Bùi Diễm: Lúc Còn Nhỏ, Đi Học (Chương 2 của cuốn Gọng Kìm Lịch Sử) – Phạm Xuân Đài

Bùi Diễm: Lúc Còn Nhỏ, Đi Học (Chương 2 của cuốn Gọng Kìm Lịch Sử)

Ông thân sinh ra tôi là Bùi Kỷ. Ông vốn là một nhà nho phóng khoáng, phóng khoáng đến độ chẳng coi việc gì là quan trọng. Đối với ông thì trời có sập đổ xuống cũng chẳng thành vấn đề. Sống trong truyền thống của các cụ nhà nho, ông chọn bút hiệu là Ưu Thiên. Ưu là lo và Thiên là trời. Vì ngày xưa sách có ghi rằng người nước Kỷ thường hay lo trời đổ, tên ông lại là Kỷ, nên ông chọn bút hiệu là Ưu Thiên. Ông thường nói: “Những kẻ lúc nào cũng lo âu mọi chuyện là những kẻ dại” và trong một bài thơ mà nhiều người biết, ông viết rằng:
“Lo như ai cũng là ngốc thậ

Lo trời nghiêng lo đất chông chênh

Lo chim bay lạc tổ quên cành

Lo cá lội xa ghềnh lạ nướcHão huyền thế đố ai lo được

Đem gang tay đánh cuộc với cao dầy…”
Ngay khi còn trẻ, bố tôi đã có ý không muốn theo con đường của một số người thời đó là ra làm quan dưới chính quyền đô hộ Pháp. Ông tìm cách đi du học nước ngoài và năm 1912, ông sang Pháp rồi vào học Trường Thuộc Địa (Ecole Coloniale). Ở Pháp ông đã có dịp gần gũi làm bạn với các Cụ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và những lãnh tụ quốc gia thời đó, nhưng có lẽ bản chất của ông không phải là người làm cách mạng nên sau những năm ở Pháp, ông trở về Việt Nam và mở trường dạy học. Đã có lần, lúc tôi mới 11, 12 tuổi ông kể cho tôi nghe về những năm ông ở bên Pháp và bảo tôi rằng: “Những người như Cụ Phan Chu Trinh tranh đấu để nước ta có được một tương lai sáng sủa hơn và bổn phận của tất cả chúng ta là phải ủng hộ cuộc tranh đấu đó”. Như vậy lập trường của ông thật là rõ nét, nhưng với bản chất cố hữu của ông là đứng ngoài mọi việc, ông đã không chọn con đường hành động.
Bản tính cố hữu này có vẻ như đã ăn sâu thành cội rễ trong gia đình tôi từ lâu. Cụ nội tôi (Bùi Văn Quế) vốn làm quan trong triều. Sau khi đậu Phó Bảng, cụ ra làm quan và giữ chức Tham Tri Bộ Hình, lãnh Tuần Phủ Nam Ngãi – Thuận Khánh, nhưng đến năm 1882 thì cụ xin cáo quan để về quê làm ruộng và dạy học. Cụ cùng một thời với cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến và cáo quan về trước cụ Nguyễn Khuyến hai năm. (Về sau này, người ta thường nhắc tới bài thơ “Gửi Bác Châu Cầu” của cụ Nguyễn Khuyến: “Mấy lời nhắn nhủ Bác Châu Cầu, Lụt lội năm nay Bác ở đâu! Mấy ổ lợn con nay còn mất! Vài gian nhà thóc ngập nông sâu!” làng Châu Cầu ở Phủ Lý là quê của giòng họ tôi).
https://9cae35099a7d8a9af248aaa62117c684.safeframe.googlesyndication.com/safeframe/1-0-38/html/container.htmlÔng nội tôi cũng vậy. Thi đậu tiến sĩ, ông nghè Bùi Thức cũng theo gương cụ nội tôi ở lại làng để dạy học. Như thế nếu ông thân sinh ra tôi, sau khi đậu Phó Bảng, không muốn ra làm quan mà chỉ muốn mở trường, thì điều đó chẳng qua cũng chỉ là do nếp cũ trong gia đình.
Ảnh hưởng từ tổ tiên lâu đời trong giòng họ đã khiến quan niệm của tôi đối với người Pháp như một định kiến. Chế độ thuộc địa của người Pháp là một chế độ không thể chấp nhận được. Ngoài ra, hình như tôi cũng còn thừa hưởng từ các cụ lối nhìn vào mọi việc với con mắt xa vời. Các cụ cho rằng mọi thứ trên thế gian này chỉ là nhất thời như chuyện phù vân. Đã đành rằng sinh ra ở đời thì cũng phải có bổn phận với đời, nhưng nếu phiền toái quá, thì tại sao không trở về làm ruộng rồi dạy học, làm thơ hay nghiền ngẫm Lão, Trang, coi thường thế sự?
Mặc dầu như vậy, ngay từ lúc nhỏ tôi đã hiểu rằng rồi đây tôi khó có thể sống cuộc đời học giả, vui thú điền viên như các cụ được. Và chắc chắn là tôi cũng không làm công chức, để hưởng những quyền lợi mà xã hội thời đó dành cho thế hệ chúng tôi. Khung trời Việt Nam vào những thập niên 30, 40, gò bó, nhỏ hẹp quá, khi tôi chỉ muốn bay nhẩy. Luôn luôn đầu óc tôi mơ tưởng đến những chuyện đi xa, đến những nơi mới lạ để tìm hiểu thế giới rộng lớn… Lòng ham muốn lúc đó chỉ mới phôi thai, chưa có gì là cụ thể, song những ý nghĩ viển vông đó đã in sâu vào tôi từ thuở nhỏ cho đến lúc lớn lên. Rồi tôi cũng nhận thức được rằng mọi việc đều tùy thuộc vào việc học, và nếu cố gắng học thì mọi sự đều có thể làm.
Ở cấp tiểu học, tôi học trường Hàm Long gần nhà tôi phố Nhà Rượu, và đến năm 13 thì lên trung học. Thời đó, vào trường công phải thi, lại thêm bố tôi đang dạy tại trường tư thục Thăng Long, nên tôi xin ghi tên tại đây. Có lẽ lúc đó tôi còn nhỏ quá nên chưa biết rằng chính tại trường này, cũng có nhiều người như tôi đang mơ ước về một thế giới bên ngoài, khác hẳn với thế giới gò bó của xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nếu có khác thì ở chỗ giấc mơ của tôi hãy còn mông lung quá, hay chỉ là những giấc mơ phiêu lưu nơi đất lạ, trong khi đó thì những người ở đây, đặc biệt là trong hàng ngũ những người giảng dạy, đang mơ về những thay đổi chính trị và xã hội cho dân tộc đang cố vươn mình ra ánh sáng độc lập và tự do. Thực ra, khi tôi vào trường Thăng Long, nơi đây đã sôi sục với những ý chí chống Pháp và những cuộc tranh luận về một tương lai cho xã hội Việt Nam…
Ban giáo sư hồi đó gồm những người như ông Phan Thanh, sáng lập viên của đảng Xã Hội Việt Nam, ông Đặng Thái Mai, sau này làm Bộ Trưởng Giáo Dục, ông Hoàng Minh Giám, sau này làm Bộ Trưởng Ngoại Giao của miền Bắc, ông Trần Văn Tuyên, sau này làm Phó Thủ Tướng ở miền Nam và cũng là một lãnh tụ đối lập dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa miền Nam. Tất cả những giáo sư trên đây đều là thầy dạy tôi, nhưng trong tất cả những nhân vật đáng nhớ, đặc biệt có một người mà tôi khó quên: đó là ông Võ Nguyên Giáp, người dạy tôi về môn Sử. Dáng người nhỏ nhắn, song nhìn vào ông thì thấy cả một bầu nhiệt huyết. Mặc dầu mãi về sau này ông mới nổi tiếng là tướng đánh bại Pháp tại Điện Biên Phủ, nhưng ngay thời đó, ông như người bị quyến rũ bởi cách mạng và đấu tranh. Phần chương trình của lớp đã được ấn định là giai đoạn từ cuối thế kỷ 18 cho đến cuối thế kỷ 19 trong lịch sử Pháp, nhưng ông Giáp nhất định chỉ giảng về hai thời kỳ, là cuộc cách mạng Pháp 1789 và những trận đánh dưới thời Nã Phá Luân (Napoléon) rồi còn ngoài ra ông bảo học trò có thể tự tìm hiểu trong quan sát.
Những gì về ông Giáp hồi ấy thật đặc biệt, vì vậy mà lúc này, hơn nửa thế kỷ sau, tôi vẫn còn nhớ rõ rệt. Ông nói về đời sống xa hoa của Marie Antoinette, về công bằng xã hội và Công Xã Ba Lê, về số phận của Danton và Robespierre. Qua phần trình bầy của ông người ta cảm thấy rõ ông không phải là một giáo sư Sử học, nhưng là một người say mê cách mạng. Phần giảng dạy của ông về Nã Phá Luân thì lại càng ly kỳ hơn nữa. Đi đi lại lại trước bảng đen với một cái thước gỗ để chỉ rõ các chiến địa, ông trình bầy tường tận chiến thuật và chiến lược của Nã Phá Luân bằng cách tả rõ từng trận nhỏ một. Hình như ông đã in tất cả vào trong đầu và sử đã biến thành một phần của con người ông. Trong lúc nói rõ về những trận đánh (tỉ dụ như tại sao Nã Phá Luân ra lệnh cho Ngự Lâm Quân chọn một địa điểm này mà không chọn một địa điểm khác) ông như chìm đắm vào thế giới của mình, ông lôi kéo học sinh vào thế giới đó, vì vậy mà trong giờ ông giảng dạy, học sinh thường im lặng như tờ. Ông tỏ vẻ kính phục Danton và Robespierre nhưng rõ ràng là ông ngưỡng mộ Nã Phá Luân, ông nói về Nã Phá Luân như chẳng bao giờ muốn dứt.
Tôi lớn lên trong bầu không khí đó, và dần dần ý thức được rằng dưới bộ mặt phẳng lặng của đời sống học đường, là những đợt sóng ngầm đang chuyển động mạnh. Một đôi khi cùng với ông thân sinh trên đường về ghé qua nhà ông Giáp, tôi có nhìn thấy quyển Tư Bản Luận của Karl Max bằng tiếng Pháp và một số sách khác về chủ nghĩa Xã Hội. Ông bảo tôi lấy về mà đọc. Thực ra thì do một người (có lẽ đã là đảng viên Cộng Sản rồi mà tôi không biết) đến nhà tôi để kèm thêm tôi học toán, tôi cũng đã có khá đầy đủ những tài liệu về thế giới Cộng Sản. Anh ta đưa cho tôi những tạp chí đầy hình ảnh, in thật đẹp ở Mạc Tư Khoa làm cho tôi quen dần với những tên mà hồi đó những người Cộng Sản sùng bái như Tổng Bí Thư Staline, Thống Chế Vorochilov, v.v…
Một người khác nữa trong thời gian ấy cũng là giáo sư tại trường Thăng Long nhưng không thiên về phía tả: ông Trần Văn Tuyên. Tôi gần với ông hơn cả với những người khác, vì tôi trở nên một hướng đạo sinh dưới sự dìu dắt của ông, và mỗi chủ nhật đi cắm trại, ông thường đèo tôi trên xe đạp ở sau lưng ông. Ông là một huynh trưởng trong phong trào hướng đạo, do đó cũng có những tư tưởng tiến bộ về phương diện xã hội, nhưng ông không bao giờ đả động với tôi đến hai chữ Cộng Sản và chỉ nhắc tôi là: “Tình thế này bắt buộc sẽ phải thay đổi và chính chúng ta là những người sẽ được nhìn thấy những sự thay đổi đó”.
Sát cánh hàng ngày với những người chống Pháp, bố tôi cũng có thái độ không kém dứt khoát và đã từ chối “ra làm quan” với Pháp, nhưng vì bản tính trầm tĩnh với đôi phần lãng tử, thiên về văn chương nhiều hơn là chính trị, ông thường có thái độ thụ động. Ông có cảm tình với những người hoạt động tích cực, và tán thành đường lối tranh đấu của những lãnh tụ cách mạng như cụ Phan Chu Trinh mà ông đã có dịp gần gũi lúc ở Pháp, nhưng dấn thân vào cuộc vật lộn thì không hợp với bản chất con người ông. Vì vậy mà ông dành toàn thời giờ vào việc hợp tác với ông chú tôi là sử gia Trần Trọng Kim (bà Kim là em ruột bố tôi và tôi gọi bà bằng Cô) để phụ giúp hoàn thành bộ Việt Nam Sử Lược. Hết ngày này qua ngày khác, làm việc với nhau tại nhà chú tôi ngay cạnh nhà tôi ở phố Nhà Rượu, hai người liên miên hết bàn đến lịch sử thì lại bàn đến văn chương hay triết lý. Lúc bấy giờ tôi còn trẻ chưa hiểu gì mấy, nhưng nhiều khi tôi thấy hai người say mê bàn về Phật Giáo, Lão Giáo và Vương Dương Minh, quên cả bữa ăn làm cho cô tôi cứ than phiền là nguội cả thức ăn. Hai ông tuy yêu nước như nhiều người đồng thời, nhưng quan niệm rằng nếu có người hoạt động chính trị thì cũng phải có người nỗ lực ở những lãnh vực khác, như lãnh vực sở trường của hai ông là văn chương và giáo dục.
Tuy không biết nguyên tố nào là chính yếu trong sự tạo thành bản thân, tôi chắc đã chịu ảnh hưởng rất nhiều của gia đình và học đường. Tôi bị lôi cuốn bởi tinh thần hăng say và tư tưởng tiến bộ của những người tranh đấu giành độc lập và chủ quyền cho Việt Nam, nhưng vì một lý do nào đó, tôi không thấy gì hấp dẫn ở chủ thuyết Mác-Xít mà có lẽ ông Giáp và một số người khác nữa muốn tôi theo. Rất có thể là tôi đã tiêm nhiễm nhân sinh quan của cha và chú, tuy không như hai ông, tôi còn có khát vọng trông ra thế giới bên ngoài, chứ không chịu khép mình trong tháp ngà thanh cao của các học giả.
Ngay khi ở trung học, tôi đã nghiền ngẫm báo chí ngoại quốc. Tôi đọc hàng ngày tờ nhật báo Pháp “La Volonté Indochinoise” và theo dõi tin tức chiến tranh Hoa-Nhật. Hình ảnh những vụ Nhật ném bom Thượng Hải và Nam Kinh làm cho tôi xúc động với những cảm giác ghét thương lẫn lộn; tuy vẫn oán Tầu đã đè nén Việt Nam trong hơn 1000 năm đô hộ, tôi ghét cuộc xâm lăng tàn bạo của Nhật và thương các nạn nhân Tầu. Cũng vào hồi đó, hàng năm cứ đến vụ hè, bố tôi vẫn bắt tôi về quê ở Phủ Lý một hai tháng để học chữ Hán. Như thế, ở ngay trong nhà, lúc nào cũng có một “ông đồ”, tôi mới qua được giai đoạn “tam tự kinh”, đã bị “ông đồ” buộc phải tập đọc những sách khó hơn như Tứ Thư, Ngũ Kinh.
Chiến tranh Hoa-Nhật kéo dài, nhưng đến 1939 thì mọi người đều thấy rõ là sẽ lan tràn sang phương khác. Ở phía trời Âu, trước chủ trương bành trướng và thái độ càng ngày gây hấn của Đức Quốc Xã, rất nhiều người nghĩ rằng sớm muộn chiến sự cũng sẽ bùng nổ. Vào hồi đó, ở Hà Nội, chúng tôi được coi một cuốn phim truyền hình Pháp, nhan đề là “Sommes nous défendus?” (Nước Pháp có được phòng thủ không?) nói về chiến lũy phòng thủ Maginot của Pháp xây dọc theo biên giới Pháp-Đức. Dĩ nhiên cuốn phim có dụng ý trấn an người Pháp, nhưng đối với người Việt Nam thì lại có tác dụng bất ngờ là vừa gợi ý mầm mống chiến tranh đã sẵn có, vừa thúc đẩy tinh thần dân tộc. Trong dân chúng, chuyện chống Pháp không còn bị giữ kín như trước. Ở trường, chúng tôi thấy đồn về các hội kín được thành lập để thu hút những thanh niên có tinh thần yêu nước, sẵn sàng tranh đấu cho độc lập của tổ quốc Việt Nam. Chẳng ai biết đích xác những hội đó ra sao, và làm thế nào để bắt liên lạc, nhưng ai cũng tin rằng những tổ chức đó có thật.
Vào đầu mùa thu 1939, khi chiến tranh ở Âu Châu bùng nổ, thì trong giới sinh viên chúng tôi, ai nấy đều chứa chan hy vọng. Chúng tôi cảm thấy là nền tảng của nền đô hộ Pháp đã bắt đầu rung chuyển. Rồi chẳng bao lâu, rung chuyển đó biến thành một trận động đất khổng lồ. Nước Pháp, một thế lực toàn năng ngự trị trên đất Việt Nam từ gần một thế kỷ nay, đã sụp đổ cuối tháng 6, 1940, sau khi chỉ cầm cự được vẻn vẹn 6 tuần lễ trước cuộc tấn công dũng mãnh của quân đội Đức Quốc Xã. Chúng tôi thấy, một sớm một chiều, thế giới của chúng tôi đảo lộn hẳn. Với tuổi tôi lúc đó, tôi thuộc vào một thế hệ thứ ba hay thứ tư của một hoàn cảnh gắn liền với nước Pháp, với ngôn ngữ, văn hóa và guồng máy cai trị của nền đô hộ Pháp. Trong khoảnh khắc, một thế giới mới mở rộng trước mắt. Chúng tôi mở mắt, lắng nghe những tín hiệu từ bên ngoài tới, để tìm hiểu ý nghĩa và hậu quả của những diễn biến mới đối với tương lai của đất nước.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: