LƯU LÃNG CA – tác giả: Lưu Lãng Khách, lời tựa: Võ Thạnh Văn.

LƯU LÃNG CA – 

tác giả: Lưu Lãng Khách, 

lời tựa: Võ Thạnh Văn. 

Nếu triết gia là trí tuệ của nhân loại, thì nghệ sĩ là giác quan. Thi ca là  ngôn ngữ đầu tiên và cuối cùng của con người. Chính văn hóa, mà thi ca  là đại biểu tinh túy, đã nối kết một dân tộc và làm cho dân tộc ấy độc đáo,  duy nhất, lớn mạnh, độc lập, trường tồn. Người xưa dùng thi ca để làm  sáng cái đức sáng của người quân tử (Minh minh đức, minh minh chí…  Luận Ngữ). Văn dĩ tải Đạo. 

Lưu Lãng Khách là một nhà thơ, một nghệ sĩ. Qua thi tập LƯU LÃNG  CA của nhà thơ miền Núi Ấn Sông Trà ấy, ta có thể thấy những đề tài nổi  bật sau đây: (a) Tính khí giang hồ (b) Bóng dáng Quê Hương (c) Hình  ảnh song thân (d) Nghĩa Tình bằng hữu và (e) Duyên thắm chồng vợ,  nghĩa nặng phu thê.  

Ta sẽ lần lượt thưởng lãm ngòi bút tài hoa của chàng trai lãng mạn, đa  tình và duyên dáng Lưu Lãng Khách, bút danh của Nguyễn Duy Toàn,  xuyên suốt những đề tài nổi bật trên. Tuy nhiên, những phân tích và trình  của người viết bài TỰA nầy hoàn toàn có tính chủ quan. 

GIANG HỒ RÉO GỌI 

Ca dao tục ngữ Việt: “Đi một ngày đàng, học một tràng khôn”… Hoặc,  “Đi cho biết đó đây”… Sử Gia Tư Mã Thiên, đã từng ngao du sơn thủy  10 năm trước khi bị cung hình và viết bộ Sử Ký lừng danh thiên cổ… Lời  văn và hình ảnh sống động của Sử Ký nhờ vào những tháng ngày rong  ruổi giang hồ của Long Môn Tư Mã… 

Tiếng gọi bốn phương có sức kêu mời mãnh liệt mà chỉ có những tâm  hồn nhạy cảm và khí phách mới nghe, mới cảm và mới dám đáp trả…  Lưu Lãng Khách là một nhà thơ giang hồ. Đầu thế kỷ 21, xứ Quảng, có  một chàng trai lãng tử với túi thơ, bầu rượu, cây đàn cùng con tim chất  ngất lãng mạn. Chàng trai của miền đất địa linh nhân kiệt Núi Ấn Sông  Trà ấy, đã từng đặt chân qua khắp 3 miền Trung Nam Bắc, mà tượng  trưng là Huế, Sài Gòn, Hà Nội. Chàng xuôi Nam ngược Bắc, zigzag,  không kể trước sau theo một thứ tự ưu tiên nào –theo thời gian, không  gian, địa lý. 

Những địa danh chàng đã đi qua với đầy ắp kỷ niệm, được nhắc đến  trong gần 150 bài thơ của thi tập LƯU LÃNG CA. Ta có thể đọc thấy và  ghi nhận: Vũng Tàu, Hòn Gai, Cát Bà, Qui Nhơn, Nghĩa Lĩnh, Đền  Thượng, Phong Châu, Hiền Lương, Tràng Kênh, Bạch Đằng, Hội An, Cát 

Tiên, Đồng Nai, Nha Trang, Hồ Gươm, Thê Húc, Hồ Tây, Lãng Bạt,  Thủy Nguyên, Yên Tử, Chùa Thiên, Đền Tháp, Ba Bễ, Bạch Hạc, Sông  Lô, Sông Hồng, Sông Đà, Thanh Hóa, Hạ Long, Kinh Bắc, Tiêu Tương,  Miền Tây, Phương Nam, Phong Nha, Vạn Bội, Tiêu Sơn, Trúc Lâm, Cổ 

Loa, Dục Tú, Hoàng Giang, Phù Lưu, Đông Ngàn, Tam Sơn, Yên Phong,  Hòn Bà, Cổ Lũy, Thanh Hóa… Hầu hết thơ ca, tác giả làm ra từ suốt dọc  đường ngang dọc ấy…  

Từ giang hồ lấm bụi 

Quen muôn phương là nhà 

Bước độc hành rong ruổi 

Dệt thành Lãng Khách Ca (LLK, LKC) 

Hoặc: 

Giũ áo muôn phương còn lấm bụi 

Tiêu dao chưa phỉ chí tang bồng 

Chừng nghe gác lạnh chiều mưa đổ 

Một thời mã thượng mới sang sông (LLK, HBGH) 

Cuộc đời tác giả, có thể nói được, là cuộc đời lang bạt xa nhà, xa quê, xa  song thân, xa bằng hữu, xa cả vợ con máu thịt xương da… Âu cũng là  một phần của mệnh số tài hoa… Và sự thật là, Lưu Lãng Khách yêu tha  thiết cái mệnh số lưu lạc ấy. 

Xuôi Nam ngược Bắc thơ đầy túi 

Xuống bể lên nguồn rượu ché vơi 

Hạ giới thần thi chưa diện kiến 

Tiên bồng thánh tửu đã trăm hơi (LLK, VC) 

Hoặc: 

Người đi một sớm thu vừa đến 

Bỏ hạ tàn theo giấc mộng đời 

Vẫn hoài vương mắt môi trìu mến 

Hằn lên năm tháng nỗi chơi vơi (LLK, HTH-2) 

Thậm chí, anh tâm sự với hiền thê, cũng là bạn thiết, cũng là hổng nhan  tri kỷ… rằng mai sau, khi anh ra đi về miên viễn của đất trời uyên  nguyên, thì anh vẫn là anh, chàng nghệ sĩ của dọc ngang sông núi, của  mòn gót phong trần, của lưu linh đất khách: 

Dù anh tắt nắng ai ơi! 

Vẫn còn anh của một thời dọc ngang (LLK, DA)

BÓNG DÁNG QUÊ HƯƠNG 

Lý Bạch, chàng trai Tây Vực… cỡi con ngựa ốm ra đi, với những câu thơ nổi tiếng “Cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương.” Những câu tứ tuyệt của thi nhân họ Lý sống mãi từ thời Sơ Đường cho đến ngày nay…  Nhưng, cái “sầu” của họ Lý là cái sầu của kẻ xa nhà vì thú ngao du. Ở đây, cái đau của Lưu Lãng Khách là cái đau của ly hương vì một ý hướng… “Đêm nay gió lạnh trùng khơi / Quê hương còn mãi những lời  mẹ ru (LLK).” Con người ta có rất nhiều nơi để đến, nhưng chỉ có một  chốn để quay về…  

Quê hương là nơi chân ta có thể rời đi, nhưng tim ta vẫn mãi mãi gởi gắm  nơi đó… Đó là tâm trạng “Thân cư đất khách, tâm tại cố hương.” Lưu  Lãng Khách, người con của Quê Hương linh tú, Ấn Trà, tự khai báo lý lịch trích ngang của chính mình. Anh gắn liền với Quê Hương. Quê  Hương hoài thai anh, ôm ấp anh, khí thiêng sông núi đã hun đúc nên anh,  sau khi cha mẹ cho anh tấm hình hài… 

Lớn lên từ rơm rạ 

Bên Trà Giang lở bồi 

Quen thiên tai bão lũ 

Cơ bần từ trong nôi 

Anh! Chàng trai núi Ấn 

Từng vui cùng rạ rơm 

Từng buồn như lính trận 

Từng ơn người thảo thơm 

Hay mơ đời tươi sáng 

Đến với người quê anh 

Trẻ già thôi nước mắt 

Sớm chiều vui an lành 

Không chịu làm cá bống 

Quanh quẩn nước chè hai 

Làm cá kình biển động 

Lòng đau những canh dài 

Mẹ thương anh níu giữ 

Anh lấy gì nuôi thân 

Lấy gì lo cha mẹ 

Sớm chiều gọt vuông sân! 

Dẫu Trà Giang bẩn đục 

Vẫn là sông quê mình 

Mẹ mong anh hạnh phúc 

Lê bước đời phiêu linh 

Cha ngồi đau bóng núi 

Mẹ nằm úa hình sông 

Ngày trở về cố xứ 

Tím một trời thu đông

(LLK, A-CTNA) 

Vì, chỉ có người xa xứ mới hiểu quê hương yêu dấu ra sao? Nó thuộc về,  nó là mảnh đất cha mẹ gặp nhau xây dựng gia đình, là nơi lớn khôn của ta  và khi ta đi xa vì miếng cơm manh áo, vì đồng tiền bát gạo thật cực chẳng  đã, thật chẳng đặng đừng… mới đành từ bỏ nơi cắt rốn giấu nhau, để làm  kẻ tha phương cầu thực. 

Hãy biết rằng anh chàng trai núi Ấn. 

Viết trang đời trên những bước phiêu linh. 

Cười ngạo nghễ kiếp phong trần tứa lệ. 

Bán thanh xuân mua chút mộng an bình (LLK, CHRA) 

Rượu anh uống say đâu từ kiếp trước 

Rủi gặp anh thần thánh cũng say nhừ 

Đời ô trược anh quên mình khuôn thước 

Rã hồ cầm gối mộng nát kinh thư (LLK, CHRA) 

Xuyên suốt 150 bài thơ trong những dòng thơ LƯU LÃNG CA, anh có  nhiều bài thơ nói về Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc, cũng như có  nhiều bài thơ nói về dịp NOEL linh thiêng của đất trời tôn giáo. Nhưng,  chẳng có cái Tết nào anh hạnh phúc, chẳng có một NOEL nào ngôi Hai  nhập thể mà lòng anh ấm áp. Chẳng có NOEL nào nuôi thỏa hồn anh thao  thức –những khắc khoải siêu hình… Cho dù đó là mầu nhiệm Giáng  Sinh, như dòng chữ La-Tinh trong kinh Cựu Ước diễn tả: “Verbo Cargo  Facto Est.” 

Đêm nay đêm mồng một Tết 

Vẫn còn ai đứng bên trời 

Còn ai mơ nồi bánh tét 

Nghẹn ngào gọi cố hương ơi! (LLK, KBT) 

Hoặc: 

Nửa đời cơm áo nhiêu khê 

Ngày đi lận đận đêm về lao đao 

Nhìn trăng lồng lộng trên cao 

Nhớ quê vội áo mão vào theo trăng (LLK, NQ) 

Dù đi đâu, dù lang bạt nơi nào, dù gót chân phiêu lãng dừng lại bất cứ vùng đất xa lạ phương nao… lòng anh vẫn đau đáu nỗi thương quê, nhớ quê, mong được về lại quê… Nỗi mong ngóng ấy làm thi nhân miên man  thao thức, trăn trở, hoài vọng… 

Rời vịnh Hạ về thăm làng Cổ Tích 

Hồn Văn Lang sống dậy thuở Lang Liêu

Viếng Đền Thượng từ đỉnh trời Nghĩa Lĩnh 

Thấy Phong Châu máu nhuộm khói lam chiều (LLK, KLD) 

Mười năm rã, trở về thăm đất mẹ 

Ấn Trà xưa! Đâu non nước mỹ miều (LLK, LCN) 

Bất cứ nơi đâu, nhìn thấy bất cứ những gì… thi nhân Lưu Lãng Khách,  tác giả thi tập Lưu Lãng Ca cũng nhớ đến cố hương… nơi mà từ đó anh  bấm bụng dằn lòng ra đi, và từ đó, anh luôn mong ngóng ngày về… 

Hơn nửa đời phiêu bạt 

Hồn lạc hướng mù phương 

Nhờ hải đăng soi sáng 

Kịp thấy trời cố hương (LLK, HĐVT) 

Hồn quê, qua hình ảnh sông nước, qua thấp thoáng bếp lửa, qua mái tranh  nghèo, qua khói bếp mẹ hiền, qua mây chiều, qua khói đá, qua dáng núi,  qua bờ đê, qua mùi vị chén rượu quê nhà, qua ao hồ làng mạc… Tất cả đều linh thiêng gợi nhớ. Nam Hải Điếu Đồ than thở: “Hồn quê theo ngọn  mây Tần xa xa…” (ND, ĐTTT). 

Từ độ bỏ phương trời bao mộng đẹp 

Ta về đây nhóm bếp giữa quê hương 

Mây phiêu lãng buồn đâu từ vạn kiếp 

Cũng về theo đổ lạnh xuống đêm trường 

. . . 

Khều bếp lửa ta quên đời mưa gió 

Rượu quê nhà như có đượm ngàn hương 

. . . 

Người ra đi mong sớm ngày trở lại 

Kẻ quay về mơ tiếng gọi ngàn phương 

Ngọn lửa đốt máu giang hồ cháy mãi 

Rải âm thanh lạc điệu giữa đêm trường 

. . . 

Lửa bỗng khóc như nói lời trăn trối 

Ta bỗng cười như mới được đầu thai… (LLK, BLTQ) 

Lưu Lãng Khách, thi nhân luôn mong ngóng ngày trở lại. Lòng mong  ngóng ấy, gieo vào lòng anh ý niệm núi rừng ngõ lời kêu gọi mời mọc  anh về… Chỉ có nhà thơ, với tâm hồn nhạy cảm diệu vời của thi nhân…  chỉ với tình yêu quê hương sâu đậm, thao thiết… mới nghe được âm  thanh của vạn vật cỏ cây sông núi ao hồ… lên tiếng mời gọi. 

Ta hát mãi bên đồi hoang huyễn mộng 

Biết đâu chừng cây cỏ đã tri âm 

Từ dạo ấy chưa một lần trở lại

Để lắng nghe tâm sự của núi rừng (LLK, BCHX) 

Hoặc: 

Trăng bến cũ quên rồi câu tống biệt 

Sao trăm năm còn nợ khúc tương phùng 

Anh về đây chỉ có trời đất biết 

Giọt kiêu hùng thấm lạnh nước trên sông (LLK, TLHA) 

Thương quê, nhớ quê, mong ngóng quê… anh đành giấu kín trong lòng,  chỉ ước mơ trong tâm tưởng, chỉ thăm viếng trong những giấc mộng, cơn  mê… như Tiên Điền Nguyễn Du đã ngậm ngùi thốt lên:“Mây Tần khóa  kín song the. Bụi hồng liệu nẻo đi về chiêm bao.” (ND, ĐTTT). 

ĐẠO HIẾU — SONG THÂN 

Cụ Nguyễn Đình Chiểu, qua Lục Vân Tiên, thì “Trai thời trung hiếu làm  đầu. Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.” Cũng có một câu nói được  truyền tụng sâu rộng trong dân gian, “Nước biển mênh mông không đong  đầy tình mẹ. Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha…” Thập Giới  của Môi-Sen (Ten Commandemants) về đạo hiếu mà người Ki-Tô Giáo  xem trọng như một TÍN ĐIỀU bắt buộc, bất khả dị nghị… không bàn  cãi… Đó là: Điều Răn thứ 4: “Thảo Kính với Cha Mẹ.” 

Thời đại nầy, không còn như cái thời mà Đức Khổng Phu Tử khuyên con  cháu về đạo HIẾU, như “Phụ mẫu tồn bất khả viễn du…” Cái thời mà cha  mẹ còn sống, con cái, nhất là con Trưởng Nam, không được đi xa, nếu có  việc cần ra đi, thì cũng phải cho cha mẹ biết nơi đến, và thời hạn nhất  định chừng mực… “Du tất hữu phương…” 

Nhiều đêm xuân nhớ mẹ 

Trường canh rỏ lệ mờ 

Mộng hồi hương chửa chín 

Nỗi niềm gửi trang thơ (LLK, LKC) 

. . . 

Anh về lay bóng núi 

Anh về gọi hồn sông 

. . . 

Cha nằm như núi ngủ 

Mùa thu vừa đi qua (LLK, CNNNN) 

Nhưng, trái lại, vào thời đại A Móc (@): Làm trai, phải lên đường, phải  xông xáo, phải ra khỏi lũy tre làng để cầu công danh… Ngay cả thời  Phong Kiến trước và sau Đức Vạn Thế Sư Biểu, thì Trương Nghi, Tô  Tần, Trần Bình, Hàn Tín, Lưu Bang, Tôn Tẩn, Bàng Quyên, Ngô Khởi, 

Trương Lương, Khổng Minh… đều phải ra đi, đi khỏi làng… Hơn hai  nghìn năm sau, Lưu Lãng Khách cũng cùng một ý hướng ấy. Ra đi để tìm  sinh lộ, tìm hứng khởi, tìm sáng tạo… Ra đi để làm trai… 

Trở về thăm mẹ chiều nay 

Dường nghe nắng phía hiên tây thở dài (LLK/TTVL) 

Hoặc: 

Con trở lại cố hương một chiều hanh hao nắng 

Mùa cha đi trút nốt cánh vàng rơi 

Mây Thiên Ấn tựa hình cha ẩn hiện 

Sóng Trà Giang như tiếng mẹ ru hời (LLK, MCĐ) 

Ra đi để sống, để nghe, để thấy, để biết nhớ thương… Ra đi là khám  phá… Điều quan trọng là ra đi mà vẫn gắn liền với gốc gác cội nguồn; ra  đi mà còn trở về; ra đi mà làm vẻ vang dòng tộc… dù việc ra đi ấy có cô  độc, có thiếu thốn, có quạnh hiu… cũng đành. Ra đi mà thờ cha kính mẹ 

trọn niềm… Vạn hạnh hiếu vi tiên. Ra đi nghìn dặm mà Lưu Lãng Khách  kính cẩn đội chữ HIẾU lên đầu. 

Áo sổ chỉ trùng dương thèm tay mẹ 

Xe gãy sườn hẻm vắng khát tình cha 

Ai tạc khắc vào hồn ta rất nhẹ 

Nỗi đìu hiu bám rễ trước hiên nhà (LLK, TCĐ) 

Thiếu cha vắng mẹ, anh lạc loài, anh bơ vơ… Biết thế, nhưng rồi anh lại  ra đi… Giản dị, vì anh làm trai đúng nghĩa, bốn phương hải hồ giục anh  đi… sông núi quê cha đất mẹ gọi anh về… “Trượng phu thoắt đã động  lòng bốn phương…” (ND, ĐTTT). 

Trải chuyện đời dâu bể 

Người ngồi tựa dáng non 

Ba ơi! Giờ bóng núi 

Đã úa gầy rêu rong (LLK, VCB) 

Hoặc: 

Chắc là nhớ mẹ già nơi cố quận 

Chiều ba mươi còn vọng ngóng con về 

Chắc là thương cha ngồi khêu bếp lửa 

Đêm giao thừa bánh tét rựng hồn quê (LLK, XĐTXM) 

Chuyện đời đầy bất trắc. Dòng đời đầy bất ngờ. Cảnh đời đầy trái  ngang… Những dự định luôn bất như ý. Ước mơ thường bất thành… 

Chuyện trở về, nhiều lần, chỉ còn là hứa hẹn suông… Một đời người luôn  dang dở… 

Buổi ấy con về thu tang tóc 

Nghi ngút trầm hương di ảnh cha 

Mộ chí đìu hiu chưa cỏ mọc 

Vĩnh biệt thân sinh mắt lệ nhòa 

Cha đi! Mới biết, về ăn Tết 

Già đầu ai bảo hắn mồ côi 

Mà con ngồi khóc như đứa trẻ 

Ngậm ngùi xuân đến gọi cha ơi! (LLK, XĐCV) 

Và: 

Thiên Ấn cha nằm đau núi ngủ 

Trà Giang mẹ đứng xót sông trôi (LLK, XXM) 

BẰNG HỮU CHI GIAO 

Lưu Lãng Khách có người bạn thơ đồng hương. Đó là nhà thơ tài hoa lận  lận Ba La Nguyễn Lâm Anh. Phần mình, mình lưu lạc. Phần bạn, bạn  lênh đênh… Bởi sóng đời xô giạt, bởi con nước chia phôi, bởi bèo mây tụ tán, bởi bình thủy tương phùng… Càng ngày, bèo mây càng xa nhau vời  vợi. Thời gian, xa đến 40 năm nhớ thương, mong ngóng, ray rức cội  nguồn… và… Không gian, Nghĩa Hà (Quảng Ngãi) – Cát Tiên (Lâm  Đồng), đất trời xa ngái, hồn quê vời vợi, tình bạn man man… 

Chớm bốn mươi năm hờn đáy cốc 

Lòng hiu như cổ tự bên rừng 

. . . 

Hồn say ngất ngưởng nơi đầu gió 

Nhớ người mái phố cũng rưng rưng (LLK, BANV) 

Hoặc: 

Đứng lặng bên hiên hồn gió thổi 

Xiêu dạt về non lướt ngập ngừng 

Cát Tiên thánh địa cuồn cuộn khói 

Nhớ người đất Trích cũng rưng rưng (LLK, ĐXNB) 

Đối với nhà thơ, mà tựu trung là Lưu Lãng Khách, thì ra đi và trở về là  một. Hải hồ bốn cõi gọi ta đi. Sông nước quê hương réo ta về. Ra đi và  trở về cũng chỉ là một chu trình nối tiếp của cuộc sống, của bước chân,  của tâm thức, của kiếp người, của thân phận, của mong manh mây khói,  của vân yên giang hà… Ra đi để trở về. Trở về rồi lại ra đi…

Còn đây “Bến cũ và dũng sĩ” 

“Ngày về sao giống buổi ra đi” (LLK, NB) 

Hoặc: 

Đôi vần thơ đẫm đôi dòng lệ 

Bóp trái tim này muốn vỡ ra 

Một lần vĩnh biệt đành thôi nhé! 

Mai đào hãy tiễn một tài hoa (LLK, KLA) 

Một triết gia Âu Tây đã nói: “Tình bạn cũng như rượu, càng lâu càng  ngọt ngào quý hiếm.” Bốn mươi năm tình bạn chia cách. Đủ. Quá đủ…  Quá dư. Thời gian nghiệt ngã quá thừa… Ngạn ngữ Anh: “Muốn kết bạn  với ai, hãy cùng nhau ăn hết vài đấu muối…” Nghĩa là phải chia bùi xẻ 

ngọt… cùng kinh qua gian truân… cùng đau lòng chia cách, khắc khoải,  nhớ thương. 

Ta tìm trong mộ chí 

Ngoài vui buồn thế gian 

Thấy người xưa như đã 

Thấy hồn mình như đang (LLK, TT) 

Hoặc: 

Rượu bằng hữu mười năm chưa uống cạn 

Thơ tri âm một kiếp vẫn nằm chờ (LLK, TCĐ) 

TÌNH CHỒNG NGHĨA VỢ 

Chữ DUYÊN của nhà Phật, thì cõi đời nầy, được làm người đã khó, gặp  nhau càng khó hơn… Vợ chồng phối ngẩu là duyên lớn. Cho nên, phải  trân trọng, phải vun quén, phải tô bồi, phải giữ gìn… Người xưa bảo  “Phu phụ như tân.” Vợ chồng nên đãi nhau như khách quý. Vì, “Trăm  năm tình viên mãn. Bạc đầu nghĩa phu thê” (LLK). Tình nghĩa vợ chồng  gắn bó xây dựng bền vững gia đình, do nhân duyên đại định… Gia đình  là đơn vị chính, là tế bào gốc, là căn bản của xã hội, bất cứ xã hội nào… 

Qua “Đài Gương Truyện,” Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu nhắc nhở… “Vợ chồng nghĩa nặng tình sâu. Thương nhau đến lúc bạc đầu còn thương”…  Hạnh phúc của vợ chồng, là vì nhau mà cố gắng, vì nhau mà tin tưởng và  vì nhau mà thay đổi… Đổi thay là tự canh tân để hòa giải những bất  đồng, dị biệt…

Kinh Thánh Cựu Ước chép: “Người vợ đức hạnh là vương miện của  chồng.” Một danh ngôn khác, cũng từ Cựu Ước: “Người đàn bà đức hạnh  quý hơn châu ngọc.” Ca dao tục ngữ nước nhà cũng nói “Vợ ngoan làm  quan cho chồng.” Phải thành khẩn mà nói, nếu không có người vợ Như 

Nguyện đảm đương, nếu không có người nội tướng Như Nguyện để thi  nhân an lòng, để nhớ thương, để tìm về… thì Lưu Lãng Khách không dệt  được những vần thơ đầy ắp chân tình trong Lưu Lãng Ca… để “Thương  tặng vợ hiền…” để cống hiến đời. 

Từ gọi nhau chồng vợ 

Rồi thêm mấy mặt con 

Ta vẫn tình như thuở 

Em vẫn ngời xuân son (LLK, NTPT) 

Như Nguyện, tên người con gái chân quê, theo lời tác giả… là người tình,  người bạn, người yêu, là hồng nhan tri kỷ… Cái tên Như Nguyện ấy, tác  giả trìu mến gọi chẳng biết bao nhiêu lần, từ đầu, tới cuối, lan man suốt  tập thơ… Đối với Lưu Lãng Khách, tình nghĩa phu thế ấy vô cùng thâm  trọng, nặng niềm sắt son, keo sơn gắn bó. Chắc chắn, con người tình  nghĩa thâm trọng ấy phải công dung ngôn hạnh. Một đời, dù luôn xa  vắng, vẫn cúc cung tận tụy thờ chồng nuôi dạy con.  

Ngày tủi phận cười khan không bạn nhớ 

Đêm đau lòng nhỏ lệ có em thương 

. . . 

Chỉ có em dâng ngàn chung rượu quý 

Mùi nghĩa tình vị son sắc thủy chung 

. . . 

Cám ơn em dẫu quần khâu áo vá 

Vẫn vui bên no đói nắng mưa đời 

. . . 

Cám ơn em! Dẫu đời bao khốn khó 

Lắm chông gai vẫn vui bước song hành 

Gỡ hộ anh những nỗi niềm trăn trở 

Những thăng trầm khi tóc đã thôi xanh (LLK, COE) 

Tác giả Lưu Lãng Khách dành hết tình yêu thương, sự trân quý và lòng  biết ơn đối với người bạn đời Như Nguyện. Với người vợ Như Nguyện  thủy chung, có chàng trai Duy Toàn chung thủy… Ngoài nét đẹp hữu  hình (công dung ngôn hạnh)… những nét đẹp khác lung linh như châu  ngọc ở người đàn bà, ấy là đức thủy chung như nhất, là keo sơn trọn  niềm… Vợ chồng là nhân duyên trời định và chỉ người trong cuộc mới có  thể cảm nhận sâu sắc những đắng cay, ngọt bùi, hạnh phúc trong cuộc  hôn nhân mà họ trải qua.  

Bao năm tháng bồng bềnh phiêu bạt mãi

Vợ trong anh như kho báu để dành 

Một sáng nọ giật mình ngoãnh lại 

Thấy đường đời rụng trắng xuân xanh (LLK, BLG) 

Kinh Thi: “Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.” Khi một người vợ có một  người chồng tốt, điều đó dễ dàng nhận thấy trên khuôn mặt của cô ấy  (Johann Wolfgang von Goethe). Một cuộc hôn nhân tuyệt vời không phải  là khi 2 người hoàn hảo đến với nhau. Nhưng đó là khi một cặp vợ chồng  không hoàn hảo học cách tận hưởng sự khác biệt của họ (Dave Meurer).  Một cuộc hôn nhân tốt là một cuộc hôn nhân cho phép thay đổi và trưởng  thành trong các cá nhân và trong cách họ thể hiện tình yêu của mình  (Pearl S. Buck). Người chồng biết cách làm cho vợ cười, quả thật là  người chồng tuyệt vời nhất trên đời (Nandita Saini). Hãy đọc tiếp những  vần thơ “Thương tặng Như Nguyện” của Lưu Lãng Khách. 

Ngoài danh thắng ruột rà không thể thiếu 

Là tửu thi hoa nguyệt bạn và em 

Với bằng hữu ta rót tình muôn phía 

Với em, hề! Nhỏ mật xuống đêm đêm 

. . . 

Giờ luống tuổi chẳng xuôi Nam ngược Bắc 

Cùng muôn phương ngồi cạn chén tương phùng 

. . . 

Giờ ta đứng giữa đất trời phương Bắc 

Vọng phương Nam bưng mặt xót giang hồ 

Sáng Hoa Lư dạ thương về cố quận 

Chiều Đại La lòng lại nhớ Tây Đô (LLK, KTT) 

TẠM THAY LỜI KẾT 

Sau khi duyệt qua 150 bài thơ trong thi tập Lưu Lãng Ca của nhà thơ Lưu  Lãng Khách Nguyễn Duy Toàn, một thi nhân tài hoa của miền Núi Ấn  Sông Trà, chúng ta đã thực chứng 5 điểm nổi bật, như đã phân tích và  trình bày: (1) Lưu Lãng Khách là một Thi Nhân Giang Hồ, ông xuôi  ngược hầu hết mọi miền và những danh lam của đất nước. (2) Nhưng, dù  đi đâu về đâu… thì Quê Hương (hay cố hương) trong lòng ông vẫn là  điểm tựa, là nơi để nhớ thương, để khắc khoải, để mong ngóng, để trở về.  (3) Cùng với tấm lòng thao thiết với Quê Hương, thì, Đạo Hiếu với Song  Thân cũng là một chất keo sơn, là sợi dây thiêng liêng vô hình gắn bó,  nối kết, thắt chặc vững bền tình với nghĩa, đất và người. (4) Tình Bằng  Hữu chi giao cũng là một chất keo sơn gắn bó khác, làm cho thi nhân trau  dồi đức trung tín của chính mình, từ đó, có những câu thơ mọc cánh, bay  bổng, phiêu nhiên. Cuối cùng, (5) Tình vợ chồng, nghĩa phu thê trước sau  vẹn tròn hoàn mỹ.

Với kẻ viết bài TỰA nầy, Phù Hư Dật Sĩ, kinh qua ½ thế kỷ lưu lạc xứ người vạn dặm, từng gặm nhấm thân phận lưu đày, từng đau đáu ngóng  mong ngày đoàn tụ trở về… thì Quê Hương là nơi đáng sống nhất và  cũng là nơi đáng chết nhất, so với bất cứ nơi nào trên hành tinh nầy…  Cũng đối với kẻ viết bài TỰA nầy, thì chẳng riêng gì miền núi Ấn sông  Trà mới là địa linh, mà, bất cứ mảnh đất nào của Quê Hương VIỆT  NAM, mà cha ông đã từng đổ mồ hôi để ấp yêu, để vun bồi, đã đổ máu  để hy sinh bảo vệ… cũng đều là Địa Linh. Mà, đã địa linh, tất sinh ra  Nhân Kiệt.  

Lưu Lãng Khách, người con trai làm thơ, đã lấy ba miền đất nước làm  Quê Hương, đã xuôi ngược, đã đi đã về, đã nhớ thương, đã mong  ngóng… Cũng từ đó, và, cũng bởi đó, mà những câu thơ đã phôi khai, đã  kết tụ, đã mang nặng, đã đẻ đau, đã cho ra đời để cống hiến đứa con tinh  thần có tên LƯU LÃNG CA. Xin ưu ái giới thiệu với chư bằng hữu văn  nghệ. Xin hãy đón nhận LƯU LÃNG CA với tất cả độ lượng và hào  phóng cùng với tinh thần thưởng thức văn nghệ cao độ… dành cho một  người nghệ sĩ chỉ biết yêu thương và phấn đấu: LƯU LÃNG KHÁCH  Nguyễn Duy Toàn. 

Võ Thạnh Văn, phds, 2021 

Viết tại Phù Hư Am, 

Mùa trốn dịch Covid @2019-2021.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: