Nguyễn Mạnh Hùng: Cuộc chiến Việt Nam dưới con mắt của một người trong cuộc

Nguyễn Mạnh Hùng: Cuộc chiến Việt Nam dưới con mắt của một người trong cuộc

Gọng Kìm Lịch Sử là một cuốn hồi ký viết theo kiểu Mỹ dành cho độc giả người Việt. Nói vậy có nghĩa là cuốn Gọng Kìm Lịch Sử không phải chỉ ghi lại lời kể chuyện nhớ đến đâu ghi đến đấy, mà còn là một cố gắng tìm tòi dữ kiện, tra cứu sách vở, viện dẫn tư liệu để bổ túc thêm cho những điều mà chính tác giả chứng kiến. Cho độc giả ngoại quốc thì ông Bùi Diễm đã xuất bản cuốn In the Jaws of History viết chung với David Chanoff từ năm 1987. Gọng Kìm Lịch Sử là cuốn sách viết cho độc giả người Việt. Tuy có lập lại những điểm chính trong cuốn sách Anh ngữ, nhưng Gọng Kìm Lịch Sử không phải là bản dịch của cuốn sách ấy. Đây là cuốn sách được viết hẳn lại, khai triển và đưa ra nhiều chi tiết hơn, những chi tiết mà độc giả người Việt quan tâm. Đây là một cuốn hồi ký, qua câu chuyện cá nhân, tóm gọn đầy đủ một giai đoạn lịch sử sôi động và gần nhất của nước ta, từ Đệ Nhị Thế Chiến cho đến ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa. Giai đoạn lịch sử này được thuật lại theo cái nhìn của một người trong cuộc, một nạn nhân của “Gọng Kìm Lịch Sử”.

Trong nhiều lần nói chuyện cũng như ngay trong lời tựa của cuốn sách, cựu đại sứ Bùi Diễm cho rằng cuốn hồi ký của ông không phải chỉ là chuyện cá nhân mà còn phản ảnh kinh nhiệm chung của những người quốc gia thuộc thế hệ ông. Nói vậy chỉ đúng một phần. Ông Diễm là một người, vì liên hệ gia đình và biệt tài cá nhân, đã được lịch sử đặt vào vị thế đặc biệt để hành động và chứng kiến nhiều điều mà những người khác cùng thế hệ ông không có được. Tác giả hoặc làm việc mật thiết với hoặc ở gần nhiều nhân vật lịch sử và văn học của Việt Nam, vì thế cho ta biết được một số chi tiết đặc biệt và những kỷ niệm cá nhân của tác giả đối với các nhân vật như Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Trương Tử Anh, Võ Nguyên Giáp, Nghiêm Kế Tổ, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Phan Huy Quát, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Văn, Trần Văn Tuyên, Nghiêm Xuân Hồng, Trần Văn Đỗ, Lê Văn Kim,… Trong số những người kể trên, ông nói nhiều nhất đến sáu người: Trương Tử Anh, Trần Trọng Kim, Phan Huy Quát, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, và Nguyễn Văn Thiệu. Ông tỏ ra mến trọng ba nhân vật đầu và không phục ba nhân vật sau.
Hồi ký là loại sách lịch sử chính trị vừa kể lại chuyện đã qua, vừa biện minh cho tác giả. Trong sách, ông Diễm được dịp giải thích ba việc: việc ông tiếp tục làm việc với tướng Kỳ sau khi Thủ Tướng Quát từ chức là do chính ông Quát khuyên, chứ không phải ông phản ông Quát; việc Tổng Thống Thiệu trì hoãn không chịu tham gia hội đàm Ba Lê trước cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 1968 không phải vì ông đi đêm với phe Cộng Hòa khuyến cáo để làm lợi cho ứng cử viên Nixon như những người trong chính quyền dân chủ và báo chí Mỹ buộc tội ông; việc ông Thiệu nghi ông là người của ông Kỳ là không đúng, ông là người yêu nước độc lập chứ không phải là người của ông Kỳ chống lại ông Thiệu.
Ngoài ra, tác giả cũng có dịp đính chính một vài sai lầm và tiết lộ một số chi tiết lịch sử khác. Ông chỉ trích Stanley Karnow “hoàn toàn sai” khi nói rằng bài diễn văn ông Kỳ đọc tại Hội Nghị Honolulu năm 1966 là do các cố vấn Hoa Kỳ soạn thảo. Ông xác nhận chỉ có ông, ông Vũ Đức Vinh và ông Nguyễn Ngọc Linh là ba tác giả duy nhất của bài diễn văn đó (trang 267). Ông tiết lộ bí mật hậu trường của đảo chính năm 1963 liên quan đến việc bổ nhiệm ông Nguyễn Ngọc Thơ, cựu Phó Tổng Thống của ông Diệm, là Thủ Tướng trong chính quyền quân nhân đầu tiên sau cuộc đảo chính (trang 180).
Gọng Kìm Lịch Sử cung cấp cho độc giả một số chi tiết đặc biệt không thấy trong những cuốn sách khác – cả tiếng Việt lẫn ngoại ngữ – viết về cùng một giai đoạn lịch sử, nhất là về những uẩn khúc trong mối liên hệ Việt-Mỹ.
Khi viết về những biến cố quan trọng năm 1945, người ta thường hay nhắc đến cuộc biểu tình của công chức ngày 17 tháng 8 và cuộc “cướp chính quyền của Việt Minh” ngày 19 tháng 8 (còn gọi là “cách mạng tháng 8”). Ông Diễm cũng đề cập đến hai biến cố đó nhưng đồng thời còn kể thêm ngày giỗ tổ Hùng Vương tại Đông Dương Học Xá do các sinh viên Việt Nam tổ chức vào tháng 3 năm 1945 như một diễn biến quan trọng nói lên tinh thần yêu nước và khí thế đấu tranh của thanh niên thời đó (trang 46, 47, 188). Ông thuật lại sự can thiệp từ rất sớm của Hoa Kỳ vào nội tình chính trị Việt Nam qua cuộc vận động năm 1953 của Đại Sứ Donald Heath để cho Hội Nghị Toàn Quốc chấp thuận một quyết nghị chống gia nhập Liên Hiệp Pháp “tương đối nhẹ nhàng hơn bản dự thảo lúc đầu” (trang 132-136). Ông tiết lộ những vận động bên cạnh Quốc Trưởng Bảo Đại năm 1954 của ông để ủng hộ ông Phan Huy Quát và của ông Ngô Đình Luyện để ủng hộ ông Ngô Đình Diệm, và thỏa thuận hợp tác giữa ông và ông Ngô Đình Luyện về việc thành lập một chính phủ đoàn kết trước khi ông Diệm được bổ nhiệm làm Thủ Tướng (trang 142-149). Ông cũng viết về những cố gắng không thành năm 1956 của tướng Lawton Colins và đại tá Lansdale nhằm hàn gắn giữa ông Diệm lúc bấy giờ đã là Thủ Tướng và ông Quát lúc bấy giờ đứng ngoài chính quyền (trang 150).
Nói về trách nhiệm của cuộc bại trận năm 1975, ông Diễm là một trong những người Việt hiếm có không những chỉ quy trách sự thất bại của miền Nam cho chính sách sai lầm của Hoa Kỳ và sự bất lực của các nhà lãnh đạo tối cao của Việt Nam Cộng Hòa mà còn cho rằng chính những người như ông cũng phải chịu một phần trách nhiệm.
Về phía Mỹ, ông phàn nàn rằng cuộc đổ bộ của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ lên Đà Nẵng ngày 8 tháng 3 năm 1965 đặt tại Việt Nam trước một sự đã rồi (trang 220-225). Quyết định quan trọng làm thay đổi bản chất của cuộc chiến ấy đã được quyết định giữa tướng Westmoreland ở Việt Nam và bộ Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ. Chính bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng không được hỏi ý kiến và Đại Sứ Taylor cũng “sửng sốt”. Bác sĩ Quát yêu cầu phải “đồng ý về một biện pháp đã được chính phủ Hoa Kỳ đơn phương tuyên quyết và đang được thi hành” (trang 226).
Ông chỉ trích cách thức Hoa Kỳ đối xử với Việt Nam. Ông viết: “Chúng tôi được biết qua báo chí là cộng sản ở Mạc Tư Khoa thường có những danh từ không đẹp đẽ để nói về các đồng chí của họ ở Hà Nội, nhưng ít nhất họ cũng giữ cho thể diện, trải thảm đỏ để tiếp đón ‘những người anh em’. Trái lại đối với chúng tôi thì những bạn ‘đồng minh’ lại đối xử như những người bệnh hoạn, cần phải tránh xa” (trang 438). Ông phê bình nặng nề “lề lối làm việc giấu giếm” của ông Kissinger và Ngoại Trưởng Rogers, và cho đó là “thái độ không cần thiết, thiếu xứng đáng của một cường quốc lớn như Hoa Kỳ đối với một nước nhỏ bé như miền Nam Việt Nam” (trang 467).
Ông nhận xét một cách chua chát rằng “Mục đích sự can thiệp của Hoa Kỳ không phải là xây dựng dân chủ hay lành mạnh hóa xã hội Việt Nam” mà “ưu tiên số một là giữ được miền Nam Việt Nam luôn luôn ổn định (trong giai đoạn đầu là để theo đuổi mục đích chiến tranh và trong giai đoạn cuối là để có thể rút ra trong vòng trật tự)” (trang 465).
Về phía Việt Nam, ông Diễm phàn nàn về sự “thiếu hiểu biết của Việt Nam về chính sách, chủ định và lề lối làm việc của Hoa Kỳ” (trang 231). Ông thú nhận “thực sự chúng tôi [ông và ông Quát] không biết chút gì về chủ ý của Hoa Kỳ… Lúc đó, chúng tôi có cảm tưởng là đi trong sương mù” (trang 228-229). Thú nhận của ông Diễm buộc người ta làm một so sánh: Hoa Kỳ có nhiều cơ quan nghiên cứu như thế mà vẫn bị trách là không hiểu biết về Việt Nam, thế mà khi phải đối đầu với một đồng minh lớn mạnh và vụng về như Hoa Kỳ, chính quyền Việt Nam không hề nghĩ đến việc lập các cơ quan nghiên cứu độc lập, những bộ phận tham mưu có kiến thức chuyên môn về Hoa Kỳ (khác với Sở Nghiên Cứu Chính Trị của bác sĩ Trần Kim Tuyến và Nha R của Cục Trung Ương Tình Báo thời ông Thiệu) để giúp chính phủ đối phó với Hoa Kỳ, mà lại chỉ dựa vào những thăm dò cá nhân, và một trong nguồn tin quan trọng của những cuộc thăm dò này lại là các ký giả Mỹ! Ông Diễm, qua tự học và thực tập mà thành chuyên viên duy nhất. Ông trở thành người “trung gian thích hợp” giữa Hoa Kỳ và Việt Nam (trang 249).
Ngoài những nhận xét sâu sắc của một người hiểu biết về chính trị nội bộ của cả hai nước, ông Diễm còn đưa ra một số kết luận khiến người đọc thắc mắc muốn tìm hiểu thêm để rút ra những bài học lịch sử. Ông Diễm kể lại những biến cố quan trọng trong tháng 8 năm 1945. Ông nói đến ngày giỗ tổ Hùng Vương của sinh viên Hà Nội, đến cuộc biểu tình của các công chức ngày 17/8, và Việt Minh cướp chính quyền ngày 19/8. Trong thời gian này, ông Hoàng Văn Đào còn đề cập đến một sự việc quan trọng khác. Đó là việc ông Trương Tử Anh ngăn cản dự tính cướp chính quyền ngày 17 tháng 8 của ông Nguyễn Xuân Tiếu, lãnh tụ Đại Việt Quốc Xã, và việc “các đồng chí ĐVQDĐ” chống đề nghị cướp chính quyền trong phiên họp đêm 18 tháng 8 của Liên Minh Quốc Dân Đảng về tránh cảnh “nồi da sáo thịt” có lợi cho Pháp (1). Là một đảng viên Đại Việt Quốc Dân Đảng và là người thân với ông Trương Tử Anh, ông Diễm biết gì và nghĩ sao về lời buộc tội của ông Hoàng Văn Đào?
Về cuộc hành quân Lam Sơn sang Lào vào mùa xuân năm 1971, ông Diễm viết “Chính phủ Việt Nam cũng cho mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua miền Hạ Lào. Đây là một thí nghiệm để đo lường xem chương trình Việt Nam hóa chiến tranh thành công hay thất bại” (trang 483). Câu này cho người đọc có cảm tưởng cuộc hành quân Lam Sơn là một sáng kiến của Việt Nam Cộng Hòa. Rồi ông nói đến phản ứng chính trị bất lợi mà cuộc hành quân Lam Sơn gây ra tại Hoa Kỳ vì nó đã tạo cớ để phe phản chiến biểu tình liên tục chống hành động hiếu chiến của Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên, qua các “tin tức từ Sài Gòn gửi qua” và sự dò hỏi nơi “các tướng lãnh Hoa Kỳ” ông Diễm không cho rằng cuộc hành quân ấy là một thất bại quân sự. Ông kết luận “Tổn thất thật sự của cả hai phía không ai rõ, và cũng không có ảnh hưởng trực tiếp nào đến chiến cuộc” (trang 484-485).
Kết luận này dường như không được tướng Nguyễn Duy Hinh, cựu tư lệnh sư đoàn 3 chia xẻ. Trong cuốn Lam Son 719 do Trung Tâm Quân Sử Hoa Kỳ bảo trợ và xuất bản, qua những lời mô tả khéo léo của tướng Hinh, người đọc thấy nhiều yếu tố để hiểu rằng đó cũng là một thất bại quân sự. Trước hết, cuộc hành quân không đạt được yếu tố bất ngờ như mong muốn. Địch quân đã tiên liệu và chuẩn bị “từ 5 tháng trước, một số lớn các kho đạn đã được di tản khỏi” vùng tấn công (2). Như vậy khi tiến quân sang Lào, quân đội Việt Nam đã lọt vào trận địa của cộng sản. Thứ hai, cuộc hành quân dự tính được thực hiện qua bốn giai đoạn “trong một thời gian vô hạn định” (3). Thế mà chỉ trong vòng 45 ngày cuộc hành quân đã bị “chấm dứt một cách bất ngờ và vội vã” với nhiều tổn thất (4). Theo tướng Hinh, Lam Sơn 719 là “một kinh nghiệm chiến trường đẫm máu cho quân lực Việt Nam Cộng Hòa dưới sự chỉ huy của Quân Khu I. Gần 8.000 binh sĩ mạng vong và hàng triệu Mỹ kim quân cụ đã bị hy sinh” (5). Đặc biệt hơn nữa, cuộc hành quân đó tuy được tướng Cao Văn Viên, Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Tổng Thống Thiệu đồng ý, nhưng lại khởi đầu từ lời “khuyến cáo” của tướng Creighton Abrams vào đầu tháng giêng năm 1971. Và, tuy chính tướng Viên trước đó cũng nghĩ đến việc hành quân sang Lào để triệt hạ đường tiếp tế của cộng quân, ông chỉ muốn tổ chức một cuộc “đột kích” nghĩa là một “cuộc hành quân ngắn hạn” (6).
Sự phân tích của ông Diễm nhắm nêu ra hai điểm chính: sự sai lầm trong chính sách của Hoa Kỳ và thế kẹt của những người “quốc gia” yêu nước.
Về sự can thiệp của Hoa Kỳ, ông đã cẩn thận nói ngay từ đầu rằng sự suy luận của ông chỉ có tính cách “hậu nghiệm”, rồi ông nhận xét: “Can thiệp cũng như thai nghén. Nếu đã không có thai nghén nửa chừng, thì cũng không có can thiệp nửa chừng… Thay vì tiếp tay với các tướng lãnh để tạo một tình thế tốt đẹp hơn trước, thì họ lại khoanh tay ngồi nhìn” (trang 191). Một đoạn khác, ông viết “những khó khăn mà họ đã gặp phải chính là do chính sách can thiệp nửa vời của họ” (trang 204). Câu hỏi đặt ra là có phải ông Diễm muốn Hoa Kỳ can thiệp sâu đậm vào nội bộ của Việt Nam đòi hỏi các tướng lãnh làm dân chủ hay buộc họ phải nhường quyền lại cho một chính quyền dân sự? Điều này liệu có thực hiện được không vào thời điểm ấy? Và một sự can thiệp sâu đậm của Hoa Kỳ vào chính trị nội bộ Việt Nam có phải lúc nào cũng là một điều đáng mong muốn? Có cách nào để phân biệt được trong trường hợp nào sự can thiệp sâu đậm của Hoa Kỳ vào nội tình Việt Nam là đúng còn trong trường hợp nào một sự can thiệp sâu đậm như vậy lại sai?
Ở một đoạn khác, ông Diễm viết: “Chính sách của Hoa Kỳ không những thiếu tính cách liên tục mà còn thiếu cả tế nhị đối với nước bạn” (trang 580). “Ngay ở những cấp cao nhất của chính quyền Hoa Kỳ, dường như ai cũng coi nhẹ vấn đề tham khảo ý kiến của chính phủ Việt Nam” (trang 577). Rồi ông kết luận:
“Nếu từ 1965, Hoa Kỳ chịu hỏi ý kiến và lấy thỏa hiệp của Việt Nam trước khi có những quyết định quan trọng, thì cục diện có thể đã khác. Chính phủ Việt Nam có thể yêu cầu hạn chế quân số Mỹ và thời gian đồn trú, rồi chỉ yểm trợ Việt Nam bằng không lực hoặc tiếp cứu ở trường hợp bị nguy cấp, và nhất là xúc tiến huấn luyện và canh tân trang bị. Tóm lại là sớm Việt Nam hóa thay vì tham chiến ồ ạt. Ngoài ra một thỏa hiệp giữa Hoa Kỳ, Lào và Việt Nam cho phép Hoa Kỳ trú đóng làm hàng rào chạy băng qua Lào và Việt Nam theo vĩ tuyến 17 rất có thể thực hiện vào thời đó” (trang 578). Đây là một đề nghị có vẻ hợp lý. Nhưng thử hỏi nếu Mỹ tham khảo ý kiến Việt Nam thì lúc đó, năm 1965, có bằng chứng gì cho thấy phía Việt Nam có khả năng đưa ra những đề nghị chiến lược táo bạo như trên? Đó là chưa kể nếu Hoa Kỳ nới rộng chiến tranh sang Lào thì liệu Cộng Sản Việt Nam có thể, với sự yểm trợ của Trung Quốc và sự hợp tác của Pathet Lào và Cộng Sản Thái, nới rộng chiến tranh sang Thái Lan làm xáo trộn nước này và làm cho Hoa Kỳ sa lầy hơn nữa? Ngoài ra, thời ông Quát, làm Thủ Tướng, ở thành phố thì chính trị bất ổn vì phe chống chính phủ xuống đường và biểu tình liên miên. Còn ở nông thôn, theo kết luận của nhiều nhà nghiên cứu Mỹ, quân đội Việt Nam đã bị đánh lui ở nhiều nơi và mất tinh thần. Đê đã vỡ. Miền Nam Việt Nam lúc đó, theo tướng Westmoreland, “đang trên đà có thể bị Việt Cộng chiếm hết trong vòng một năm” (7). Trong trường hợp cần phải gấp rút chặn đứng đà thất trận (“stop losing”) như vậy, liệu một sự can thiệp quân sự nhỏ giọt, nửa vời của Mỹ có đạt được mục tiêu trên hay không?
Vì thế kẹt của người “quốc gia” yêu nước, ông Diễm cho rằng người quốc gia “Bị kẹt vào giữa những thế lực mà mục tiêu tranh đấu không phù hợp với những lý tưởng cố hữu của mình, những người quốc gia luôn luôn bị đặt vào những hoàn cảnh éo le. Trong đa số trường hợp họ đã phải chọn lựa giữa những giải pháp khó nuốt và nhiều lúc họ không còn cả quyền chọn lựa nữa” (trang 572-573). Theo ông Diễm, đó là lý do họ thất bại. Người ta có thể hỏi có phải bị lâm vào thế kẹt mà người quốc gia thất bại hay vì thiếu lãnh đạo tài giỏi và khôn khéo hoặc có thủ đoạn hơn đối phương mà người quốc gia bị lâm vào thế kẹt? Tại sao cùng thời gian đó, trong thập niên 40 và 50, phe quốc gia thắng phe cộng sản ở Nam Dương và ở Phi Luật Tân mà lại thua ở Việt Nam và Trung Quốc? Ông Diễm là người lý tưởng. Ông luôn luôn cổ võ cho giải pháp chính phủ đoàn kết giữa những người quốc gia chống cộng. Ngoài tình trạng phân hóa giữa các đảng phái và giáo phái trong giai đoạn 1954, kinh nghiệm làm việc giữa ông Quát và ông Sửu, giữa ông Thiệu và ông Kỳ cho ta nghĩ gì về khả năng thực tiễn của giải pháp đó?
Như thế, qua cuốn Gọng Kìm Lịch Sử, ông Diễm đưa ra một số kết luận và nêu ra một số giả thuyết kích thích chúng ta phải suy nghĩ thêm. Ngoài ra, cuốn sách còn có nhiều ưu điểm khác. Nó đã tóm gọn đầy đủ được những tiêu mốc và những biến cố của một giai đoạn lịch sử quan trọng của Việt Nam, nhất là nó giúp người đọc thông cảm được cái thế “trên đe dưới búa” của những người “quốc gia” yêu nước, sự tranh đấu dũng cảm và những hy sinh lớn lao của người lính Việt Nam Cộng Hòa, đồng thời hiểu rõ hơn về tương quan giữa Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa cũng như ảnh hưởng của chính trị nội bộ của Mỹ đối với chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam và do đó đối với tình hình quân sự cũng như chính trị tại Việt Nam.
Cuốn sách được viết với một giọng văn trong sáng, bình thản, không cường điệu, với những lời khen chê đứng đắn, chừng mực. Tác giả bảo mình không phải là nhà văn nên bút pháp còn khô khan vụng về. Điều này hẳn không đúng. Một người có bút pháp vụng về thì không thể tả được những ngày lái xe qua những cánh đồng bát ngát của miền Trung Tây Hoa Kỳ bằng lời lẽ sau đây: “Những tia nắng ngày hè lấp loáng trên cỏ cây tạo nên những ảo ảnh chẳng khác gì nhìn vào mặt nước trên những con đường trải nhựa” (trang 199). Rồi, chỉ vỏn vẹn trong 15 chữ tác giả tóm gọn đầy đủ được bầu không khí thân mật giả tạo trong buổi chia tay ở dinh Độc Lập giữa ông và ông Thiệu, và luôn cả mối liên hệ phức tạp giữa hai người trong những năm tháng làm việc chung. Ông nói đến cái thế “ngượng nghịu giữa hai người đã miễn cưỡng hợp tác và bắt buộc chia tay” (trang 514).
Gọng Kìm Lịch Sử là một đóng góp có giá trị cho việc nghiên cứu và phân tích về cuộc chiến tranh Việt Nam. Nó làm sáng tỏ một cái nhìn của người Việt “quốc gia” trong thị trường sách về cuộc chiến Việt Nam vốn bị chế ngự bởi quan điểm của người Mỹ và của phe thắng trận. Theo thiển ý, đây là một trong những cuốn sách, nếu không muốn nói nó là một cuốn sách tiếng Việt súc tích nhất, xuất sắc nhất mà tôi đã được đọc trong số những hồi ký chính trị về cuộc chiến tranh Việt Nam, về vai trò của người Mỹ, về thế kẹt và sự hy sinh lớn lao của cả một thế hệ những người “quốc gia” yêu nước. Đây là một cuốn sách phải đọc của những người muốn biết thêm về một giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc ta, nhất là những bạn trẻ muốn có cái nhìn khách quan và công bằng về quá khứ của cha anh họ.


NGUYỄN MẠNH HÙNG
——–
(1) Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tái bản kỳ 2. Westminster, CA: Cơ Sở Xuất Bản Yên Bái, (không ghi năm tái bản), trang 244-245 và 249.
(2) Nguyễn Duy Hinh , Lam Sơn 719, Washington, D.C.: U.S. Army Center of Military History, 1979. Trang 168
(3) Sách đã dẫn, trang 35.
(4) Sách đã dẫn, trang 140
(5) Sách đã dẫn, trang 163
(6) Sách đã dẫn, trang 33-34
(7) William C. Westmoreland, A Soldier Reports, Garden City, New York: Double Day & Company, 1976. Trang 122.
Tài liệu tham khảo
– SAMUEL BERGER “Building on the Clinton Record” in Foreign Affairs Nov-Dec.2000, pp. 22-39; “Think again: Clinton’s Foreign Policy” in Foreign Policy, Nov-Dec 2000, pp. 29; L.DIAMOND “Has the Democratic Wave Crested?” in Current History, Dec. 2000, pp. 413-418
– Theo tin Reuters Hanoi, năm 1998, sau khi thất cử Tổng Thống, George Bush cha có viếng Việt Nam với tư cách riêng.
– ANDREW PIERRE “Viet Nam’s contradiction” in Foreign Affairs Nov-Dec. 2000, pp. 69-88
– PAUL TAYLOR, “The World looks at Bush”, Reuters, The Los Angeles Times, Dec. 19, 2000
– JESSE HELMS “American Sovereignty and the UN” in The National Interest, Winter 2000/1, pp. 34; ELIOT COHEN “A Twentyfirst Century Milirary” in Foreign Affairs Nov-Dec.2000. pp. 40-56; STEWART PATRICK “America’s Retreat from Multilaterism” in Current History, Dec. 2000, pp. 430-440

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: