CHẠY NÚI – Truyện ngắn Nguyễn Liệu

Chạy Núi truyện ngắn của Nguyễn Liệu

Chạy Núi

Nguyễn Liệu

“ Thôi chị em ở lại mạnh khỏe, cầu Trời Phật chị em sớm được về với gia đình”, bà Gia ưá nước mắt bước ra khỏi cánh cửa nhà lao quận. Như thế là bà bị giam đúng ba tháng sáu ngày. Công an quận Mộ Đức mời bà lên hỏi về đứa con út của bà vừa thi rớt tú tài bỏ đi mất tích nguời ta báo cáo con bà tên Hùng , Lê thiện Hùng đã chạy núi. Bà trả lời hoàn toàn không biết, vì con bà nó học ngoài thị xã rồi không thấy nó về, bà cũng không biết nó đi đâu, chỉ nghe người ta nói nó thi rớt. “ Tôi già, lại dốt nát, nên tôi không biết gì hết, xin các thầy xét cho tôi nhờ”. Đó là câu nói bà Gia thường trả lời mỗi khi chính quyền hỏi. Công an quận mời bà lên hỏi sơ ít câu rồi câu lưu bà, rồi cho bà về.

Năm 1954, năm chia hai đất nước, gia đình bà súyt đổ vỡ vì việc đi tập kết ra Bắc. Năm ấy bà trên bốn mươi tuổi. Chồng bà gần năm mươi. Ông Thìn, chồng bà, muốn đi ra Bắc cả gia đình rồi hai năm sau về, nhưng bà không chịu. Bà bảo bà còn một bà mẹ già trên tám mươi, ra đi bỏ cho ai, vì bà không có anh em nào khác. Cha mất sớm khi bà mới sinh ra, rồi mẹ ở vậy nuôi con. Hai mẹ con mắm muối có nhau, thế mà bây giờ bỏ bà ở lại một mình, bà không thể làm được, dù ở lại bị đói khổ bị gì gì bà cũng vì mẹ già ở lại. Nhưng ông lại bảo
– Bà ở lại với bọn Việt gian à, mình phải ra Bắc mới được no cơm ấm áo chứ.
– Thì ông đi với người ta, còn hai đứa nhỏ ở nhà với tui, rồi hai năm ông về mà. Bà buồn buồn nói với ông như vậy.

Khi chánh quyền mới thành lập ở quận, gia đình bà thuộc gia đình tình nghi, gia đình có thân nhân tập kết ra Bắc. Bà bị từ an ninh ấp lên xã lên quận kêu hỏi nhiều lần. Trong năm năm đầu mỗi năm ít nhất cũng ba bốn lần bà bị nhốt trong nhà lao quận, đến nỗi bà thuộc đường vào nhà lao, phía nào nhốt nữ phiá nhốt nam, và bà quen mặt ông xếp lao. Bà thường nói, ngó vậy mà ổng hiền lành, ổng hay cười chứ không la lối nạt nộ như mấy ông an ninh xã.

Quê bà ở Cà Đó, một làng nghèo vào bậc nhất trong quận. Dân trong làng sống vào việc trồng thuốc lá. Chiến tranh tàn phá,  dân làng tản cư lên các trại tạm cư trên quận, bà cũng theo dân làng,  nhưng rồi trốn về quê nhà.  Bà thường nói : “ Không hiểu tại sao tui mến tui thương mái nhà của tui quá, đi đâu rồi cũng muốn về nhà.” Mỗi khi lính trong quận đi tảo thanh, bà cũng như một số người ở lì bị bắt đưa về trại tạm cư, nhưng không quá ba ngày bà trốn về nhà. Cái nhà chính của bà bị cháy, trong một cuộc hành quân bị đốt sạch. Bà tự tay làm lại túp lều đơn sơ, vừa kê cái giường cái bếp và cái bàn nhỏ hai cái ghế. Cái nền nhà trơ trọi trở thành nơi thích hợp trồng cây thuốc lá . Bà trồng được gần bốn chục cây thuốc lá, đủ cho bà sống trong năm. Mấy năm trước bà còn phải chi phí cho thằng nhỏ, bây giờ nó ra đi rồi bà đỡ phải lo cái ăn cái mặc cho nó, đổi trở lại, bà bị tình nghi tiếp tay cho du kích cộng sản và gia đình bà bị gạch mực đỏ gọi là gia đình cộng sản.
Tuy bà bỏ trại định cư về nhà nhưng tên bà có trong danh sách những người ở trại cho nên những kỳ cấp phát cứu trợ cho người tị nạn cộng sản tặng phẩm phần của bà ban chỉ huy trại thu nhận. Vì vậy trên giấy tờ làng Cà Đó của bà không còn cư dân và biến thành nơi oanh kích tự do. Vì vậy súng cối của chánh quyền bất cứ lúc nào cũng có thể bắn phá nơi bà ở. Để đối phó nạn oanh kích tự do, bà đào một hầm vừa một người ngồi ngay bên giường bà nằm và chung quanh nhà năm bảy lỗ có thể xuống núp kịp khi có đạn nổ. Mỗi ngày năm ba lần nhảy xuống các lỗ này là chuyện bình thường, riết rồi bà không thấy sợ sệt hay khó chịu. Đạn nổ bà xuống lỗ, hết nổ bà lên tiếp tục làm việc, không có gì trở ngại.

Trong xóm bà có thêm hai gia đình nữa cũng ở lì như bà. Đầu xóm gia đình bác Chẩm, chỉ có hai ông bà già trên bảy chục tuổi, có một đứa con gái trên mười tám tuổi theo quân “ giải phóng” làm giao liên. Lính trong quận bắt được cô ta đang trà trộn trong chợ, quận trưởng cho lệnh bắn chết tức khắc. Hai ông bà già lên quận nài xin xác con gái về chôn ngay trong vườn. Bà Chẩm còn khỏe trồng năm chục cây thuốc đũ ăn gạo mắm muối cả năm. Ông Chẩm từ ngày đứa con gái một bị bắn chết, ông cấm khẩu không nói một lời. Ban ngày ông ngồi như pho tượng trên ngạch cửa trước nhà, nhìn ra biển như đang chờ đón ai. Đạn pháo kích nổ rền chung quanh, ông vẫn không nhúc nhích. Ban đầu bà Chẩm còn kêu réo bảo ông xuống hầm, nhưng rồi bà cũng quen để mặc ông ngồi nhìn bom rơi đạn nổ.

Một gia đình nữa gần nhà bà Gia gọi là bà Năm Thọt. Bà độ năm mươi phải dùng cây nạn để đi vì một chân bị mảnh lựu đạn chém đứt phải cưa mất dưới đầu gối. Do đó dân làng gọi là bà Thọt. Bà rất khỏe và lanh lẹ, chống cây nạn đi nhưng nguời đủ hai chân theo không kịp. Khi cần chạy nhanh để tránh đạn đại bác nổ, bà vác nạn nhảy cò cò, xuống hầm trước hơn mọi người. Bà ở chung với đứa cháu ngoại lên tám tuổi, cha mẹ nó bỏ làng chạy núi đã hơn năm năm.
Tuy trong làng Cà Đó chỉ còn có ba gia đình, nhưng sống riêng rẻ ít tiếp xúc với nhau không nhờ đỡ không liên lạc với nhau. Họ sống trong cô lập trong âm thầm, bị bỏ quên.

Ra khỏi nhà lao quận, bà Gia một mạch cắm cúi đi như chạy lúp xúp về nhà. Bà cảm thấy vui vui vì được tự do, nhưng bà lo quá không biết thằng Hùng có bỏ học chạy núi như công an quận nói hay không. Bà nghĩ đến đứa con út của bà, thằng Hùng, bà ứa nước mắt. Năm cha nó ra Bắc tập kết Hùng mới có 8 tuổi. Một buổi sáng, chồng bà mang góí trong đó chỉ hai bộ quần áo cũ, một chai đựng muối hột, một củ gừng, chỉ có thế thôi, từ giả gia đình vào Qui nhơn nơi tập trung có tàu đưa ra Bắc. Vì thương con nhớ vợ ông chần chờ đến hạng chót mới xuống tàu. Rồi từ đó đến giờ bà không được tin tức gì về chồng bà. Bà nhớ lại sau khi tập kết ba năm, những gia đình như gia đình bà đều được tin người ra đi, hình như chỉ có gia đình bà không được tin gì. Bà còn nhớ rất rõ những lúc đó bà gắng thức đến gà gáy hồi hai, tức gần sáng, bà mới chợp con mắt, để chờ người đưa tin đến nhà. Nhưng vẫn bặt tin chồng. Những gia đình trong làng âm thầm đến thăm bà chia xẽ nỗi lo âu của bà, an ủi bà.

Năm chồng bà ra đi thì đứa con đầu thằng Anh được mười lăm tuổi học trường ở quận lỵ. Chồng bà muốn dẫn theo nhưng bà không chịu. Nhiều lúc bà nghĩ hay hồi cho thằng lớn đi với cha nó, để cho có cha có con, để cho ổng bớt cô độc, và nhất là có người đưa tin tức về quê quán. Chứ nếu giá sử như ổng có mệnh hệ gì, thì còn có con nó lo cho, và nó còn tin về cho bà biết.

Thằng Anh đúng mười tám tuổi đi quân dịch chín tháng. Vì đã mặc bộ đồ lính của quốc gia, nó không còn được thân thiện ở làng Cà Đó nữa, vì hầu hết các nhà trong làng này đều có dính dáng đến cộng sản và hình như hoạt động ngấm ngầm cho tổ chức bí mật nằm vùng này.. Có lần nó mặc bộ quân phục về thăm nhà, dân làng thấy nó có vẻ lơ là không còn vồn vã nữa, nó biết điều đó, nên nó bàn với mẹ nó sẽ vào Sài gòn.
“ Con vào Sài gòn phố phường đâu có dễ, mình lại tứ cố vô thân, thì làm sao hả
con ?” Bà Gia rơm rớm nước mắt nói với con như tiếng khóc. Để cho mẹ bớt lo, Anh đặt chuyện:
“ Khi con đi lính, đại tá chỉ huy trưởng con cho biết ông ở Sài gòn, bây giờ ông ta giải ngũ về nhà, con sẽ vào nhờ ông xin việc làm, mẹ yên tâm”
-“ Con nói sao mẹ vẫn lo quá, gần mười năm trước cha con cũng bỏ nhà ra Bắc, bây giờ đến lược con, cũng bỏ nhà vào Nam, gia đình mình sao ly tán dữ vậy con ?”
– Cha đi vì chánh trị biệt tích, còn con đi làm ăn mà, rồi con về thăm mẹ đều đều mẹ lo gì.

Anh lặng nhìn xóm nghèo… rồi từ biệt. Anh biết từ nay rất ít có dịp trở lại chốn này. Người ta bảo quê hương là đẹp hơn cả, nhưng anh thú thật chả thấy đẹp chút nào, còn thấy thê thảm là khác. Những ngày học ở trường quận, bạn trong lớp thường chọc ghẹo anh, lấy tay bịt mũi ngồi bên anh bảo “ mùi phân người đầy áo quần mầy”, anh xấu hổ tức quá, đấm vào mặt thằng bạn máu mũi trào ra, thầy đuổi anh không cho học, mẹ anh phải lên khóc lóc năn nỉ anh mới được trở lại trường. Anh nghĩ rằng bất cứ chỗ nào trên đất nước này cũng tốt hơn xóm Cà Đó của anh. Lúc nhỏ anh rất bực mình, tại sao cha mẹ anh lại ở chỗ kỳ lạ, ngay cái tên làng nghe cũng thê thảm quá. Tại sao có những làng chung quanh đây có những tên nghe hay quá, nên thơ quá, hoặc có ý nghĩa rõ ràng như làng Bồ Đề, làng Long phụng làng Văn Bâng, làng Đại Thạnh, Mỹ khánh…mà làng anh gọi là Cà Đó nghĩa là gì. Có lần đang học giờ địa lý, thầy giảng thao thao về địa hình tỉnh Quảng ngãi, anh hỏi thầy tại sao gọi là làng Cà Đó. Cả lớp cười vang. Thầy ngừng lại, mặt hơi đỏ, bảo hỏi tầm bậy không tập trung vào bài, cho anh điểm dế-rô. Rồi từ đó mãi tới ngày làm trung úy đại đội trưởng ở quận nhà, quận Mộ Đức, anh cũng chưa nghe ai giảng cho anh hai chữ Cà Đó.

Bà Gia mở cửa vào nhà, trời mùa đông lạnh nhưng bà cảm thấy ấm áp. Bà ngồi lên giường vuốt ve vạt giường, niềm vui vui triều mến của con người được tự do được trở về nơi yêu dấu Cà Đó của bà. Giật mình nghĩ đến con heo trong chuồng, bà bước ra chuồng heo. Thấy chủ về con heo như cảm thấy vui mừng đưa hai chân trước lên kêu ụt ụt. Bà lấy làm lạ cái chậu heo ăn đầy cám nấu chín với rau lang. Và bầy gà quấn quýt bên chân bà. Thì ra có người âm thầm đến cho heo gà bà ăn uống như những ngày bà ở nhà. Bà nghĩ ai làm việc này. Thì chắc một trong hai gia đình còn lại chứ ai vào đây. Bà mừng mừng lo lo, vì đây không phải lòng tốt cá nhân, mà là có cái gì đây.
– Hoạ ! hoạ ! cái gì lạ vầy trời, cái nồi đất để bên bếp tro âm ấm và một nồi cơm còn nóng trong cơm có một trứng vịt chín. Bà lặng người, thì quả có ai cố tình nấu cơm cho bà . Bên ngoài trời gió và mưa nặng hạt. Tuy chưa tối nhưng mặt trời khuất trong mây mù, bầu trời đen đục như đêm bắt đầu. Vắng lạnh quá, chỉ có tiếng gió rít qua tấm phên che vách và tiếng mưa là tiếng động duy nhất. Bà ngồi thừ trên giường, như bất động, nghĩ đến chồng đã quá lâu rồi không tin tức. Đứa con lớn như người xa lạ, như sống trong một thế giới khác. Còn đứa út thân thương nhất của bà, thì đã bỏ bà gần nửa năm nay. Bà còn cái gì. Bà khóc thật rồi : “ Trời ơi sao tôi bị đày đọa như thế này. Tôi mất hết, mất chồng mất con, mất hết.”
Mệt mỏi bà nằm xuống giường, hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chập chờn vào giấc ngủ.

“ Mẹ, mẹ mẹ” bà giật mình ngồi dậy, Hùng ôm bà : “ Con về thăm mẹ đây, mẹ trấn tỉnh nói nho nhỏ”. Bên ngoài trời tối như mực. Mưa gió không ngừng.
“ Sao con bỏ mẹ ra đi không cho mẹ biết” Bà nói trong tiếng khóc.
-Con được lệnh phải ra đi gấp không kịp về thăm mẹ. Con tính đi ít hôm rồi tin cho mẹ biết, nhưng khi con trở lại nhà thì biết mẹ bị bắt vào quận.
– Con nở bỏ mẹ một mình con đi hả con. Con có biết con đi rồi mẹ buồn đau tới mức nào không con.
– Con biết, nhưng còn cách nào khác đâu. Con tới tuổi lính, nếu không thoát ly, thì bọn ngụy bọn địch nó cũng bắt con đi lính.
– Đói khổ gì mẹ cũng chịu được. Cha con bỏ mẹ ra đi mẹ cũng chịu được, nhưng thằng Anh cũng bỏ mẹ, rồi tới lúc con cũng bỏ mẹ một mình, làm sao mẹ sống được hở con.
– Hoàng cảnh mà mẹ, con phải đi chiến đấu cho cách mạng để giải phóng quê nhà. Con không thể làm như anh hai, tán tận lương tâm, theo địch để sát hại đồng bào đại đa số người nghèo khổ, bần cố nông, công nhân thợ thuyền.
– Thôi con ơi, anh con nó không đi lính thì cũng bị bắt lính. Họ sao anh con vậy chứ có vui sướng gì đâu con. Mẹ không biết tùy các con. Đêm ngày mẹ luôn van vái Trời Phật phù hộ cho hai con được bình an.
– Mẹ bị bắt chị em cơ sở lo heo gà cho mẹ. Đừng tiết lộ với bất kỳ ai những việc đó và việc con về thăm mẹ cũng phải giữ kín, mẹ nhớ nhé nếu không rất có hại cho bản thân con. Thôi con đi có dịp con về thăm mẹ. Mẹ nhớ kỹ những điều con dặn nghe mẹ.
– Trời mưa lớn quá mà con ra đi hởi trời.
Cánh cửa hé ra rồi khép vội lại, Hùng mất khuất trong đêm mưa. Bà thẫn thờ lấy vạt áo lau nước mắt thì thầm, có phải con tôi hay ma hở trời, nó biến mất rồi.

Thế rồi cứ vài tháng, vào những ngày cuối tháng, đêm không trăng, Hùng thường về thăm mẹ. Gần như thường lệ sau ngày hâm ba hâm bốn âm lịch hàng tháng bà Gia lại hi vọng gặp con. Thường những đêm này bà không ngủ nằm chờ tiếng mở cửa nhẹ sau nhà. Hai mẹ con nói chuyện rầm rì chừng nửa tiếng Hùng lại ra đi. Bắt đầu những đêm tối trời cuối tháng, bà làm thịt con gà, lóc từng chút thịt kho mặn sả ớt bỏ vào lon gọi là lương khô cho con bà khi về thăm đem theo ăn hàng tháng. Có lần Hùng hỏi mẹ :
“ Mẹ lâu nay có gặp anh hai không”
– Mẹ không gặp nghe nói anh con đóng quân trên quận, không biết họ nói có đúng không. Hàng tháng mẹ lên chợ huyện mua mắm muối mẹ thấy lính đi lại nhiều lắm, nhưng không thấy anh hai con, mẹ tính hỏi thử chú lính có biết anh hai con không nhưng mẹ sợ quá không dám hỏi.
– Mẹ hỏi làm gì, đi chợ mua lẹ rồi về, đừng hỏi lính, cơ sở họ theo dõi họ tưởng mẹ liên lạc với địch thì mệt cho mẹ, mệt cho con đấy, mẹ nhớ cho. 

Bà ừ ừ cho có chuyện, nhưng trong thâm tâm của bà rất muốn nếu không dám gặp, không gặp được, thì ít nhất cũng thấy nó ốm mập như thế nào, cao lớn như thế nào. Hai anh em nó từ lúc còn tấm bé tánh tình đã khác nhau như người lạ. Thằng lớn thì lúc nào cũng vui vẻ, dễ dãi với mọi người, rộng rãi với bạn bè với bà con. Tánh xuề xòa xả lả sao cũng xong. Trái lại thằng nhỏ như cóc cắn, ít cười ít nói, hẹp hòi, nhưng rất gan lỳ. Nhớ năm học tiểu học, thằng con ông xã Tường, một người giàu có ở quận lỵ, chưởi thằng nhỏ :  “Cha mầy đồ cộng sản”. Thằng nhỏ căm phẩn, khóc, bỏ học về sớm. Thay vì về nhà, nó đến cỗng nhà ông xã Tường núp trong bụi, chờ. Con ông xã Tường vừa bước lên bực cấp cỗng ngõ, liền bị một viên gạch đập sau ót, viên gạch bể nhiều mảnh, chó sủa vang. Thằng bé bỏ chạy bị người ta tóm cổ. Hỏi, nó nói thật, chưởi cha nó nên nó phải giết, và ai muốn làm gì nó cũng chịu, không bao giờ xin xõ hay tỏ vẻ hối lỗi. Bà Gia kể : tôi phải bán rẻ mấy lang thuốc rê, lấy tiền mua lễ vật lên nhà ông xã Tường, lạy ông từ ngoài ngõ lạy vào, xin ông tha tội cho thằng con ngu dại, và xin chịu tiền thuốc cho cậu út phải nằm bịnh xá hơn mười ngày.

Tháng năm trời nóng như thiêu như đốt. Nắng dọi xuống vườn cát trắng, hắt lên mặt phừng phừng như gần lò lửa cháy. Bà Gia khom khom gánh hai gàu nước lớn tưới cây thuốc lá. Theo kinh nghiệm gia truyền, cây thuốc lá cần tưới dưới ánh nắng gay gắt canh trưa. Càng nắng gắt, cây thuốc được tưới lúc đó, lá thuốc dày, nhiều nhựa, hút nghẹn, và trở thành thuốc ngon. Cây thuốc lá rất cần nước, nhưng thích hợp đất cát, và khí hậu càng nóng càng tốt. Các điều kiện mâu thuẫn với nhau đó, làm cho người trồng thuốc khá vất vả. Trời nóng quá mồ hôi ước đẫm chiếc áo bà ba xám của bà. Chảy vào mắt làm cho mắt cay mờ, gió tạt hơi nóng như lửa hừng hực vào mặt bà, làm cho bà choáng váng nhiều lúc muốn ngã quỵ trên sân cát nóng phỏng da chân.
Bà dụi mắt la hoảng : Mô Phật con về bao giờ. Ba người lính tay cầm súng lù lù trước mặt bà. Một người ngồi xuống cạnh hàng rào nơi cổng vào nhà, một người đi vòng phía sau nhà, người còn lại là Anh, trung úy Anh, con trai trưởng của bà. Bà quăng gánh nước, nước trong gàu chảy lên láng, ôm chầm lấy con ‘ Trời ơi mẹ cứ thấy chiêm bao con hoài mà trưa nay mẹ mới gặp được con.” Bà khóc oà thành tiếng. Trung úy Anh mặt đỏ ngầu im lặng. Hai mẹ con dìu vào nhà. Đàn gà nóng quá núp trong nhà bị động bay nhảy tứ tung. Ngồi trên chiếc ghế cạnh giường, Anh nói : “ Mẹ vẫn mạnh chứ. Hôm nay hành quân xóm Bàu bên cạnh, con qua đây thăm mẹ. Lâu quá trên năm năm rồi không gặp mẹ mà cũng không biết cách sao liên lạc với mẹ, với sự thật con sợ bọn nằm vùng nó làm khó khăn mẹ, nếu mẹ ở trại định cư thì con dễ thăm mẹ hơn. Người ta không ngờ vùng này còn có người ở như mẹ. Anh vừa nói vừa nhìn cái lỗ để núp đạn bên chân giừơng. Trời ơi nhiều khi pháo binh nó bắn lung tung vùng này mẹ làm sao. Bà vừa khóc, vừa mừng, chỉ cái lỗ bên giường nói : “ Mẹ đào nhiều hầm lỗ tiện đâu nhảy xuống đó, chết sống có số mạng mà con.” Anh tiếp : “Đi học khóa bổ túc mới về biết mẹ bị bắt con liền gặp ông quận trưởng bảo đảm xin cho mẹ được ra về. Thằng Hùng nó bậy quá làm khổ cho mẹ. Mà lâu nay nó có về thăm mẹ không. Bà Gia lắc đầu lìa lịa “ không, không, hơn năm nay mẹ không gặp nó, không biết nó chết sống như thế nào.
– Nếu nó về mẹ nói cho nó biết đừng dại dột theo Việt cộng, không chết đạn thì cũng chết đói. Nó nên trở về. Nó tìm cách gặp con, nó sẽ được che chở, con đưa nó về hàng ngũ quốc gia mà khỏi bị tù tội. Con sẽ lo mọi thứ cho nó để nó tiếp tục học hành đàng hoàng. Mẹ nhớ nói, con sẽ đài thọ cho nó vào Sài Gòn ăn học đầy đủ như bọn con nhà giàu. Con còn độc thân, có thể lo cho em con và lo cho mẹ. Mẹ già rồi còn phải gánh nước tưới thuốc làm sao chịu nỗi. Nghe con mẹ lên quận ở. Bám ở đây làm gì đâu mà mẹ phải chịu hứng bom hứng đạn. Con hành quân con mong gặp nó, để con cứu nó, cho nó đi về con đường chính. Nếu nó mà gặp đại đội trung úy Hai, trung úy Bình, thì họ bắn bỏ tại chỗ. Mẹ nhớ gặp nó dặn kỹ, nó lên quận tìm con, để con cứu nó, và cho nó đi học lại. Nhất định không thể để nó bỏ mạng trong hàng ngũ Việt cộng . Thôi con đi, không nên ở lâu vùng này, con để lại cho mẹ chút tiền để mẹ tiêu dùng, con biết mẹ không tiền thiếu thốn lắm. Anh đứng dậy để tiền trên chiếc bàn nhỏ, bước ra sau nhà. Thôi con đi nghe mẹ, anh bước qua hàng rào phía sau, đi về hướng bãi biển. Bà ứa nước mắt nhìn ba người nhỏ dần nhỏ dần trên con đường trưa hè nắng gắt. Bà thầm thì, bao giờ gặp lại nó. 

Bà đổ gạo lên cái sàng đặt giữa nhà lượm sạn. Bầy gà chạy chung quanh nơi bà ngồi, ngóng chờ bà ném những hòn sạn nhỏ ra ngoài. Một tay lượm sạn, một tay xua đuổi những con gà lì lợm mổ đại vào đống gạo trong sàng. Bà lẩm nhẩm nay hâm bảy rồi, tháng thứ hai mà sao thằng nhỏ không thấy về. Gần ba năm rồi không bao giờ nó về sau ngày hâm bảy. Hay là có gì trục trặc cho nó, bà không dám nghĩ thêm. Mấy đêm nay không đêm nào bà ngủ được. Khi chiều bà nhốt con gà mái chờ khi thằng nhỏ về, bà làm thịt cho nó ăn miếng thịt gà tươi, chứ trên núi rừng nó khó có miếng thịt tươi. Nó không về, sáng hôm sau bà thả con gà và chiều bà nhốt lại. Bà hi vọng đêm nay đêm hăm chín cuối tháng, trời tối như mực con bà sẽ về.

Gà gáy hồi ba, mệt quá bà ngủ thiếp, khi giật mình trời sáng hẳn. Ánh nắng ban mai chiếu xiêng vào nhà.Bầy gà vào nhà kiếm ăn nhảy lên bàn lên giường bà nằm, ỉa đầy. Bà vội lấy cây chỗi quét nhà đập đuổi gà ra khỏi nhà. Bà cảm thấy khó chịu, ít khi bà dậy sau mặt trời mọc như hôm nay. Bà định sáng nay đi chợ huyện để bán thuốc lá mua ít mắm muối, mua thẻ nhang lớn, giấy vàng bạc, và thuốc tây. Đó là những thứ cần thiết. Mỗi chạng vạng bà thắp một cây nhang phía trước nhà một cây nhang phía sau nhà, một cây nhang trên trang thờ phía trên vách trên đầu giường của bà. Bà vang vái Trời Phật, ông bà cha mẹ những kẻ khuất mặt, phù hộ cho hai con trai của bà được ‘ tai qua nạn khỏi’. Bà nghĩ rằng chồng bà không còn nữa, nhất là thỉnh thỏang trong giấc chiêm bao, thường trong những ngày sau Tết nguyên đán, bà thấy ông về, nhưng vẻ mặt buồn quá, ngồi thừ trên giường dưới chân bà, thở dài, rồi ra đi không nói một lời. Có khi bà giật mình tung cửa bước ra sân may còn thấy ông, nhưng chỉ thấy đêm khuya vắng lạnh, bầu trời đầy sao, tiếng dế rỉ rả quanh vườn. Lặng lẽ bà vào nhà thắp thêm cây nhang lên trang thờ. Bà nấu ấm nước chè uống, nhớ lại những ngày khi còn ở nhà ông thường uống ấm chè tươi lúc mờ mờ sáng. Đêm rằm mùng một, bà thường đốt ít giấy vàng bạc tin rằng ở thế giới khác ông có thể sống những ngày không thiếu thốn. Làm sao bà quên được ngày mồng Bảy tháng Ba, ngày ông xa bà xa hai đứa con trai, và mãi mãi là ngày vĩnh biệt. Đến ngày này, hàng năm, bà cúng vọng mâm cơm, bà nghĩ tội nghiệp cho ổng quá.
Nhưng khó nhất là mua thuốc Tây. Bà không dám vào tiệm thuốc Tây trước quận vì ở đó làm cho bà sờ sợ, xa cách bà nhiều quá. Các kệ thuốc chứa đầy thuốc, các người bán thuốc ăn mặc sạch sẽ quá, làm bà xa cách sờ sợ. Bà thường mua ít thuốc cảm và thuốc cầm máu ở ngay các gánh hàng xén trong chợ. Bà sợ nhất là thuốc cầm máu, nếu công an họ hỏi thì lôi thôi lắm. Bà gánh hai lan thuốc vừa ra khỏi nhà thì hai thanh niên xăm xăm đi thẳng đến bà. Bà giật mình trố mắt nhìn : “ Hoạ thằng Hùng, con về hồi nào cả đêm mẹ chờ con không thấy, thôi vào nhà” Hùng xìa vai gánh cho mẹ, ba người vào nhà. Đội chiếc nón lá, ở trần áo vắt vai, cái quần cụt màu đất, chân không giày dép, mới nhìn như người nông dân đang làm việc ngoài ruộng. Dưới cái áo một khẩu súng xếp gọn loại tiểu liên Tiệp khắc. Một người nữa dong dõng cao ốm, mặc quần đen dài áo màu củ nâu, một cái nịt bằng vãi cita quanh bụng , chứa bốn năm quả lựu đạn và một con dao cán ngắn. Đội chiếc nón vãi hẹp vành đã sờn mòn lót chiếc khăn lông cũ màu xanh lá cây gần che khuất cặp mắt long lanh. “ Chào Bác”, tiếng nói thanh thanh của người con gái làm bà Gia giật mình : “ Chào cô, lâu ngày nay gặp con tôi, quá mừng tôi quên chào cô, mời vào nhà uống nước. Tui tính đi chợ bán ít thuốc nhưng gặp thằng Hùng nó về tôi mừng quá.” Bà kéo tấm phên che cửa, ba người vào nhà.
“ Bậy quá, mẹ mới thả con gà tính nhốt ban đêm làm thịt cho con ăn miếng không thấy con về sáng mẹ mới thả cho nó kiếm ăn, tối lại nhốt nó chờ con, chà, bây giờ làm sao” Hùng cảm thấy vui vui gặp mẹ : “ Thôi mẹ con đi công tác ghé thăm mẹ một tí rồi con đi ngay cho kịp anh em, cô này người ở Long phụng thoát ly trước con nữa đấy mẹ. À theo tin cho biết anh hai có về nhà thăm mẹ, có không mẹ. Câu hỏi bất ngờ bà không biết phải trả lời sao nên ú ớ vừa nhìn người con gái vừa nói xả lả “ lâu rồi con , à con có mạnh khỏe không, mẹ có mua ít thuốc tây con cầm theo dùng” vừa nói bà vớ tay lên trang thờ lấy gói lá chuối, gói cột kỹ bằng dây vãi, đưa cho Hùng. Phản ứng tự nhiên Hùng cầm gói thuốc nơi tay mẹ nhắc lại câu hỏi “ Nếu ảnh có về mẹ đừng cho ảnh biết con có về đây, con sẽ cho ảnh bài học trừng trị tội bán nước của ảnh. Thôi con đi nhé mẹ, trễ việc của con rồi.” Dạ chào bác, người con gái chào bước ra sân hướng về phía biển Hùng bước theo còn nhắc lại “ Mẹ nhớ đừng cho anh hai biết con về ban ngày nhé, nhớ nghe mẹ”. Nước mắt chảy mặn mặn làm bà nghẹn không trả lời thành tiếng. Bà đứng như cây cột, nhìn hai người đi vội vã dưới ánh nắng chói chang buổi sáng.

Buổi sáng yên lặng rất yên lặng. Gió biển thổi vào hây hây mát. Bà vào nhà, gục đầu trên hai đầu gối, ngồi khóc. Hình ảnh viên gạch đập vào đầu con ông xã Tường năm xưa làm bà lo sợ cho tính hung hãng tàn nhẩn của thằng con út. Bây giờ nó có súng và hàng ngày nung nấu căm hờn, trời ơi là trời, tôi phải biết làm sao đây. Bà lại khóc tiếp. Tự nhiên trước mắt như hiện ra cảnh hai con trai của bà chộ mặt tại nhà bà. Rồi tiếng cải vã, rồi tiếng súng, tiếng lựu đạn, rồi máu chảy thành suối nhuợm đỏ nền nhà…bà không dám nghĩ tiếp, bà run cầm cập, sợ quá.
“ Phải làm sao bây giờ, không khéo trễ mất, phải làm sao bây giờ”. Lòng thương và bổn phận của người mẹ làm bà tỉnh táo. Đứng dậy phủi quần dính đất, bà ra sau nhà rửa mặt. Nước ban mai hơi mát lạnh, bà quyết định phải đi gặp gấp thằng Anh để chận đứng sự chém giết huynh đệ tương tàn.
Mặt trời gần đứng bóng, bà gánh thuốc lá vội vã lên quốc lộ đến chợ huyện. Thấy bà đến trễ người mua hàng ép giá, nhưng quá cần thiết bà bán đại, mua ít vật cần thiết thường lệ, rồi đi tìm cách gặp trung úy Anh. Vì sinh mạng của hai đứa con trai của bà làm bà mạnh dạng không còn rụt rè như những lần trước.

Đồn lính trên đỉnh đồi trọc rào dây kẽm gai chằng chịt, phiá sau cơ quan hành chánh quận. Bà theo con đường lớn lên dốc dẫn vào cổng đồn. Một người lính đi ngược chiều hỏi : “ Chỗ đóng quân bà lên làm gì ?”
– Chú cho tui gặp thằng Anh/
– Anh nào ?
– Thằng Anh con tui.
– Ổng làm gì trên này.
– Dạ nó làm trung úy.
– Trung úy Anh hả.
– Dạ trung úy Anh con tôi.
– Bác là mẹ của trung úy Anh, đại đội trưởng.
– Dạ làm ơn cho tôi gặp.
– Bác đứng đây, cháu chạy vào báo trung úy, rồi cháu ra dẫn bác vào. Nói xong người lính vội vã chạy ngược lên đỉnh đồi.
Trung úy Anh hấp tấp ra gặp mẹ “ Có việc gì, mẹ đã gặp thằng Hùng em con chưa ? không đợi bà trả lời, anh tiếp “ mẹ xuống quán hủ tiếu gần đây con nói chuyện”.
Nói là quán, nhưng đây là nhà ở dưới chân núi gần đồn. Căn nhà ngoài vừa phòng khách vừa bán đồ ăn. Trong phòng kê bốn cái bàn vuông nhỏ chung quanh bàn nhiều chiếc ghế không có chỗ dựa. Trên tấm vách ngăn phòng nhà trong, chữ màu đen than viết nguệch ngoạc , hủ tiếu, cháo gà, bún bò, cơm bữa. Bia lớn, bia 33. Càphê đen , sữa đá……Người chủ quán lễ phép đặt trên bàn một tô hủ tiếu và một ly cà phê đá trước mặt trung úy.
“ Mẹ ăn đi, con mới ăn vừa rồi”
“ Con ăn đi, mẹ no rồi mà” Bà nói rụt rè nhìn lên tô hủ tiếu, một vài miếng thịt heo nổi trên mặt, có lá hành xắc nhỏ và váng mỡ vàng vàng thơm phức. Trung úy Anh ngồi đối diện mẹ, lấy khăn trên ống đũa muỗng lau đôi đũa cái muỗng bằng thiếc đưa cho mẹ 

“ còn nóng mẹ ăn đi, con uống cà phê”. Khuấy khuấy ly cà phê đá hớp một hớp anh hỏi : “ Mẹ có nói với thằng Hùng những điều con dặn chưa ?”
Bà không trả lời thẳng câu hỏi, với giọng nho nhỏ vừa đũ hai mẹ con nghe, bà kể lại tất cả những lần gặp ban đêm đứa con út của bà. Và ngay sáng nay. Bà nói :
“ vì thấy hai đứa nó hằm hằm đi ban ngày thị thường, nên mẹ lo quá, mẹ phải lên gấp để tìm con, báo cho con biết đề phòng. Mẹ thấy con còn thương lo cho em con, lo cho thằng Hùng, trong khí nó hằm hằm muốn ăn tươi nuốt sống con, mẹ sợ quá, không biết phải làm sao. Mẹ sinh con trời sinh tính, mẹ không biết làm gì bây giờ để các con không giết hại nhau, nếu có điều gì, chắc mẹ chết trước các con. Bà khóc thành tiếng. Trung úy Anh bối rối “ Mẹ đừng khóc người ta thấy, mẹ ăn miếng, bình tỉnh chuyện đâu còn đó, mẹ đừng lo quá hại đến sức khỏe tuổi già.”

Bà Gia ra khỏi quán còn nhắc lại :
“ Con nhớ lời mẹ dặn nhé, không nên về thăm mẹ nếu có việc cần hoặc mẹ nhớ con mẹ lên đây thăm con. Con đừng về rất nguy hiểm. Khi trong nhà có bọn nó thì mẹ phơi cái áo hoặc cái quần trên cây sào ở sân trước. Mẹ giặt quần áo mẹ phơi phía sau, khi có đồ phơi trước nhà tức có bọn nó trong nhà con đừng vào nguy hiểm , con nhớ chưa ?”
Trung úy Anh gọi chủ quán ra ghi sổ, cười bình thảng nói với mẹ :
“ Mẹ lo quá, bọn con có súng mà.’
“ Mầy nói cái đách gì vậy Anh !” bà ngạc nhiên.
– Mẹ yên tâm con nghe lời mẹ mà, con nhớ thấy áo quần phơi trước sân con không vào, mẹ yên tâm chưa” Trung úy Anh cười hiền lành, dễ thương.

Năm 1968, tết Mậu thân, làng Cà Đó vui vẻ, bộ đội kéo về ăn Tết có xóc dĩa có chơi bài chòi. Hùng về nhà có người bạn gái đi theo, bà mừng rỡ lo lo. Bà vội vã nhúng ướt bộ áo quần treo phơi ở sân trước, bà không quên buột chặt vào cây sào sợ gió bay. Thắp nhang ở trang thờ bà khấn vái thằng Anh con trai trưởng của bà đừng về. Bọn nó kéo về đầy làng con đừng về, lạy trời đất đừng cho con tôi về. Nhìn bộ áo quần phơi trước nhà bà hơi yên lòng. Tối mùng hai Tết súng nổ dữ dội, Hùng được lệnh di chuyển khỏi làng hướng lên quốc lộ. Đêm đó bà ngồi dưới lỗ hầm đến sáng. Những tiếng đạn pháo binh nổ long trời, mảnh văn rào rào chung quanh bà . Trên trời hỏa châu chiếu sáng như ban ngày. Bà giật mình lo sợ cho con bà, cho thằng Hùng. Từng toán, từng toán, khiêng thương chạy lúp xúp hướng về bờ biển. Dưới ánh sáng hỏa châu bà nhìn rõ quá.

Trời vừa tản sáng, ngưng tiếng súng, lính trên quận tràn vào làng lục soát.
“ Mấy hôm nay thằng Hùng có về không mẹ ?” Bà giật mình bước lên hầm thì ra trung úy Anh con bà đã vào đến sân. Bà không kịp suy nghĩ trả lời :
“ Nó về nhưng đi liền con.”
– Mẹ có nói lời con dặn mẹ không ?
– Không kịp gì hết thì tụi nó rút ngay.
– Mẹ yên tâm lính quốc gia đang tiêu diệt bọn nó, bây giờ con phải theo đơn vị hành quân. Nhìn bộ áo quần trên cây sào, anh cười : “ Mẹ phơi cho con đấy hả, không sao đâu khi có hành quân con mới ghé nhà. Mẹ cần gì nhớ lên quận gặp con, nếu không có con, mẹ liên lạc ông bán hủ tiếu đó biết tin tức con, mẹ nhớ chưa.

Từ đó bà không còn gặp hai con nữa. Hai tháng sau bà lên chợ bán thuốc lá nghe nhiều tin tức có những tin trái nghịch nhau. Người ta bảo bộ đội giải phóng chết nhiều quá đến nỗi chất thành đống rồi tưới xâng đốt . Số bị bắt bị thương nhiều lắm. Bà dừng lại để nghe người ta nói chuyện may ra bà biết tin thằng Hùng. Bà quen đường lên đồn hỏi trung úy Anh nhưng lính lắc đầu không có ông trung úy Anh chỉ có trung úy Tích. Thấy bà già thiệt thà tội nghiệp người lính chạy vào đồn tin cho trung úy Tích có người nhà gặp. Trung úy Tích vội vã chạy ra :
“ Bác hỏi ai ?”
– Dạ thằng Anh con tôi.
– Anh nào bác.
– Dạ trung úy Anh
– Bác là gì của ông Anh.
– Tôi là mẹ nó
– Dạ, trung úy Anh đổi đi Vũng tàu rồi bác, đơn vị cháu vào thế đây.
– Nó có mạnh không cậu
– Dạ chắc mạnh khoẻ bác yên tâm rồi ảnh sẽ gửi thư cho bác. Nói xong trung úy trở lên đồn. Bà vừa khóc vừa lui xuống chân đồi, bà trực nhớ con bà có dặn vào ông bán hủ tiếu để biết tin tức con bà.

Quán, người ra vào đông quá toàn là lính. Bà đứng bên ngoài nhìn vào tìm người chủ quán. Toàn là lính không thấy ông chủ quán, bà định lui về thì lại gặp ông chủ quán ở ngoài đi vào:
“ Bà hỏi ai, tìm ai ?”
– Dạ thưa ông,.. tôi hỏi thằng con tôi.
– Con bác là ai ?
– Dạ nó là trung úy Anh .
– A tôi nhớ ra rồi, thì ra có một lần bác với trung úy Anh uống cà phê ở đây. Bác chờ tôi chút, tôi đem cái này cho bác.
– Đại đội của ổng tái huấn luyện ở Vũng Tàu, hôm đi ổng có dặn tôi nếu gặp bác báo cho bác biết, và đưa ba nghìn bạc cho bác. Ồng còn dặn thêm nếu bác cần tiền tôi đưa bác mượn, rồi ổng trả lại cho tôi. Trung úy Anh người đàng hoàng lắm, tôi kính trọng ổng lắm. Nhiều thì tôi không có, chứ cần chút ít để xài thì bác cứ gặp tôi đưa cho bác. Đừng ngại nhé bác, thôi bác về đi.
Về đến nhà bà mới tiếc lúc trưa không hỏi chú chủ quán thử thằng Anh sau khi học nó có trở về quận mình không.

Tháng 3 năm 1975, hết chiến tranh, Cà Đó sống lại. Các gia đình ở trại tản cư lui về dựng lại nhà sơ sài trên nền cũ. Bà năm Thọt làm chủ tịch cách mạng xã Cà Đó. Người con rể của bà làm chủ tịch quận, người con gái của bà đã qua đời vì bịnh sốt rét rừng. Làng Cà Đó là làng cách mạng tiến bộ bậc nhất trong quận. Chỉ có hai người bị đi cải tạo là ông già Chẩm và bà Gia.
Ngay đêm đầu tiên trong nhà lao quận, ông Chẩm dùng hai ống quần dài thét cổ chết trong phòng cầu tiêu. Ở phòng giam nữ bên cạnh, bà Gia khóc nói lớn :
“ Trời ơi, hơn năm năm nay, từ ngày con gái của ông ta theo cách mạng bị ông quận bắn tại chợ, ông cấm khẩu không nói chuyện với ai, cả ngày ngồi chép miệng nhìn ra biển, chúng tôi và bà chủ tịch năm Thọt biết rõ điều đó, thế mà khi đêm ông đã chết rồi, trời ơi là trời.!”

Ba người công an cách mạng hỏi cung bà Gia.
“ Bà cho biết, bà đã liên lạc nhiều lần với tên trung úy ngụy ác ôn trong quán cà phê trước đồn sau cơ quan quận.”
– Dạ tôi già cả lại dốt nát nên tôi không biết gì hết, xin các thầy xét cho tôi nhờ
– Bà đừng giả vờ chính bà làm tình báo cho Mỹ ngụy . Điện đài để đâu, các hộp thơ các mật mã cất dấu đâu, bà vẽ sơ đồ lưới tình báo Mỹ ngụy tổ chức như thế nào gồm những ai, bí danh,bí số, địa chỉ, tiền nong hàng tháng như thế nào…. phải thành khẩn khai báo thì cách mạng mới tha cho bà, cách mạng chỉ đánh người chạy đi không đánh người chạy lại.
– Dạ tôi già cả lại dốt nát nên tôi không biết gì hết, xin các thầy xét cho tôi nhờ.
Suốt hai mươi năm nay bà thuộc lòng một câu nói khi có người hỏi cung bà.

Ba đêm liên tiếp công an hỏi cung bà để khám phá hệ thống tổ chức tình báo Mỹ ngụy. Kết thúc hồ sơ bảo bà ký. Không biết chữ, bà điểm chỉ dấu ngón tay cái dưới cùng bản cung. Bà bị đưa lên rừng núi cải tạo chung với những người làm việc trong chế độ cũ. Đi đến trại nào bà cũng được làm nhà bếp, nhờ thế bà ít đói hơn những tù nhân khác. Cải tạo đến năm thứ sáu bà bị đưa vào trại Xuân phước ở rừng núi Phú yên. Mắt bà mờ quá không thấy đường đi lại, quờ quạng. Trung tá trại trưởng gọi bà lên bảo bà có chồng đi tập kết ra Bắc năm 1954, có con là liệt sĩ cách mạng , nhưng bà theo đứa con trưởng ác ôn làm trung úy ngụy quân, làm tình báo cho Mỹ, nhưng cách mạng khoan hồng cho bà đi học tập cải tạo. Bà phải gắng lao động tốt, học tập tốt, thành khẩn khai báo để trở thành người lương thiện, để cách mạng tha cho về sum họp gia đình.
Bà chờ viên trung tá nói cho hết câu, không còn nói gì thêm nữa, bà chậm chạp thưa :
– Dạ.
Bà không thấy được nữa, bà được phân cho công tác mới hợp với khả năng của bà, là cả ngày cầm chiếc quạt bằng lá, phe phẩy đuổi ruồi các thúng cơm của tù.
Mùa đông năm ấy lạnh quá, bà qua đời trong một đêm gần Tết.

Nguyễn Liệu

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: