho gia đình gia tộc ông bà Huệ- Hân mà còn cả cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Xe rồng hun hút là chỉ xe giá nhà vua ra đi vào cõi âm u hư vô không hề quay trở lại nữa. Để lại cho người guá phụ trẻ, hai đứa con thơ dại và cả triều đình Tây Sơn ngơ ngác nhạt nhòa trong màu và mùi vị hương trầm khói tỏa. 

 

“Cầu tiên đỉnh núi thê lương

Thềm hoa hiu hắt đoạn trường phong vân

Tơ duyên sao nỡ rút dần

Trời cao thăm thẳm tủi thân má đào“

 

Nàng Lê Ngọc Hân còn goi là bà Chúa Tiên vì trong dinh thự của nàng ở Phú Xuân còn xây cất một ngôi chùa Kim Tiên, có hòn non bộ chon von, có hiên Lãm Thúy cầu Kiều bắc qua, có cỏ non xanh rờn trúc mai lòa xòa xum xuê. Nhưng cảnh ngộ lúc đó thật là buồn thảm người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Mối tình của nàng bỗng dưng dở dang ai oán như Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài. Nàng viết Ai Tư Vãn còn tôi là Sầu Ly Ai Oán. Tôi khóc thương cho nàng hồng nhan bạc mệnh, ông tơ bà nguyệt rút ngắn loại sợi chỉ xích thằng.

 

Nỗi sầu thiên thu vạn cổ, âm dương cách trở đôi đàng chia ly biền biệt ai oán bi thương. Đoạn trường phong vân như những khói sương mờ. Phong nghĩa là gió, vân là mây.

 

Mới ngày hôm qua nơi đây còn vang tiếng huyên náo hàng sáng Nguyễn Huệ còn luyện tập gươm đao nhất là cây đại đao cán dài như Quan Vân Trường mà Huệ thường sử dụng với chiêu thức kế đà đao làm cho bao tướng sĩ nhà Thanh phải thất đảm kinh hồn, còn tiếng bi bô của trẻ con ngồi trên vai Huệ thế mà giờ đây im ắng chỉ còn là những ảo ảnh hồn ma bóng quế. Ngọc Hân viết bằng sự hồi tưởng:

 

“Nỗi lai lịch dễ hầu than thở

Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao

Sầu sầu thảm thảm xiết bao

Sầu đầy giạt bể, thảm cao ngất trời”

 

Tôi cũng như muốn tái hồi lại  những ngày huy hoàng của Bắc Bình Vương đem quân thảo phạt nghịch tặc dưới lá cờ đại nghĩa phù Lê diệt Trịnh:

 

“Cờ vàng Bắc phạt xôn xao

Anh hùng mã thượng chiến bào máu pha

Sông hồng cuồn cuộn phù sa

Phụ Hoàng vâng mệnh ngọc ngà vu quy”

 

Ngày xưa cha ông ta vẫn dùng cờ vàng truyền thống từ thời bà Trưng bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường kiệt, Trần Nhân Tông v.v… chứ không phải cờ đỏ sao vàng lạ hoắc mà ông Hồ lượm được bên lề đường của tỉnh Phúc Kiến bên Tàu đâu. Anh hùng mã thượng chỉ một người quân tử hào hoa một võ tướng dũng mãnh nơi chiến trường thà chết lây da ngựa bọc thây chư không thèm đầu hàng quân giặc. Như trong khúc hátLương Châu từ: 

“Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”

 

Nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh một tướng Bắc Hà đầu hàng nhà Tây Sơn mai mối mà ông Nguyễn Huệ kết duyên cùng với nàng Ngọc Hân lúc đó mới 16 tuổi. Sức mạnh của nhà Tây Sơn như trẻ tre, như nước sông Hồng cuồn cuộn mùa nước lũ nên Ngọc Hân vâng mệnh vua cha lúc đó đã ngót 70 tuổi. Nguyễn Huệ 33 tuổi hơn Ngọc Hân 17 tuổi. Thật là hoàng long gặp phụng hoàng hai con trống mái long phụng gặp nhau quần thảo nhau suốt ngày đêm không chán, đám cưới tưng bừng náo nhiệt. Nguyễn Huệ chọn ngày mồng mười tháng bảy sắp sẵn hai trăm lạng vàng, hai ngàn lạng bạc, hai chục tấm đoạn màu, quân sĩ đầu hùm lưng gấu gươm dáo sắng quắc cờ quạt trang nghiêm. Mọi thứ lễ vật ông Huệ cho khiêng thẳng đến cung Vạn Thọ. Mọi người đều tấm tắc khen nhà vua kén được rể tốt. Chuyện kể rằng: Hoàng Thượng rất yêu quý Ngọc Hân thường bảo với tả hữu: “ Con bé này sau này nên gả làm vương phi hoàng hậu, không nên gả cho hạng phò mã tầm thường.

 

Chính Bắc Bình Vương lúc đó cũng rất kiêu ngạo hỏi nàng: 

-Con trai con gái nhà vua có mấy người được vẻ vang như nàng?

Công chúa Ngọc Hân đáp lại:

-Cha thiếp tuy làm hoàng thượng nhưng ít lộc, các con trai lẫn con gái đều thanh bạch nghèo khó. Chỉ riêng thiếp có duyên mới lấy được chúa công, thiếp  như hạt mưa hạt bụi giữa trời may mắn được sa vào vòng tay anh hùng vào chốn lầu quỳnh gác tía như thế này.

 

Ngọc Hân hiểu rất rõ đây là một đám cưới chính trị, nhưng thật lòng nàng trái tim nàng cũng rung động nên ngoài mặt nhận lễ vu quy tức gái về nhà chồng nhưng trong lòng nàng cũng rất khao khát cùng Nguyễn Huệ vào Nam để tổ chức lễ thành hôn và hai người sẽ ân ái với nhau thật nồng nàn say đắm vào đêm tân hôn cho trời long đất lở, sấm sét ầm ầm cho con cháu Huệ- Hân dắt díu nhau ra chào đời. 

 

“ Phụng long áo gấm quạt quỳ 

Se tơ kết tóc tà huy ráng chiều

Phú Xuân thục nữ mĩ miều

Giang Nam Đồng Tước yêu kiều kém chi? 

 

Long là con rồng một loài có vẩy thường hay chỉ vua hay đấng trượng phu thuộc giống đực, hay là người cha người chồng. Còn Phụng tức là chim phượng hoàng loài có lông chỉ giống cái thường làm biểu tượng cao quý như hoàng hậu, quý phi hay các phu nhân mệnh phụ quyền quý đài các. Áo gấm là loại lụa quý làm bằng tơ tằm có chỉ thêu sặc sỡ. Quạt quỳ là cái quạt quý nan quạt làm bằng xương, sừng, ngà voi, giấy quỳ là loại giấy dai không thấm nước. Quạt có thể mở ra khép vào hình tam giác rồi lại xếp vào thẳng đứ đừ. Bà Hồ Xuân Hương có miêu tả rất kỹ lưỡng giúp ta hình dung ra cái của quý ngàn vàng của đàn bà:

Một lỗ sâu sâu mấy cũng vừa,

Duyên em dính dáng tự bao giờ.

Chành ra ba góc da còn thiếu,

Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa,

Mát mặt anh hùng khi tắt gió,

Che đầu quân tử lúc sa mưa.

Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,

Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?

 

Tất nhiên là sướng quá đi chứ. Cái quạt của cô Hân gái Bắc Ninh giỏi hát quan họ múa nón múa quạt lại là công chúa con vua Lê mà quạt cho trai Qui Nhơn đen bóng lực lưỡng khỏe như trâu mộng lại là vua Quang Trung thì còn gì bằng.

 

 Tà huy là lúc mặt trời lặn ở đằng tây. Bóng nắng nghiêng vào buổi chiều. Ta quen gọi là buổi hoàng hôn. Cung oán ngâm khúc có câu:”Cầu thệ thuỷ ngồi trơ cổ độ, quán thu phong dừng rũ tà huy“

Se tơ kết tóc tà huy ráng chiều, trong ý thơ tôi muốn nói rằng cuộc tình giữa đôi uyên ương thanh mai trúc mã giữa Nguyễn Huệ và Ngọc Hân như buổi chiều tàn. Huệ chết đi thì Hân còn ân ái và còn đẹp với ai nữa? Cuộc đời nàng còn ý nghĩa gì đâu? Tại sao ông trời cay nghiệt vậy? Nàng là đệ nhất mỹ nhân đẹp nhất thành Phú Xuân so với hai nàng Đại Kiều và Tiểu Kiều vùng sông nước Giang Nam nước Đông Ngô ngày xưa cũng chẳng kém gì? 

Còn Đồng Tước Đài? Tào Tháo có xây một cái đài bên sông Chương đặt tên là Đồng Tước. Đài này cực kỳ tráng lệ. Ông sai người trang hoàng tô điểm rất lộng lẫy, rồi tuyển gái đẹp khắp vùng cho vào trong ở

Tào Thực con trai thứ hai đã mở đường cho lối thơ ái tình diễm lệ.

Trong một dịp du thuyền trên sông Trường Giang, Tháo chuếnh choáng hơi men mới cao hứng nói:

– Ta năm nay đã 54 tuổi. Nếu hạ được Tôn Quyền chiếm được cả vùng Giang Nam ta cũng có được chút vui mừng riêng. Số là trước kia ta có quen thân cụ Kiều công, được biết cụ có 2 cô con gái, đều là trang quốc sắc thiên hương. Không ngờ về sau Tôn Sách và Chu Du cưới mất! Nay ta đã xây xong đài Đồng Tước trên sông Chương, nếu hạ được Đông Ngô, ta sẽ đem hai nàng họ Kiều về đấy ở, để vui thú năm tháng về già. Thế là ta mãn nguyện lắm rồi.

Để khích Chu Du là đô đốc Đông Ngô đánh Tào Tháo, Khổng Minh sửa đổi câu thứ 7 của bài phú “Đồng Tước đài” của Tào Thực. Nguyên văn là:

 Liên nhị kiều vu đông tây hề,

 Nhược trường không chi đế đống.

Nghĩa là:

 Bắc hai cầu tây đông nối lại

Như cầu vồng sáng chói không gian. 

 

Nhưng Khổng Minh lại đổi ra thành:

Lãm nhị Kiều ư đông nam hề,

Lạc triêu tịch chi dữ cộng.

Nghĩa là:

Tìm hai Kiều nam phương về sống,

 Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân …

 

Khổng Minh là một ngã đạo sĩ gian manh trí trá mới đem chữ “kiều” (cầu) đổi ra chữ “Kiều” (nàng họ Kiều), đổi chữ “Tây” ra chữ “Nam”, đổi chữ “liên” ra chữ “lãm”; còn câu sau thì đổi hoàn toàn khác hẳn, để cố ý trỏ vào hai nàng Kiều.

Đem chữ “kiều” đổi ra chữ “Kiều”. Khổng Minh chủ ý lừa và chọc tức Chu Du làm cho chàng đô đốc thủy quân si tình nổi máu ghen và muốn đánh bại Tào Tháo. Một cuộc chiến tranh khốc liệt đáng lý không có. Đông Ngô đã bị Gia Cát Lượng xỏ mũi chơi đểu mà không biết. Câu thơ của tôi chỉ muốn ca ngợi nàng Lê Ngọc Hân vợ vua Quang Trung ở Phú Xuân đẹp như hai nàng Kiều. Mặc dù trong bài Ai Tư Vãn Ngọc Hân không nhắc đến điển tích này. 

 

“Ái tình sâu nặng lâm tri

Ngàn năm xanh ngắt đền nghì trúc mai

Thanh tao rất mực chương đài

Nửa đường đứt gánh đêm dài lệ chan“

 

Sự ra đi đột ngột của Nguyễn Huệ làm Ngọc Hân đau lòng lắm. Tình yêu của nàng dành cho Nguyễn Huệ không bút nào tả được. Tôi có nhớ tới mối tình của chàng Thúc Sinh với Vương Thúy Kiều. Tuy rằng nàng Ngọc Hân chưa hề đọc Kiều của cụ Nguyễn Du, nhưng tôi lại đọc.  Tôi thấy tâm trạng một chốn đôi nơi, miền Nam và miền Bắc , Phú Xuân và kinh thành Thăng Long đều chất chứa biết bao kỷ niệm u hoài.

 

“Lâm Tri chút nghĩa đèo bòng

 Nước non để chữ tương phùng kiếp sau“

hay là: 

“Chạnh lòng nhớ cảnh gia hương

Nhớ quê chàng lại tìm đường tìm quê“

 

Cái mối tình lứa đôi đó như ngàn dâu xanh ngắt không bao giờ phai tàn trong tâm hồn Ngọc Hân. Mảnh tình dang dở nàng chỉ còn biết chăp tay cầu nguyện kết cỏ ngậm vành sẽ xin đền bù lại tình yêu mai trúc. Ngọc Hân rất mực chương đài là chỉ một người phụ nữ đoan trang thủy chung như Liễu Chương Đài.

 

Chương Đài” là tên một con đường ở thành Trường An bên Tàu. Đời nhà Đường, Hàn Hoành tuổi trẻ nổi tiếng là một người tài danh.  lấy một mỹ nhân họ Liễu ở Chương Đài. Bấy giờ, đương lúc tao loạn Hàn không dám đem Liễu đi theo, để nàng ở lại kinh đô, định chờ dịp tiện sẽ về đón. Nhưng trải qua ba năm trời, Hàn vẫn không về đón được. Nhân lấy vàng đựng vào một cái túi gởi về cho Liễu, kèm theo một bài thơ:

 

  Liễu ơi, hỡi Liễu Chương Đài,

  Ngày xưa xanh biếc, hỏi nay có còn?

  Ví tơ buông vẫn xanh rờn,

  Hay vào tay khác, khó còn nguyên xưa!

 

Liễu được thơ cũng đáp lại:

 

 Xanh non cành liễu đương tươi,

 Năm năm luống để tặng người biệt ly.

 Thu sang quyện lá vàng đi,

 Chàng về biết có còn gì bẻ vin!

 

Lời thơ trao đổi thành một điềm gở báo trước.

Một thời gian, Hàn được trở về triều, tìm Liễu không thấy đâu cả. Dò hỏi tin tức, thì ra Liễu đã bị viên tướng Phiên rất có công trạng với triều đình tên Sa Tra Lợi thấy nàng có sắc đẹp nên cướp mất. Nàng bấy giờ được luyến ái hơn hết cả mọi phòng. Hàn buồn bã vô cùng, nỗi nhớ thương không sao khuây được.

May có một tráng sĩ trẻ tuổi tên Hứa Tuấn thương xót tình cảnh của Hàn, tìm mẹo cứu được Liễu. Bấy giờ vợ chồng được xum họp đầm ấm như xưa.

 

Ta hãy đọc những vần thơ đứt ruột xé gan của Ngọc Hân:

“Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội

Khắp tôn thân cũng đội ơn sang

Miếu đường còn dấu chưng thường

Từng thu còn rậm mấy hàng xanh xanh“

 

Để đến bây giờ sau 220 năm tôi Lu Hà cũng cảm ngộ ra nỗi lòng Nàng Ngọc Hân mà viết:

“ Ngọc Hân thiên bảo ứa tràn

Hoa phong bày tỏ nồng nàn xinh tươi

Ai ngờ giông tố tả tơi

Bể vùi sông dập cảnh đời biệt ly“

 

20 tên chữ “Thiên” cha mẹ dành đặt cho con dễ thương và ý nghĩa nhất, trong đó có thiên bảo. Theo nghĩa Hán – Việt, “Bảo” có nghĩa là vật quý giá, “Thiên” có nghĩa là trời. “Bảo Thiên – Thiên bảo” có nghĩa là báu vật, bảo bối của trời. Tên được đặt với tất cả niềm yêu thương của cha mẹ dành cho con. Hoa phong còn có nghĩa là phong hóa những lời đẹp như hoa trong việc chúc tụng mong con cái trưởng thành nối nghiệp cha ông mang lại niềm vui hạnh phúc cho cha mẹ. Nàng Ngọc Hân ứa nước mắt nhớ ngày nào nàng và Nguyền Huệ sinh ra công chúa Ngọc Bảo và hoàng tử Quang Đức. Hai vợ chồng âu yếm bên con bàn bạc chuyện đặt tên con sao cho đẹp và có ý nghĩa nhất. Ai ngờ giông tố tả tơi, sét đánh ngang tai Nguyễn Huệ bông dưng ngã vật ra do tai biến mạch máu não, trong một buối chầu đang hoạch định kế hoạch mở mang lãnh thổ biên cương cho nước nhà. 

 

Những khao khát ước mong xum vầy hạnh phúc bị dập tắt. Ngọc Hân viết trong điếu văn những lời ai oán thê lương:

“Những ao ước trập trùng tuổi hạc

Nguyền trăm năm ngõ được vầy vui

Nào hay sông cạn bể vùi

Lòng trời tráo trở vận người biệt li“

 

Chỉ xin các bạn lưu ý cho những trích đoạn. Khổ thơ song thất lục bát là của Ngọc Hân còn lục bát là của tôi.

 

“ Mùa hè nắng đổ kinh kỳ

Mưa thu trái tiết nhung y đầm đìa

Xiết bao hoảng sợ chia lìa

Miếu thần cầu đảo mấy thìa thuốc tiên

 

Danh y đón khắp mọi miền

Hẹp hòi con tạo quy tiên chầu trời

Đau thương tang tóc muôn nơi

Nhân gian sầu thảm lệ rơi thảo trùng

 

 Nguyễn Huệ đổ bệnh khá lâu, thời tiết lúc nóng lúc lạnh. Miền trung nam bộ ngày nắng đêm mưa, nhất là vùng Quảng Trị, Quảng Nam, Huế, Đà Nẵng, cả kinh đô nhà Tây Sơn ở Phú Xuân. Ngọc Hân ra sức chạy chữa thuốc men cho chồng, kể cả các biện pháp mê tín dị đoan cúng sao giải hạn, bùa chú trừ tà bắt ma đuổi ôn dịch nàng đều thử hết, miễn sao Nguyễn Huệ khỏe lại. Con tạo nghĩa là máy trời vận hành theo quy luật âm dương, ngũ hành: Kim mộc thủy hỏa thổ.

 

Cái chết của Nguyễn Huệ  là một đả kích mạnh vào tinh thần triều đình Tây Sơn ở Phú Xuân. Một tổn thất cho gia đình, đau khổ nhất là nàng Ngọc Hân và hai đứa con thơ dại, không những sầu thảm cả nhân gian đất trời mà cỏ cây muông thú cũng bi ai. Nhỏ lệ mưa sa lên cả các loài thảo trùng. Đông trùng hạ thảo là một loại đông dược quý có bản chất là dạng ký sinh của loài nấm trên cơ thể ấu trùng của một vài loài bướm. Phần dược tính của thuốc đã được chứng minh là do các chất chiết xuất từ nấm. Nó được sử dụng từ lâu trong y học cổ truyền Trung Hoa và y học cổ truyền Tây Tạng

Tên gọi “đông trùng hạ thảo”  tiếng Trung xuất phát từ quan sát thực tế khi thấy vào mùa hè nấm mọc chồi từ đầu con sâu nhô lên khỏi mặt đất. Vào mùa đông thì nhìn cặp cá thể này giống con sâu, còn đến mùa hè thì chúng trông giống một loài thực vật thảo mộc hơn.

 

“ Kiếp này trọn nghĩa thủy chung

Bi hoan tán tụ hãi hùng vó câu

Xe loan khấp khểnh qua cầu

Nại Hà nức nở mái đầu tuyết sương“

 

Ngọc Hân thề trọn đời chung thủy với chồng, nàng sẽ không đi bước nữa thà ở vậy nuôi con. Bi hoan là sự đau khổ lúc hợp khi tan là sự vô thường của nhân sinh theo quan niệm nhà Phật mà nàng lại là người sùng đạo. Còn cho xây cả một ngôi chùa lấy tên là Kim Tiên trong phủ Bắc Cung Hoàng Hậu. Theo Lão Tử và Trang Tử thì cuộc đời con người như một giấc ngủ trưa, như ánh mặt trời như bóng câu vụt chiếu qua song cửa sổ, ngoảnh đi ngoảnh lại thì đã xế chiều rồi. Xe loan chỉ xe giá đưa linh hồn nhà vua qua cầu Nại Hà. 

 

Cầu Nại Hà là cây cầu ở địa ngục thứ 10 là ranh giới cuối cùng của địa ngục, đi qua cầu này, linh hồn sẽ được uống canh quyên l ãng và được chuyển đến Phong Đô. Tương truyền Âm phủ có một cây cầu rất mỏng manh, bắc ngang một con sông lớn, rất khó lên cầu để đi qua sông. Hơn nữa, dưới cầu là sông lớn có đủ các thứ rắn độc, thuồng luồng hung dữ, đợi người nào rơi xuống thì chúng xúm lại xé thây nhai thịt.

 

Các ma hồn nơi âm phủ, khi đến cầu nầy, muốn lên cầu qua sông, nhìn thấy cảnh tượng như thế thì nản lòng thối bước, không biết làm thế nào để đi qua cầu cho được an toàn. Nhiều người cố đi qua, nhưng đến giữa cầu thì bị té xuống sông, rắn rết giành nhau phanh thây ăn thịt, thật là rùng rợn. Sau khi thẩm định phước phần của mỗi hồn, sẽ cho đi đầu thai vào các nơi tương xứng, theo nghiệp lực cuả mình tạo ra trên dương thế. Nàng Ngọc Hân sẽ ước hẹn gặp lại vua Quang Trung bên cầu Nại Hà với mái đầu tuyết sương rối bời.

 

“ Cậy ai đá lấp sông thương

Lẻ loi phận thiếp thê lương khóc chồng

Tỳ bà gảy khúc tang bồng

Hồn ma bóng quế qua sông anh hùng“

 

Sông thương chỉ là hình ảnh ẩn dụ của thơ, chỉ sự ngăn cách chia lìa giữa Huệ và Hân.

Sông Thương hay sông Nhật Đức ngaỳ xưa còn gọi là sông Nam Bình. Có câu ca dao:

 Sông Thương nước chảy đôi dòng.

Bên trong bên đục em trông bên nào?

 

Đối với tôi sông Thương và sông Tương là hai con sông trong văn học mang nhiều huyền bí đau thương về tình yêu.

Có câu chuyện Ngu Thuấn đến đất Thương Ngô bên bờ sông Tương thì ngã bệnh qua đời. Hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh thương khóc chồng ngồi cạnh mộ bên bờ sông Tương khóc ròng rã suốt 7 ngày 7 đêm. Chỗ nước mắt của 2 bà rơi xuống mọc ra bụi trúc nên người đời gọi luôn đó là Tương phi trúc. Sau khi khóc than thì Nga Hoàng cùng Nữ Anh đều trầm mình xuống sông để tuẫn tiết theo chồng.

 

Hình ảnh đá lấp sông cũng rất tang thương là hình ảnh nàng Tinh Vệ sau khi chết, uất ức hóa thành chim tinh vệ ngậm từng viên đá để lấp con sông tìm lại viên ngọc quý. Tỳ bà gảy khúc tang bồng hồn ma bóng quế qua sông anh hùng là tôi lại liên tưởng đến nàng Kiều khóc Từ Hải bên sông Tiền Đường

Bạc Mệnh Hồng Nhan

họa thơ Tản Đà: Thúy Kiều Hầu Rượu Hồ Tôn Hiến

 

Chiêng trống sông tiền chảo nóng ran

Họ Hồ tráo trở đóa xuân tàn

Nàng Kiều bạc mệnh tình buông thả

Tro cốt thương hồn chén rượu quan

Minh tướng xót chi đời thục nữ

Khốn thay vùi dập liễu đào nhan

Nấm mồ giun dế không nhang khói

Sóng vỗ nghìn thu nức nở đàn.

 

9.1.2017 Lu Hà 

 

Ai Tư Vãn Ngọc Hân viết bài thơ điếu văn đọc trước linh cữu mang tính hồi tưởng suy tư liên tưởng về những kỷ niệm tình yêu và ghi nhận những công trạng của người chồng quá cố một thời tung hoành ngang dọc trong nam ngoài bắc, dùng bing thần tốc như thần. Tôi đã cảm nhận ra tình yêu thương xen lẫn khính trọng ngưỡng mộ của nàng với vua Quang Trung mà viết thành thơ lục bát:

“Hành quân bóng tối mịt mùng

Người khiêng kẻ võng lạnh lùng gió may

Mơ màng bao nỗi đắng cay

Bàng hoàng tỉnh giấc còn say với tình!

 

Như vậy là tôi đã bình giảng cho video thứ nhất mà nghệ sĩ Trần Thu Hà đã ngâm gồm 44 câu. Thế nhưng tôi cũng thấy buồn cho nhân thế sao mà vẫn có kẻ bạc bẽo độc ác mất nhân tính thế với Thu Hà. Khi cô viết cho tôi:
-Hồi sáng em bị facebook khóa tài khoản không vào được buộc phải bỏ 5 người bạn và 40 bài thơ đăng, em sợ có bài thơ ngâm của anh.

Thật là tội nghiệp cho em. Em hiền như Ma Sơ, nhân từ phúc hậu như Ni Cô. Em chẳng chính trị chính em, không gây thù chuốc oán không lăng mạ xỉ nhục ai? Em chỉ ngâm thơ thôi để tăng đời làm đẹp cho đời mà họ cũng lăn xả vô cớ report em với facebook. Có lẽ họ tự cảm thấy xấu hổ về sự hèn kém bất lực ti tiện của mình, nên họ sĩ diện bảo nhau kêu gào facebook xóa tài khoản của em đi? Tại sao ở trên đời này những cái gì trong sáng tốt đẹp thì họ đua nhau lên án chửi rủa lăng mạ xỉ nhục. Những cái gì vô lý bất công đôi bại khốn nạn thì họ lại cố tình trau chuốt vuốt ve ca tụng ca ngợi một cách trơ trẽn. Thôi Thu Hà hãy nghe anh lờ đi mà sống. Những người vô lý tấn công em và cả anh nũa chắc họ cũng có nỗi khổ tâm riêng tự rằn vặt lương tâm mình.

 

Anh đã hứa với em gái là anh sẽ viết bài bình giảng để giải nghĩa cho em những câu chữ khó hiểu. Nhất ngôn cửu đỉnh đã nói là làm không chỉ hứa suông đâu. Danh dự và lòng tự trọng về lời hứa của người quân tử mà. Em cứ yên tâm anh sẽ cố gắng viết cho xong 3 bài bình giảng cho 3 video ngâm thơ của em tặng anh. 

 

30.9.2019 Lu Hà

 

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: