THƠ TUỆ SỸ

Tuệ Sỹ -Phạm Công Thiện

Tác giả: Tuệ Sỹ

KỶ NIỆM 50 NĂM SINH NHẬT TUỆ SỸ 

Buổi chiều nắng hạ đọc thơ Tuệ Sỹ 

Phạm Công Thiện

Tôi đang ngồi nơi giảng đường của chùa Diệu Pháp ở California tại Huê Kỳ, chung quanh đầy tiếng chim kêu trên những cây chanh, những cây bằng lăng và những cây thông, cây tùng và những bông mộc lan trắng đang nơ đầy hàng cây trên đồi dọc theo đường thoải xuống dưới kia thành phố Monterey Park. 

Ngồi trên đồi cao nhìn ra xa có những rặng núi “như quáng nắng, như giấc mộng, như thành phố giữa sa mạc”… 

Tôi muốn giành buổi chiều ngày hạ hôm nay để đọc lại thơ của Tuệ Sỹ, một người bạn trẻ tài ba mà tôi đã quen biết thân thiết từ lúc Tuệ Sỹ mới khoảng 19 tuổi; rồi từ năm 1966, từ Paris tôi trở về Sài Gòn và ở lại cho đến năm 1970, trong bốn năm trời, dường như không có ngày nào chúng tôi không gặp mặt nhau và chia xẻ vui buồn với nhau trên mọi bình diện. Tôi lìa Việt Nam từ năm 1970 cho đến hôm nay, như thế có nghĩa rằng 24 năm nay tôi đã xa lìa Tuệ Sỹ và chưa được dịp gặp lại. Trong thời gian ấy, Tuệ Sỹ bị CS nhốt tù từ năm 1979 cho đến năm 1981, và sau cùng từ năm 1984 cho đến năm nay, mười năm liên tục, Tuệ Sỹ vẫn bị CS nhốt tù và bị xử tử hình, rồi giảm xuống chung thân hay hai chục năm cấm cố. Lần cuối cùng tôi gặp Tuệ Sỹ thì Tuệ Sỹ mới 26 tuổi. Chiều nay, tôi giựt mình chợt nhớ rằng năm nay Tuệ Sỹ đã 50 tuổi rồi. Thế thì không còn là chú tiểu Tuệ Sỹ mà là một đại thượng tọa Thích Tuệ Sỹ! Dù trong cảnh tù ngục đói khổ trăm điều, thiền sư thiên tài Tuệ Sỹ vẫn bất khuất và hùng khí vẫn ngùn ngụt cao ngất như đỉnh Trường Sơn mà nhà thơ Tuệ Sỹ vẫn trọn đời ngưỡng vọng yêu thương trên những con đường oanh liệt khai mở cho Sử Tính quê hương được vượt thoát ra ngoài chế độ CS, cái chế độ hoang phế tàn tạ mà Tuệ Sỹ gọi là “tha ma mộ địa”. Chúng ta hãy lắng nghe bài thơ “Ngục Tối” của Tuệ Sỹ: 

Lửa đã tắt từ buổi đầu sáng thế 

Một kiếp người ray rứt bụi tro bay 

Tôi ngồi mãi giữa tha ma mộ địa 

Lạnh trăng tà lụa trắng trải rừng cây 

Khuya rờn rợn gió vèo run bóng quỉ 

Quì run run hôn mãi lóng xương gầy 

Khóc năn nỉ sao hình hài chưa rã 

Để hồn ta theo đốm lửa ma trơi. 

Bốn câu thơ cuối đã nói hết tất ca thế giới điêu tàn cua CS 

 hiện nay: 

Khuya rờn rợn gió vèo run bóng quỉ 

Quì run run hôn mãi lóng xương gầy 

Khóc năn nỉ sao hình hài chưa rã 

Để hồn tan theo đốm lửa ma trơi 

Hai câu thơ cuối cùng của bài “Ngục Tối” nói lên ý chí hực lưa đốt cháy tất cả gỗ mục của tâm thức hạ liệt: 

Khi tâm tư vẫn chưa là gỗ mục 

Lòng đất đen còn giọt máu xanh ngời 

Bốn câu thơ cuối của bài “Giao Hưởng Bóng Tối” rực sáng lên đôi mắt trí huệ “đáo bỉ ngạn” của Tuệ Sỹ: 

Ôi tiết nhịp thiên tài hay quỉ mị 

Xô hồn ta lảo đảo giữa tường cao 

Trưa dài lắm ta luân hồi vô thủy 

Đổi hình hài con mắt vẫn đầy sao 

Tuệ Sỹ còn có những bài thơ ngắn “Năm Tàn” mà âm vang phơi phới như ngọn gió rừng: 

Lận đận năm chầy nữa 

Sinh nhai ngọn gió rừng 

Hàng cà phơi nắng lụa 

Ngần ngại tiếng tha phương 

(Năm Tàn) 

Bài Trầm Mặc đưa chúng ta đi vào sự trầm mặc ung dung, không hẳn bi quan và không hẳn lạc quan, coi cuộc đời “như quáng nắng, như giấc mộng, như thành phố giữa sa mạc: tất cả sự hiện khởi, tồn tục và biến mất đều như vậy” (như câu kệ của Long Thọ mà Tuệ Sỹ đã trích dịch trong quyển Triết Học Về Tánh Không của mình): 

Anh ôm chồng sách cũ 

Trầm mặc những đêm dài 

Xót xa đời khách lữ 

Mệnh yểu thế mà hay 

(Trầm Mặc) 

Bài Thoáng Chốc ửng hiện lên âm hưởng thơ mộng, huyễn, bào, ảnh của Kim Cương Kinh, phối hợp bình đẳng với lòng Đại Bi sâu thẳm: 

Người mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn

Khoé môi cười nắng quái cũng gầy hao 

Như cò trắng giữa đồng xanh bất tận 

Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao. 

(Thoáng Chốc) 

Tình yêu chỉ thực sự tình yêu, tình người chỉ thực sự là tình người, vì trực thức rằng tất cả đều là khoảnh khắc chiêm bao. Mỗi khi mình trực nhận rằng chính mình cũng là “khoảnh khắc chiêm bao” thì sự bừng dậy tỉnh thức toàn diện vụt chợt tới và từ đó mình đứng dậy lao thân vào hành động thuần túy của một bậc Bồ Tát để giải thoát con người ra khỏi tất cả lao lung của đời sống. Tuệ Sỹ đã sẵn sàng đi vào tù để chuyển y tâm thức khả dĩ phá tung tất cả tù ngục nhân sinh. 

Chúng ta hãy đọc bài “Tôi vẫn đợi” của Tuệ Sỹ: 

Tôi vẫn đợi những đêm xanh khắc khoải 

Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng 

Trong bóng tối hận thù tha thiết mãi 

Một vì sao bên khoé miệng rưng rưng 

Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió 

Màu đen huyền ánh mắt tự ngàn xưa 

Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử 

Dài con sông tràn máu lệ quê cha 

Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ 

Quên những người xuôi ngược Thái bình dương

Người ở lại với bàn tay bạo chúa 

Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương. 

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bong 

Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu 

Rồi khép lại hàng mi về Cõi Mộng 

Như sương mai như bóng chớp mây chiều. 

(Tôi vẫn đợi) 

Một bài thơ lục bát của Tuệ Sỹ có những câu khó quên: 

… Sầu trên thế kỷ điêu linh 

Giấc mơ hoang đảo thu hình tịch liêu 

Hận thù sôi giữa nắng chiều 

Sông tràn núi lở nước triều mênh mông 

Khói mù lấp kín trời Đông 

Trời ơi tóc trắng rũ lòng quê cha 

Con đi xào xạc tiếng gà 

Đêm đêm trông bóng Thiên hà buồn tênh. 

Bài thơ của Tuệ Sỹ mà tôi yêu thích nhất là bài “Một bước đường”: 

Một bước đường thôi nhưng núi cao; 

Trời ơi, mây trắng đọng phương nào? 

Đò ngang neo bến đầy sương sớm; 

Cạn hết ân tình nước lạnh sao? 

Một bước đường xa, xa biển khơi 

Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời 

Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ 

Nhưng mấy nghìn năm tống biệt rồi. 

Cho hết đêm hè trong bóng ma 

Tàn thu khói mộng trắng Ngân hà 

Trời không ngưng gió chờ sương đọng 

Nhưng mấy nghìn sau ố nhạt nhòa. 

Cho hết mùa thu biệt lữ hành 

Rừng Thu mưa máu dạt lều tranh 

Ta so phấn nhụy trên màu úa 

Trên phím dương cầm, hay máu xanh 

Tôi không thể làm việc phê bình thơ; tôi chỉ muốn cho Thơ của Tuệ Sỹ tự hiện diện từ chính nơi tự tánh của Thi Ca, không cần sự can thiệp trực tiếp hay gián tiếp của một cái gì khác bên ngoài, như chính Tuệ Sỹ đã tự nói trong hai câu đầu một bài thơ chữ Hán do Tuệ Sỹ làm: 

Tự tâm tự cảnh tự thành chương 

Tự đối bi hoan diệc tự thưởng 

(Tác Thi Sự) 

và Thi sĩ Vân Nguyên đã dịch: 

Cô độc cảnh tâm thơ tự xuất 

Tự ngắm buồn vui tự thưởng thức 

hay dịch sát nghĩa: 

Từ lòng mình, tự cảnh vật, tự thành chương cú 

Tự đối mặt với những buồn vui rồi tự mình thưởng thức 

Thay vì “chương cú” như Vân Nguyên đã dịch sát nghĩa, tôi muốn dịch thoát trùng khơi là “chương khúc”… Nhưng Vân Nguyên đã tài tình chuyển là “THƠ TỰ XUẤT”. 

Mấy chục năm qua, Tuệ Sỹ đã làm rất nhiều thơ, nhưng Ni Cô Tuệ Hạnh chỉ thu nhặt được mấy chục bài và cho in lại với nhan đề thi tập là Ngục Trung Mị Ngữ, do Quảng Hương Tùng Thư xuất bản. Đặc biệt trong thi tập này có 18 bài thơ mà Tuệ Sỹ làm thẳng bằng chữ Hán, có một bài làm xúc động tâm hồn tôi đến cực điểm, bài Cúng Dường: 

Phụng thử ngục tù phạn 

Cúng dường Tối Thắng Tôn 

Thế gian trường huyết hận 

Bỉnh bát lệ vô ngôn 

Thượng Tọa Viên Lý dịch lại như sau: 

Hai tay nâng chén cơm tù 

Dâng lên từ phụ bậc thầy nhân thiên 

Thế gian huyết hận triền miên 

Bưng bình cơm độn lặng yên lệ trào. 

Nhà thơ Vân Nguyên cũng có dịch như sau: 

Dâng chén cơm tù lên 

Cúng dường Tối Thắng Tôn 

Thế gian tràn oán hận 

Ôm chén lòng khóc thầm. 

Tất cả hành động chính trị thường tình đều phiến diện; ý thức chính trị toàn diện chỉ được thể hiện nơi một con người vừa là thi sĩ vừa là thiền sư đạo sĩ vừa là nhà hành động nhập thế với tinh thần “vô công dụng hạnh” của bậc Bồ Tát, hành động tích cực mãnh liệt toàn triệt mà vẫn giữ cảm thức viễn ly và viễn mộng. Vì không tham vọng ích kỷ mù quáng cho nên mới nuôi dưỡng cảm thức viễn ly, vì không bị kẹt dính vào tham, sân và si của thế tục cho nên mới hàm dưỡng viễn mộng. Làm chính trị mà biết mơ mộng và sống thơ mộng, biết viễn ly và viễn mộng, khó thấy lắm trong lòng thực tại bi đát của quê hương hiện nay. 

Tuệ Sỹ là một trong số ít đạo sĩ thi nhân với pháp khí phi thường là Trí Huệ Bát Nhã cùng với lòng Đại Bi Thơ Mộng, Tuệ Sỹ là một trong số ít thể hiện được ý nghĩa trọn vẹn của Ý thức chính trị toàn diện, ý thức hành động Bi Trí Dũng dẫn đường soi sáng Thế Mệnh của Sử tính quê hương. 

Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật 50 năm của Tuệ Sỹ, qua đài phát thanh Nhà Nước Úc Châu SBS, và nhờ lời mời của nhà thơ Ngọc Hân, vị phụ trách chương trình Việt ngữ của đài SBS, tôi xin thân yêu gửi một quà tặng bí mật đến thiền sư thi sĩ Tuệ Sỹ: tất cả năng lực tâm linh và tinh thần của vũ trụ được súc tích cô đọng trong câu đại thần chú đạo sư Tây Tạng Liên Sinh Bồ Tát: OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM! 

California, ngày 20 tháng 6, 1994. 

Phạm Công Thiện

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

<span>%d</span> bloggers like this: