Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 229 – Lu Hà

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 229

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 77

 

“Cả hai ngã cố khum mình lại

Vạch lá cây ngần ngại chui vào

Châu liêm ba bức khi nào

Rồng leo cột vẽ rì rào vách tô

 

Tòa sen nở tựa hồ ánh sáng

Nhũ đá phô tỏ rạng sân chầu

Rêu phong tí tách mưa thâu

Suối nguồn róc rách mấy câu chữ đề

 

Nguyên Chi Từ dãi dề y quán

Quan trạng ngồi bạo dạn thầm thì

Khôi ngô tướng mạo uy nghi

Cân đai mũ áo đền nghì gió trăng

 

Nơi hẻo lánh tuyết hằng phong nguyệt

Cỏ chen cây da diết bướm hoa

Mênh mông thảo dược chan hòa

Hai chàng quỳ lạy trước tòa miếu hoang

 

Xin phù hộ mọi đàng y thuật

Cứu giúp đời thành thật tấm lòng

Giàu nghèo chi quản long đong

Trở ra rừng rậm cầu mong bóng người

 

Thần báo mộng bao lời căn dặn

Nhớ không quên sán lạn tương lai

Chim kêu vượn hú vang tai

Đào nguyên hun hút đường dài mênh mông

 

Bốn mắt nhìn phập phồng lơ láo

Bỗng thấy đâu ông lão bạc đầu

Gậy lê lững thững bên cầu

Cười khà hai chú đi đâu lối này?

 

Ngư, tiều vội chắp tay kính cẩn

Hai chúng tôi lẩn quẩn nơi đây

Vòng vèo thất thểu bấy chầy

Rừng sâu đá cứng chất đầy cỏ gai

 

Thôi theo lão chỉ vài mươi dặm

Xóm chẳng xa mấy đám ruộng cày

Vườn dâu cây trái vui vày

Chó tru gà gáy bạn bày cùng nhau

 

Đãi cơm rượu trước sau kể hết

Thuở Đại Đường thống thiết xiết bao

Nơi này gọi làng Thanh Cao

Từ năm chạy giặc Hoàng Sào tới đây

 

Ông Cung Tử dạn dầy tửng trải

Bảy chục năm chẳng ngại rừng sâu

Giặc Liêu xâm chiếm U Châu

Vân Lâm lập miếu bể dâu đoạn trường

 

Nơi hang núi khói hương thờ cúng

Thật anh linh cung phụng bốn mùa

Ứng điềm mộng sự đêm qua

Chân cầu đợi sẵn nhạt nhòa tuyết sương

 

Hai thày cũng hỏi đường đúng lúc

Thật là may phúc đức cho làng

Ốm đau cần có thuốc thang

Đông di thảo dược sẵn sàng có ngay.“

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 78

 

Cả hai ngã như ngây thảng thốt

Mới giật mình kể tuốt một hồi

Ngậm ngùi than thở đầu đuôi

Miếu thần mơ thấy nợ đời trả vay

 

Đạo y vẫn xưa nay công tội

Họa diệt môn lạc lối âm hồn

Các thầy lo lắng bồn chồn

Vực sâu thăm thẳm biển cồn sóng dâng

 

Thầy địa lý bâng khuâng tư lự

Cũng bần thần do dự hành nghề

Thanh Ô đã có sách đề

Sông ngòi đất bãi sơn khê tận cùng

 

Nhìn sai hướng rợn rùng hủy diệt

Phong thủy lầm thảm thiết oan khiên

Tránh sao quả báo tương triền

Nghề nào nghiệp ấy bách niên oán hờn

 

Cõi nhân gian gặp cơn suy thịnh

Chỉ mong thầy suy tính trước sau

Ai hay phúc lợi chèn nhau

Điềm trời báo ứng mau mau tỏ tường

 

Kỳ Nhân Sư vẫn thường khuyên bảo

Cổ chí kim thông thạo tri hành

Thấy người sắp chết sao đành

Lương y từ mẫu tiếng lành đồn xa

 

Mới nán lại dần dà thăm hỏi

Chữa vài người bệnh khỏi trong làng

Rưng rưng ngấn lệ đôi hàng

Cầm tay lão trường hai chàng ra đi

 

Mùa nắng hạ thầm thì mai trúc

Phủ Công Minh thúc giục lên đường

Xông pha cát bụi dặm trường

U Châu sầu não phố phường là đây

 

Vào trong quán gặp bầy lính tráng

Giải một người tội trạng ra sao 

Hỏi ra là ngã thuốc cao

Việc chi đến nỗi xiềng vào cổ chân?

 

Thích kim ấn sát nhân trọng án

Biển bắc đày không hạn trở về

Chung thân rên rỉ não nề

Thói quen sinh nghiệp tử nghề nấu cao

 

Rừng củ đọt tào lao chế biến

Thuốc bán rao “vận kiển thời quai”

Chẳng ngờ thuốc độc giết ai

Chứng phong uống phải tuyền đài thất kinh

 

Ngư, Tiều nghe giật mình nhớ lại

Miếu trạng nguyên quan ải cách xa

Minh Công phủ lại dẫn ra

U minh hai chữ sa đà lang băm

 

Tội đáng chết băm vằm thân xác

Nho không thông thuốc sắc lem nhem

Nhẫn tâm khóa cửa buông rèm

“Mân“ coi ra “kiển“ “lỗ” nhèm ra “ngư“

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 79

 

Hoặc dở sách y thư sằng bậy

Luận quàng xiên vơ lấy bạc tiền

Huyênh hoang giấy lộn địa biên

Vịt vờ phương hướng đảo điên cầu tài

 

Lắm đứa vốn sơ sài nghề nghiệp

Chẳng biết gì dậu liếp phên thưa

Màn the quen thói lọc lừa

Lưới che mắt thánh đò đưa điếm đàng

 

Gỉa làm bộ vênh vang kiêu ngạo

Đàn hủ nho lếu láo chê khen

Lộn sòng đổi trắng thay đen

Đầu dê thịt chó nhỏ nhen hẹp hòi

 

Thích bả lả ăn chơi xả láng

Bệnh hiểm nghèo đểu cáng kê đơn

Ếch ngồi ngồi đáy giếng lên cơn

Vòm trời thăm thẳm thờn bơn méo mồm

 

Bầy cóc nhái chồm hôm bàn độc

Hội kinh doanh bán thuốc hại người

Người thành chuột bạch trò cười

Nghìn thu bia đá miệng đời tanh tao

 

Mộng Thế Triền cùng Bào Tử Phược

Giữ đạo nhà theo bước thày ta

Thuyền câu chở nặng một khoa

Tiểu nhi chẩn bệnh chính tà phân minh

 

Vung cán búa các kinh mạch hiểu

Dựng quán y đạo hiệu Minh Châu

Vợ con làng xóm nguyện cầu

Ngư, Tiều cải nghiệp công hầu ích chi

 

Dù có chỗ bất tri y lý

Tới Đan Kỳ lãnh ý Tôn sư

Chân truyền bí quyết thiên tư

Phụ khoa dư sức y thư bệnh lành

 

Giỏi nhi khoa sáng danh Tử Phược

Bạn đồng môn dẫn bước đường cho

Thế Triền sớm tối chăm lo

Đàn bà chữa chạy đạo nho hết lời

 

Chuyện ly kỳ ai ơi đã đọc

Bệnh thế gian hiểm hóc khó lường

Ngư, Tiều vấn đáp tỏ tường

Sáng soi hậu thế tình thương nhân loài

 

Bệnh hậu sản bi ai thảm thiết

Kể từ nay đã triệt được rồi

Trái tim nhịp đập bồi hồi

Hương lài phảng phất núi đồi bướm hoa

 

Mộng phu nhân nhạt nhòa ngấn lệ

Lại thụ thai con trẻ chào đời

Thong dong túi thuốc thảnh thơi

Cứu nhân độ thế muôn người nhớ ơn!

 

Xin hết truyện giận hờn bịn rịn

Bạn đời ơi bảy chín bài thơ

Sông Hương sóng vỗ đôi bờ

Nhịp cầu thân ái ngẩn ngơ ái tình!

 

*Nguyên tác thơ lục bát: “Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp“

 

Cả 3 bài thơ này là phần kết thúc có hậu của tập thơ song thất lục bát dài của tôi kể về cuộc đời hai chàng nho sĩ Mộng Thế Triền và Bào Tử Phược, vì sống trong cảnh nước mất nhà tan, đường công danh thi cử lận đận nên buộc phải làm nghề kiếm củi và chài lưới để nuôi gia đình. Mộng Thế Triền gọi là Tiều Phu còn Bào Tử Phược là Ngư Phủ. Gia cảnh hai người đều gặp nhiều tai ương, Triền thì mấy đời vợ đều mắc bệnh hậu sản sau khi sinh đẻ và qua đời, còn bà vợ cuối cùng cũng ốm đau quặt quẹo là lý do để chàng trở thành thày thuốc phụ khoa chuyên chữa trị bệnh đàn bà, còn Bào Tử Phược sinh ra lắm con nhưng phần lớn đều bị bệnh chết sớm là lý do để chàng trở thành thày thuốc nhi khoa. Tuy cả hai đều không có may mắn gặp mặt vị Tôn sư lão luyện y thuật là Kỳ Nhân Sư nhưng lại được hai thày thuốc giỏi cũng coi như bạn đồng môn học chữ nho ngày xưa là Châu Đạo Dẫn và Đường Nhập Môn truyền nghề cho y cho.

 

Vì tình cảnh đất U Châu, Yên Châu bị chia cắt và đặt dưới sự đô hộ của ngoại bang, nên cả hai người đều muốn đi tìm thầy học thuốc. Họ đều có ý định đi tìm Nhân Sư là một thầy thuốc rất giỏi và cũng là người đất U, Yên đi ẩn cư. Mộng Thê Triền và Bảo Tử Phược là hai người bạn cũ, bị hoàn cảnh loạn ly mà xa cách nhau từ lâu, gặp lại nhau trên đường đi tìm Nhân Sư. Đạo Dẫn và Nhập Môn là những người đã biết chỗ ở của Nhân Sư. Vì họ đã đều biết thuốc, nên trên đường đi Ngư, Tiều hỏi chuyện về y học rất nhiều. Đạo Dẫn và Nhập Môn lần lượt trả lời những câu hỏi của Ngư, Tiều và giải thích một cách rõ ràng nhiều điểm về lý luận y học cơ bản, kèm theo ca, phú mà phần chính lấy ở y học nhập môn ra.

 

Giữa đường, Châu Đạo Dẫn tìm đường đi luyện đan (tu Tiên), còn Ngư, Tiều thì theo Đường Nhập Môn tiếp tục đi đến Đan Kỳ để tìm KỲ Nhân Sư, Nhưng khi đến nơi thì Nhân Sư đang bị bệnh và lánh ở Thiên Thai, song họ được gặp lại Châu Đạo Dẫn ở đây. Hỏi ra mới biết làKỳ Nhân Sư không phải là bị bệnh thật mà là vì vua Liêu nghe tiếng cho sứ đến mời Nhân Sư vào làm Ngự Y, nhưng Nhân Sư không muốn làm tôi kẻ thù nên đã xông hai mắt cho mù, rồi lánh về ở Thiên Thai và lưu học trò là Đạo Dẫn ở lại Đạo Kỳ để từ chối với sứ Tây Liêu.

 

Ngư, Tiều không được gặp Nhân Sư và cũng không ở lại để đợi Nhân Sư trở về. Nhưng Nhân Sư đã để lại hai bài dạy phép dùng thuốc (một bài luận về tiêu bản, một bài nói về phép chữa tạp bệnh). Ngư, Tiều lãnh hai bài đó rồi trở về. Sau khi từ biệt Đạo Dẫn và Nhập Môn; Ngư, Tiều dự định sẽ bỏ nghề cũ để đi làm nghề y. Đêm đi lạc đường trong rừng, vào ngủ ở một cái miếu trong hang, nằm mê mộng thấy xử án các thầy thuốc: Thầy châm cứu chữa xằng; Thầy pháp, thầy chùa gieo rắc mê tín dị đoan vân vân và vân vân…

 

Khi tỉnh ra Ngư, Tiều mới biết đó là những lời răn, nên khi về nhà, cả hai người đều ra công học thuốc cho thật giỏi, thấu đáo, rồi chuyên mỗi người một khoa. Ngư chữa bệnh nhi khoa, Tiều chữa bệnh phụ khoa. Họ đều trở nên những thầy thuốc lành nghề và chân chính. Tôi đã để cho vợ Mộng Thế Triền mang thai là cũng muốn học theo cụ Nguyễn Du trong đoạn tái hồi Kim Trọng, không muốn để nàng Kiều tự vẫn chết oan uổng ở sông Tiền Đường.

 

Phải nói rằng từ thế kỷ 16 đến cuối thế kỷ 19 ở Việt Nam ta truyện thơ bằng chữ Nôm rất phát triển. Vì do chế độ phong kiến cai trị hà khắc và các nhà nho rất dị ứng với các văn sĩ khoáng đạt thơ ca tài tử chuyên miêu tả về ái tình, các cụ cho là dâm thư, lên án phê phán thiên lệch thiển cận, nên có nhiều tác phẩm rất hay lại khuyết danh. Tôi đang chuẩn bị cho ra đời tập thơ truyện tình mới cảm xúc từ truyện thơ lục bát: “ Truyện Phan Trần“ thành Truyện thơ song thất lục bát. Tôi đang suy nghĩ nên đặt tên tác phẩm là gì cho thích hợp? 

Có câu ca dao rằng:“ Đàn ông chớ đọc Phan Trần

Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều“

 

20.5.2020 Lu Hà

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: