Quảy Gánh Sầu, tác giả Nguyễn Văn Quảng Ngãi

Quảy Gánh Sầu

 

Ngày … tháng … năm …1990

 

Con của Mẹ

 

Vùng Đồi Dang ở quê mình đã bị nhà nước quy họach nên tháng vừa rồi chị và em con đã về lo cải táng phần mộ của Bà Nôi và của Cha con đến gần chỗ nằm của Ông Nội ở chân núi Xương Rồng. Mẹ đau buồn vô cùng vì dạo nầy mẹ thấy trong người qúa yếu nên không thể về lo tròn bổn phận với Cha con được. Hơn năm mươi năm rồi, kể từ ngày Người bỏ mẹ con chúng mình ra đi, biết bao là gian nan khổ cực, biết bao là thế cuộc đổi  thay nhưng mẹ đã cố gắng làm tròn bổn phận đối Người: Giữ gìn gia sản tổ tiên, thờ phượng Ông Bà chu đáo và nuôi nấng các con nên người. Mẹ không ngờ, vào những ngày cuối của cuộc đời, mẹ lại gặp bất hạnh như vậy. Mẹ không đươc chính tay mình lấy hài cốt người đã tan thành đất sắp lại trong chiếc hòm mới, chôn lại người lần nữa và sửa sang phần mộ mới của người. Mẹ không được gặp lại người sau hơn năm mươi năm âm dương cách biệt. Thật là một bất hạnh vô cùng cho Mẹ!

 

Chị và em con đã lén mời ông Thầy Địa ở xóm Chỉ Tượng lên để lo cúng kiến và cải táng rất tươm tất. Thầy Địa cho biết là ông chưa gặp ngôi mộ nào mà đất và rễ cây xung quanh kết tụ chặt chẽ vừa mịn vừa dẽo đến như vậy! Thế mà bây giờ người phải đổi chỗ nằm: Tội nghiệp biết là bao nhiêu! Đáng lẽ công việc cải táng là bổn phận của Mẹ và của con, trưởng nam trong gia đình, nhưng Mẹ thì già yếu không đi nổi, còn con thì đang ở ngàn trùng cách biệt. Đêm đêm Mẹ thắp hương trên bàn thờ Người, cầu nguyện cho linh hồn Người được bình yên nơi phần mộ mới và xin Người tha thứ cho Mẹ, cho con. Thời gian sau ngày cải táng, Mẹ thấy trong người tương đối khỏe nên em con đã đưa mẹ về đốt hương và “làm mâm cơm” cúng chỗ nằm mới của Cha con. Mẹ rất vui mừng là Thầy Địa đã tìm được phần mộ mới cho cha rất khoáng đạt, đầu gối lên núi Xương Rồng như khí thiêng đang tích tụ, chân duỗi ra biển Đông mà những hôm đẹp trời trông rõ ghe thuyền tấp nập.

 

Con yêu của Mẹ

Năm nay Mẹ thấy trong người yếu đi nhiều lắm. Không biết có phải sắp đến lúc Mẹ theo Cha con về cõi bên kia chăng? Đau đớn biết bao nhiêu nếu ngày Mẹ ra đi mà không được thấy mặt con, không được nắm tay con lần cuối. Mẹ nhớ con đến xót xa, đến như đứt ruột. Tội nghiệp cho con tôi, nơi xa xăm đó biết có ai săn sóc và lo lắng cho con. Nỗi nhớ thương con làm cho Mẹ mỗi ngày một mõi mòn, một già yếu. Mọi người đều khuyên nhủ Mẹ, các chị và em con săn sóc Mẹ rất chu đáo, nhưng không ai hiểu được lòng Mẹ, không ai biết được lòng thương của Mẹ đối với các con, nhất là đối với riêng con, trưởng nam của Mẹ. Chín năm con ở trong tù Mẹ đã lặn lội khắp núi nọ, đồi kia để thăm con, đêm đêm Mẹ đã cầu nguyện Trời Phật phò hộ cho con được mạnh khỏe, bình yên để trở về với Mẹ và gia đình. Và Mẹ đã tọai nguyện! Còn bây giờ con đang ở cách xa Mẹ hàng  vạn dặm !

 

1

Nguyện cầu Ơn Trên gia hộ cho con tôi được mạnh khỏe, bình an nơi xứ lạ quê người!

 

Mẹ của con

Tôi đọc đi, đọc lại không biết bao nhiêu lần lá thư Mẹ gởi qua cho tôi mấy tháng trước đậy. Màu giấy sẩm nhầu nát, nét chữ xiêu vẹo run run, tôi đã thuộc lòng từng dấu chấm, dấu phết, chỗ sang hàng. Vậy mà tôi vẫn đọc lại để nghe nỗi đau nghẹn từ tim chạy lên, để nếm vị mặn chãy dài từ khóe mắt đến môi.

Đêm đêm chợt thức giấc tôi nhẫm đọc lại và nỗi đau nghẹn lại dâng lên, nước mắt lại trào ra và hình như tôi nghe tôi gọi “Mẹ ơi”, tiếng gọi nhỏ, đứt đọan phát xuất từ cõi âm u, xa xôi vọng về, chứ không phải từ cõi thực, từ suy tư.

Lần nào biên thư cho tôi Mẹ cũng viết dài như vây. Sức yếu, tay run, mắt mờ mà giấy lại sẩm, xù xì, bút ra mực không đều thì viết một lá thư như vậy không phải là chuyện dễ dàng. Lòng Mẹ thương tôi bao la ở từng chi tiết như vậy đó!

–          Có lòng bà Mẹ Việt Nam nào lại chẳng bao la đối với con mình đâu?

–          Không, lòng Mẹ tôi thương chúng tôi, thương riêng tôi bao la hơn những cái bao la, mênh mông hơn những cái mênh mông!

Và những dòng sau đây xin dành riêng cho Mẹ, xin gởi về Mẹ ở tận quê nhà bên kia bờ  Đại dương xa tắp.

 

Tôi sinh ra trong một gia đinh hào phú  tại một làng quê hẻo lánh ở miền Trung:

Xóm Bình Yên, Thôn Bình Mỹ, Xã Phổ Thuận (Long), Quận Đức   Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi

Cha tôi là một nhà nho không hiển đạt, suốt ngày tiêu khiển bằng thú đọc sách hoặc bẫy chim, câu cá. Những bộ đồ “bà ba” bằng “vải quyến” trắng của Người đều do chính tay Mẹ tôi may, giặt rất kỹ, nhuộm phớt một lớp “dương xanh”và xếp cẩn thận. Những đôi guốc của Người đều do chú thợ mộc ở làng bên đẻo đúng theo cach Người thích.

Chiều chiều. Cha thong dong đi dạo khắp xóm thôn, ghé thăm gia đình nọ, đến viếng Cụ già kia, ngồi chuyện trò với các Bác các Chú. Thật khó khăn vô cùng cho tôi khi phải đi mời Người về dùng cơm tối. Tìm cho đuợc nhà, thấy đông khách, phải đứng lấp ló bên ngòai năm lần, bảy lượt mới dám vào, rồi đứng thẳng khoanh tay ấp úng lặp lại đúng những câu Mẹ đã dặn, rồi cuí đầu thưa hết các Ông, các Bác, các Chú mới được ra về. Cha đi chầm chậm, tôi lặng lẽ theo sau. Có khi Cha dắt tay hoặc thoa đầu âu yếm tôi trên đường về.

Mọi viêc trong gia đình đều do một tay Mẹ tôi quán xuyến. Từ công cấy, công cày đến việc định ngày thu hoạch các vụ mùa, sắp xếp các kho để chứa hoa màu (thóc, đậu, ngô) đến việc chi tiêu trong gia đình, chuyện phải không, chuyện cúng giỗ Ông Bà, Lễ Tết

2

Còn biết bao là công việc lặt vặt nữa trong một gia đình phú hộ ở làng quê thời phong kiến! Nào phải nhờ cho được chú Ba ở xóm dưới dọn vuờn Mẹ mới vừa ý (trừ hàng rào bông bụp và các cây kiểng uốn hình các thú vật là do Cha chăm sóc). Nào phải có dượng Thập đến bắt bọ ở những cây dừa Mẹ mới an tâm. Rồi còn phải chăm sóc Bà Nội, chăm sóc Bà Đại Hào (Bác dâu của Ba) nữa. Công việc nhiều đến như vậy mà Mẹ đã chu tòan một cách nhẹ nhàng với sự phụ tay của chị gúp việc và cả gia đình sống hòa thuận, êm ấm, hầu như không nghe một tiếng nói lớn trong nhà.

Thỉnh thỏang Cha Me về thăm bên Ngoai và dẫn tôi theo. Đường về nhà Ngọai phải qua vài ngọn đồi, vài con lạch, những cánh đồng và một con sông lớn nên nhiều đoạn Cha tôi phải cõng tôi trên lưng. Đó là những chuyến đi vui vẻ, lý thú của tuổi ấu thơ còn in đậm mãi trong trí tôi. Các cậu tôi theo Tây học và có người đã đậu Diplome (Trung Học) và Tú Tài. Sau nầy Mẹ tôi kể lại là lúc tôi mới sinh ra  cậu và Cha bị “mật thám” bắt nhốt ở nhà lao tỉnh một thời gian vì bị tình nghi là “họat động chống Pháp” … Thăm ngọai vài hôm là Mẹ phải về lo công việc còn Cha ở lại nói chuyện với các cậu có khi cả tuần.

Gia đình đang sống vô cùng hạnh phúc, Cha Mẹ tôi thương yêu nhau vô cùng đậm đà, nhất là sau khi Mẹ tôi sinh thêm em trai tôi (Cha tôi thường bảo sinh hai trai, hai gái là qúi nhất) thì Cha tôi ngã bệnh và qua đời một cách đột ngột khi vị Bác sĩ được mời từ tỉnh lỵ chưa kịp đến nơi (trước năm 1945 cả tỉnh Quảng Ngãi chỉ có một vị Bác sĩ Đông Dương duy nhất).

Đau đớn bất ngờ qúa! Tai ác kinh hòang qúa!

Suốt đời tôi nhớ mãi phút cuối cùng khi tôi được gọi đến nhìn Cha tôi lần cuối: Người nắm chặt tay tôi, mắt mở lớn, môi mấp máy, thở nhẹ, rồi nhắm mắt lặng lẽ ra đi. Cuộc sống cả nhà bỗng như dừng lại, rồi những tiếng khóc đồng lọat vang lên.

Suốt đời tôi nhớ mãi hình ảnh Bà Nội tôi tóc bạc phơ, chỉ thốt lên được bốn tiếng: “Con tôi!… Trời ơi!” rồi ngã qụy ngồi bất động bên giường Ba như pho tượng! Hai cô tôi phải phụ dìu Nội qua phòng khác để chăm sóc Nội.

Suốt đời tôi nhớ mãi hình ảnh Mẹ tôi lăn lộn, vật vã khắp nhà, tóc bông rũ rượi, than khóc thảm thiết. Cha ra đi qúa sớm: Ngày 10 tháng 3 năm 1943 lúc Người mới 33 tuổi! Mẹ mới 29 tuổi! và chú em trai tôi mới được hai tuổi!

 

Có cảnh nào thê lương hơn buổi tiễn đưa Người về cõi vĩnh hằng: Bà Đại Hào, Bà Nôi. Mẹ tôi, bốn anh chi em chúng tôi (em tôi còn nhỏ nên chú tôi bồng), các Cô, các Chú hai bên Nội Ngọai và rất đông bà con hàng xóm chầm chậm bước theo quan tài Người. Là con trưởng trai tôi phải mang giày rơm, đội mũ rơm và bước xà lui theo sự hướng dẫn của Ông Hương Lễ. Mẹ tôi ngất xĩu nhiều lần nên Cô Út và chị giúp việc phải vịn hai bên

Ghi chú:

 

3

 

Cứ mỗi lần đọc “Nhạc sầu” của Huy Cận tôi vẫn còn thấm thía chua xót:

 

Ảo não quá trời buổi vĩnh biệt!

… Ai chết đó nhạc buồn chi lắm thế!

Kè đám ma hay ấy tiếng đau thương

Của cuộc đời? ai rút tự trong xương

Tiếng nức nở gởi gío đường quạnh quẽ!

Sầu chi lắm trời ơi!  chiều tận thế!

Từ đó trong những hôm cúng giỗ tưởng niệm Người, bà Nội thường bảo với chúng tôi là ngày trước Cha tôi xử thế không mích lòng một ai trong làng kể cả các trẻ em và dặn dò khuyên chúng tôi phải noi gương Người.

Còn Mẹ tôi? Làm sao chúng tôi hiểu được hết những đau đớn tột cùng của Me? Chỉ biết đêm nào tôi cũng thấy Mẹ khóc, tôi cũng thấy Mẹ đốt hương trên bàn thờ Cha và tôi cũng nghe bài hát Mẹ thường ru em tôi ngủ nghe như đứt gan, xé ruột.

“… Con cuốc lẻ đôi còn ngồi than khóc, huống chi vợ chồng mình chia tóc rẻ tơ: kẻ đi âm phủ người chờ duơng gian. Uớc gì âm phủ có đàng để em bồng con thơ xuống ở với chàng đôi năm …”

Cha tôi qua đời đuợc một năm thì Bà Đại Hào cũng qui tiên và Mẹ tôi phải lo lễ tống táng vì Ông Bà không có con.

Ít lâu sau trong họ tộc có lời ong, tiếng ve rất nhẹ nhàng về Mẹ tôi. Qúi Cụ – các Ông Bà, các Bác Chú, các Cô và bà con xa gần – nghĩ rằng Mẹ tôi còn qúa trẻ, lại có nhan sắc nên thế nào cũng bỏ chúng tôi “bước thêm bước nữa”. Do đó qúi Cụ sợ Mẹ tôi xài phí hết gia tài (Ba tôi được hưởng ba gia tài) trước khi tái giá. Qúi Cụ sợ chúng tôi bơ vơ. Qúi Cụ sợ gia sản tổ tiên bị tẩu tán. Qúi Cụ có cái lý của qúi Cụ. Mẹ tôi thì vẫn lặng yên chịu đựng, lặng yên đau khổ, lặng yên chu tòan bổn phận của hằng ngày của mình và lặng yên săn sóc Bà Nội và chít chiu bốn đứa con còn qúa nhỏ dại. Và đêm đêm, khi cả nhà ngủ hết, Mẹ vẫn lặng yên đốt hương trên bàn thờ Cha và xót xa ru em tôi bằng bài hát như đứt gan, xé ruột.

Những lời ong, tiếng ve chỉ là cơn gío thỏang qua bởi vì trước sự đoan chính của Mẹ, với cái uy tín Mẹ đã tạo đươc kể từ ngày vào làm dâu trong gia đình, trong họ tộc nên tất cả mọi người trong họ tộc đều qúi kính và thương mến Mẹ. Sau khi bà Đại Hào qua đời thì Bà Nội là người có tuổi tác và ngôi thứ cao nhất trong họ tộc nên ý kiến của Bà Nội nhất nhất đều đươc mọi người tuân theo. Bà Nội đã giải thích và căn dặn qúi Cụ phải để Mẹ tôi an tâm, phải an ủi Mẹ tôi để Mẹ chăm sóc dạy dỗ bốn cháu nội của bà. Chính Bà Nội cũng đã an ủi và chiều chuộng Mẹ rất nhiều.

Từ đó trong gia đình, trong họ tộc trở lại đầm ấm thương yêu nhau như xưa Những ngày chạp họ hàng năm, những ngày giỗ, Tết bà con về đông đảo để cùng tưởng vọng Tổ Tiên.

4

Tuy tôi còn nhỏ tuổi nhưng là trưởng nam trong gia đình và trưởng phái cao nhất của họ tộc nên tôi phải đội khăn xếp, mặc áo dài lương để bái Tổ tiên trước nhất. Ít lâu sau Bà Nội lại lên đường qui tiên. Một lần nữa gia đình lại có đại tang, một lần nữa họ tộc lại đau niềm vĩnh biệt. Mới hơn ba năm mà gia đình phải chịu ba đại tang, mà nước mắt Mẹ đã đổ qúa nhiều và ưu phiền, đớn đau đã dồn dập đổ lên vai Mẹ. Chúng tôi thì còn qúa nhỏ, chỉ biết hồn nhiên rong chơi, nào có biết Mẹ đang gánh chịu biết bao là đắng cay, đau khổ!

Gia đình bỗng trở nên hiu quạnh vô cùng! Mẹ quyết định đóng cửa căn nhà Ông Bà Đại Hào, chỉ những ngày giỗ, Tết mới quét dọn sửa sang, còn những ngày thường thì nhờ một chú tá điền trông coi. Mẹ, bốn chị em chúng tôi và chị giúp việc chỉ ở vỏn vẹn trong căn giữa của ngôi nhà Ông Bà Nội. Chiều chiều cả gia đình ngồi trước hiên nhà nhìn các ngọn đồi, nhìn những khóm rừng rậm rạp, um tùm trước mặt và tôi thường thấy nước mắt lăn từ từ lăn trên má Mẹ. Những ngọn đồi, những khóm rừng là gia sản của Ông Bà và ngày trước tôi đã từng theo Cha bẫy chim, đã từng tung tăng thỏa thích dưới bóng mát của những cây cỗ thụ, vậy mà giờ đây lại mang đầy bí hiểm như đang hăm dọa chúng tôi.

Bà con hai bên nội, ngoại, bà con hàng xóm và các chú tá điền vẫn thường xuyên đến thăm viếng gia đình chúng tôi, thường xuyên giúp đở Mẹ những điều cần thiết như che một góc nhà kho bị dột, sửa lại một đoạn hàng rào bị xiêu vẹo, dựng lại chuồng chim bồ câu bị xiên v.v.

Cuộc sống gia đình cứ như thế bình yên, lặng lẽ hiền hòa trôi qua theo năm tháng thì bỗng một hôm nghe tin “Việt Minh đang nỗi lên cướp chính quyền. Ra đường tôi thấy nhiều người cầm gậy tầm vong. giáo, mác nghe nói là từ lò “du kích Ba Tơ” về và người nào mặt mày cũng đanh đá, hằm hằm, sát khí ai trông cũng rùng mình ghê sợ!                                                                                          Mọi người khi gặp nhau đều phải nắm chặt bàn tay phải để ngang vai và hô to: “Hy sinh vì Tổ quốc”.

–          “Chết nhiều lắm”! Tin rỉ tai chuyền đi khắp nơi.

–          Lệnh cấm mọi người không được ra khỏi xã.

–          Các lý hương, kỳ hào trong làng đã trốn và đang bị truy nã.

Một đêm khi bốn bề đã im vắng, Mẹ nói nhỏ với chúng tôi:

–          Cậu Tú đã bị chém. ở  Đồng Trãng.

Rồi Mẹ nghẹn ngào tức tưởi âm thầm khóc. Tôi thấy tôi cũng khóc vì cậu Tú đã cho tôi nhiều kỉ niệm đẹp. Mảnh bằng Tú Tài Tây cậu mang về trước năm 1940 đã làm rạng danh dòng họ và cả xóm làng. Mỗi lần theo Cha về thăm quê Ngoại, tuy còn nhỏ nhưng tôi cũng ngồi hàng giờ nghe Cậu và Cha nói chuyện. Những chiều Cậu dẫn tôi đi thăm ruộng

5

ở những cánh đồng xa và lần về ghé lại tắm ở một bến song nước nguồn trong vắt, mát lạnh. Trước kia Cậu và Cha đã từng bị mật thám Pháp bắt giam tại nhà lao của tỉnh vì tình nghi chống Pháp, bây giờ Cậu lại bị Việt Minh chém đầu vì tội “theo chân Pháp”.

Cả thôn tôi, ngoài hai bà chị tôi đang theo học Trung học ở trường trên huyện, thì tôi là người duy nhất biết viết và đọc chữ Quốc ngữ. Vì vậy, tuy còn nhỏ, nhưng cán bộ thôn đã bắt tôi ngày đêm phải chép “tài liệu đảng” cho cán bộ. Cho mãi tới ngày nay tôi vẫn còn nhớ những cụm từ như “thế giới đại đồng”, “làm tùy sức, ăn tiêu tùy sức”, “làm tùy sức, ăn tiêu tùy tài” v.v. và v.v.

Rồi toàn quốc kháng chiến. Rồi những chính sách “nuôi quân”, “động viên nhân vật, tài lực”, “thuế nông nghiệp”. “cải cách ruộng đất”, “phóng tay phát động quần chúng”, “đấu trang, tố khổ” v.vv. lần lượt được thi hành triệt để tại Liên khu 5 gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng  Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Bên cạnh những đau khổ vì chiến tranh ngày càng khốc liệt, là gia đình thuộc thành phần địa chủ chúng tôi – nhất là Mẹ – phải gánh biết bao nhiêu là đắng cay, tủi nhục! Mẹ phải lao động thực sự trong “tổ vần công” của thôn, nay tại nhà nầy, mai tại nhà kia. Những đêm họp dân chúng trong thôn, Me phải ngồi dưới đất, còn các chú thiếm thuộc gia đình bần cố nông được ngồi trên ghế. Chúng tôi, ngoài những ngày đi học ở trường, phải phụ giúp Mẹ gánh vác nhiều công việc trong gia đình . Lắm khi gặp vụ mùa chúng tôi phải nghỉ học cả tuần.

Năm 1949 máy bay Pháp đến oanh tạc làm cháy ngôi nhà Ông Bà Đại Hào và chị giúp việc cho gia đình bị tử thương. Cả nhà đau khổ vô cùng vì Mẹ và chúng tôi xem chị như bà con ruột thịt. Mẹ tôi khóc thật nhiều vì Mẹ và chị đã san sẻ mọi nỗi buồn vui từ khi Mẹ về nhà chồng. Chưa bao giờ Mẹ rầy là chị và cũng chưa bao giờ chị làm Mẹ buồn phiền. Chị ra đi làm cho gia đình hắt hiu thêm và Mẹ buồn khổ nhiều thêm.

Năm 1952, một khó khăn đặc biệt đã đến với Mẹ và có ảnh hưởng tới hoàn cảnh chung của gia đình là việc gả chị Ba tôi lấy chồng. Rất nhiều người đến cầu hôn nhưng có hai anh mà Mẹ phải đắn đo, chọn lựa để quyết định.

Người thứ nhất là anh N., con một gia đình địa chủ và Ông Cụ vốn là một vị Chánh Tổng. Đó là một gia đình không tiến bộ và đang là đối tượng chính mà công cuộc đấu tranh giai cấp cần triệt hạ. Hoàn cảnh khó khăn về nhiều mặt củ hai gia đình chúng tôi rất giống nhau nà anh N. đang đi dân công (gánh gạo, tải đạn) tận chiến trường An Khê Kontum. Người thứ hai là anh T. đang là Tiểu đoàn trưởng Vệ Quốc Đoàn đóng quân ở làng bên. Là một sinh viên trường thuốc ở Hà Nội, anh T. đã xung phong nhập ngũ theo tiếng gọi của phòng trào “toàn quốc kháng chiến” năm 1946. Chiều chiều anh thường đến nhà hầu chuyện với Mẹ và cùng tôi đàn hát những bản nhạc tiền chiến. Anh rất thích bài “Nụ Cười Sơn Cước” và hay ôm đàn một mình tha thiết hát:

Ai về sau dãy núi “Mồ Côi” (tên một ngọn đồi có đập nước ở làng tôi) nhắn rằng tim tôi chưa phai mờ, hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trong, một chiếc vòng sáng long lanh với nụ cười nàng qúa xinh …

6

Tôi thấy mắt anh mơ màng và buồn xa xăm. Sự ngôn ngoan, lễ phép và lịch thiệp của anh đã chiếm được cảm tình tất cả mọi người từ bà con đến hàng xóm. Nhưng Mẹ tôi quyết định không gả chị Ba cho anh dù tôi biết Mẹ rất mến anh:

–          Không biết nguồn gốc gia đình và Mẹ không thể sống xa chi. tôi dù chị đã có chồng

Đó là lý do Mẹ đưa ra để từ chối lời cầu hôn của anh T. và Mẹ luôn luôn có cái lý do chính đáng riêng của Mẹ.

Khi đơn vị đổi đi, anh T. có đến chào Mẹ cùng gia đình và có ghi cho tôi mấy dòng lưu niệm:

… Khi nào nhớ anh em hãy tưởng tượng ra một anh chàng vệ quốc quân trẻ tuổi với đôi kính trắng, bệ vệ như một nhà tu hành Cơ đốc giáo…

(Sau nầy, nhiều dịp trong cuộc sống, tôi có nghĩ đến anh và tin chắc là với tâm hồn đó, với phong cách đó, anh không thể nào là tín đồ của đạo Karl Marx được).

Việc chọn anh N. làm rễ đã mang đến cho Mẹ nhiều khó khăn và làm cho gia đình càng ngày càng bị cô lập thêm. Tôi vẫn còn nhớ rõ vì sợ máy bay oanh tạc nên đám cưới phải đi vào ban đêm và Mẹ tôi đã khóc thật sự khi dắt chị Ba ra theo hai họ đi về nhà chồng. Chị Ba và chúng tôi cũng cùng khóc! Những ngày tháng sau đó cả xóm rĩ                                           tai nhau chê trách, mỉa mai  là “một đám cưới phong kiến”, “tiểu tư sản”.

Đến năm 1953, số lượng lúa thu hoạch cả năm của gia đình không đủ để đóng thuế nông nghiệp theo chủ trương “nạp nhanh, lúa khô. lúa sạch” nên Mẹ phải bị đi học tập ở xã rồi lên huyện. Chị Ba đã về nhà chồng chỉ còn lại chị Bốn, tôi và chú em ngày nào cũng thấp thỏm chờ tin Mẹ:

–          Người ta đang bắt Mẹ làm gì trên huyện?

–    Sao Mẹ tôi phải gánh nhiều đắng cay đến như vậy?

Chiều chiều chúng tôi chỉ biết than thở như vậy rồi ôm nhau khóc âm thầm.

Một hôm chúng tôi đang lo lắng, hồi họp chờ đợi thì Mẹ trở về u sầu cho biết:

–          Ban thuế của huyện yêu cầu mình nhường căn nhà cho chính phủ để làm kho chứa gạo nuôi quân hầu trừ số thuế nông nghiệp mình còn thiếu.

–          Rồi Mẹ con mình ở đâu? Chúng tôi cùng khóc rống lên!

–          Lấy chỗ nào thờ phượng Ông, Bà, Cha?

7

Mẹ tôi chỉ nói được bấy nhiêu rồi khóc nghẹn ngào. Có lẽ là do những dồn nén, uất nghẹn vì những ngày “học tập” ở xã và huyện Mẹ đâu có được khóc. Một lát sau Mẹ lau nước mắt và nói tiếp:

–          Huyện cho phép mình được ở lại tại ngăn nhà bếp. Chúng tôi lặng lẽ nhìn nhau khóc ray rứt!

Mọi thủ tục “cống hiến” căn nhà cho chính phủ sắp được hoàn tất và chúng tôi đang lo chuẩn bị dời tất cả đồ đạt xuống căn nhà bếp để bắt đầu cuộc sống ở đậu trên chính căn nhà của mình thì tin đình chiến đã ký kết tại Geneve được loan truyền đi khắp nơi. Dưới thời Việt Minh ngự trị không có radio, không có báo chí nên người dân sống như trong hang động, chẳng hề hay biết những gì đang xãy ra trên thế giới.

Tháng 7 năm 1955 chính quyền Quốc Gia tiếp thu hoàn toàn các tỉnh thuộc Liên Khu 5. Khắp nơi toàn dân nô nức vui mừng vì thanh bình và hạnh phúc đến bất ngờ quá. Sau hơn ba năm lo khôi phục lại kinh tế gia đình bị khánh kiệt dưới thời Việt Minh, chúng tôi – hai ông anh rễ, chú em tôi và tôi – lần lượt kẻ trước, người sau tiếp tục đi học lại. Mẹ tu bổ căn nhà từ đường thật khang trang để hương khói Ông Bà và Cha. Những ngày Giỗ, Tết, con cháu và bà con khắp nơi về đông đủ, gia đình lại ấm cúng, rộn vui tiếng cười. Tôi thấy đôi mắt Mẹ cười! Đã lâu lắm rồi, mắt Mẹ phủ đầy những lớp mây u buồn, đong đầy nước mắt khi ràn rụa, lúc u phiền.

Vì đi học lại muộn, lại bị trở ngại về sinh ngữ Anh, Pháp nên hai ông anh rễ tôi vừa mới đậu Tú Tài hai và thêm một vài chứng chỉ ở Đại học là phải bị gọi động viên nhập ngũ  và dời cả gia đình ra Thị xã Quảng Ngãi. Rồi chiến tranh, loạn lạc lại nỗi lên. Tập đoàn Cộng sản Hà Nội, núp dưới chiêu bài “giải phóng”, đã xua hàng vạn tuổi trẻ vào gây chiến khắp miền Nam, gây tóc tang, xơ xác khắp xóm làng. Và tỉnh Quảng Ngãi vẫn là nơi gánh chịu nhiều tàn phá nhất. Tất cả chúng tôi đều phải tản cư lên thành phố, riêng Mẹ vẫn ở lại một mình tại căn nhà từ đường để lo thờ cúng Ông Bà.

Đến cuối năm 1964, Cộng sản đã chiếm trọn làng tôi nên Mẹ mới chịu rời bỏ xóm quê nhỏ thân yêu để tản cư lên thành phố ở gần với con cháu. Tôi biết Mẹ đau khổ vô cùng bởi vì sau khi Cha và Bà Đại Hào, Bà Nội qua đời thì ngôi từ đường, những khu vườn, thửa ruộng, xóm làng và con cháu là cả cuộc đời của Mẹ. Bây giờ Mẹ đã mất hết chỉ còn con cháu nên Mẹ mới chịu đau lòng rời quê hương ra đi. Mẹ bỏ lại tất cả, chỉ mang theo bộ lư đồng trên bàn thờ Tổ tiên, và một cái xách tay nhỏ gồm những trích lục, văn khế liên quan đến gia sản, bốn lá số tử vi của chúng tôi do Cha để lại và tờ ghi sính lễ màu đỏ kỉ niệm cuộc hôn nhân của Cha Mẹ.

May mắn là các con, các cháu của Mẹ cùng cư ngụ chung trong tỉnh lỵ nên gia đình thường xuyên được sum họp. May mắn nữa là các Bác sui với Mẹ cũng tản cư về thành phố nên qúi Cụ có dịp san sẻ vui buồn. Là những góa phụ thờ chồng, nuôi con, cùng thế hệ, cùng hoàn cảnh, cùng tâm trạng và kết nghĩa sui gia từ lâu nên qúi Cụ xem nhau như chị em ruột.

8

Nhiều hôm đi làm về tôi thấy qúi Cụ ngồi bên khay trầu nhỏ to tâm sự. Ngoài chuyện các con, các cháu thì tâm tình qúi Cụ vẫn là chuyện quê hương: nhắc đến chiếc cầu qua con suối nhỏ, bờ tre ven sông, cây đa đầu làng, ngôi miếu thờ thần v.v. và chuyện ruộng vườn, chuyện mồ mả tổ tiên …

Chiến tranh mỗi ngày một gia tăng khốc liệt. Khắp nơi, lớp lớp thanh niên ở tuổi 17 – 28 từ Bắc bị nhồi vào đầu bốn chữ “sinh Bắc, tử Nam”, bị còng chân trên các xe tăng hoặc bị chích thuốc kích thích để làm những con thiêu thân trong các trận biển người thí nghiệm cho đủ mọi thứ vũ khí tân kỳ. Mắt Mẹ lại mỗi ngày một u sầu, buồn bã vì hôm nay vừa biết một đứa cháu bên ngoại tử trận thì ngày mai lại nghe tin một đứa cháu bên nội bị thương nặng phải vào bệnh viện.

Mãi đến đêm 24 rạng ngày 25 tháng 3 năm 1975 thì tỉnh Quảng Ngãi hoàn toàn bị cưỡng chiếm trong đợt đầu của cơn đại hồng thủy đưa cả nước vào những ngày đen tối:

 

“…Ôi! Xương tan máu rơi, lòng hận thù ngút trời …”

Câu hát trong bài gọi là “Quốc ca của cái chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam” áp dụng đúng vô cùng cho hoàn cảnh miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Tỉnh Quảng Ngãi vẫn là tỉnh bị giết nhiều nhất: Chết chém, chôn sống tập thể, cột tay chân quăng xuống biển v.v. Đêm đêm tiếng la quát nghe rợn người, mặt cán bộ nào cũng “sát khí, đằng đằng”. Tiền nhân cũng phải đau đớn khóc thầm. Trời cao cũng nghẹn ngào đổ lệ!

Thuộc thành phần “những tên phản động”, “những ngụy quân, ngụy quyền”, bốn anh em chúng tôi bị đày ở bốn “cái gọi là trại cải tạo” khác nhau khắp núi rừng. Mẹ tôi lại phải gánh chịu những đau đớn chua xót! Kể làm sao hết được những nỗi gian truân, đắng cay, tủi nhục của những bà Mẹ, những người vợ có con, có chồng đi cải tạo sau ngày 30 tháng 4 năm 1975? Chỉ riêng việc đi “thăm nuôi” thì những xót xa của các nàng chinh phụ đã đi vào văn học sử thuở xưa:

Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Hoặc:

Ai lên xứ Lạng cùng anh

Má hồng đổi lấy mặt xanh đem về

 

v.v cũng không thể nào sánh kịp

Tằn tiện, vay mượn để mua quà rồi vượt hàng vạn dặm qua biết bao nhiêu núi, đồi, sông, suối để được thăm 5 – 10 phút ngắn ngủi, rồi gạt nước mắt quay về, đường xa thăm thẳm, núi rừng mênh mông. Đứng trong hàng rào kẻm gai, nhìn người thân lặng lẽ u sầu trở về khuất dần trong truông vắng khi bóng chiều đã phủ khắp núi đồi, gío núi và sương rừng

9

đã bắt đầu se lạnh, mấy ai mà không nghẹn ngào? Đó là chưa kể có người vừa tìm đến mới hay là thân nhân đã đổi đi trại khác. Đó là chưa kể đến những hạch sách, hách dịch đủ điều của các chú công an, bảo vệ .

Mẹ đã thăm hai anh em chúng tôi, tuần nầy trại nầy, tuần đến trại khác, trong cái hoàn cảnh và tâm trạng như vậy đó. Mẹ đã thăm tôi khắp các vùng thâm sơn chướng khí suốt 9 năm trong hoàn cảnh khó khăn tột độ của gia đình sau cuộc đổi đời. Làm sao tôi quên được, trong một lần đến thăm , Mẹ đã cầm tay tôi khóc mếu máo:

–          Con ơi! Nếu gạch trong nhà mà bán được Mẹ sẽ gở ra đem bán để lấy tiền mua quà cho con. Ai mà không nát ruột, xé lòng?

 

Mẹ già sớm ngóng chiều trông

Thương con tóc bạc, lưng còng gieo neo

Lội sông, vượt suối, trèo đèo

Thăm con rồi quảy sầu theo đường về

 

Lần nào cũng vậy, liên tiếp nhiều, đêm sau ngày Mẹ đến thăm, tôi không thể nào chợp mắt được khi nghĩ đến hình ảnh Mẹ tiều tụy, lưng còng, da nhăn, tóc bạc và áo quần bết đầy bùn đen, bụi đỏ. Sau 9 năm khổ sai, ngày ra trại, mặc dù “lệnh tha” buộc tôi phải về chịu “quản chế” hai năm tại Quảng Ngãi nhưng tôi đã về thẳng Long Khánh. Một là tôi đã biết rõ bản chất gian manh, tàn ác của các viên chức địa phương dưới của chính quyền Cộng sản Liên Khu 5 “suốt thời kháng chiến”. Nhưng trên tất cả là tôi muốn được gặp Mẹ.

Đang làm ngoài vườn. nghe báo tin tôi về, Mẹ đã chạy vội vào nhà cầm tay tôi, vuốt má tôi như thuở tôi mới lên năm, lên mười. Mẹ nhìn tôi, đôi mắt long lên, sâu thăm thẳm rồi mếu máo ràn rụa khóc. Tôi cũng khóc.

Ôi! Đôi mắt của Mẹ tôi!

Đôi mắt nhân hậu đó là dòng suối ngọt ngào, là bóng râm che mát, là tình thương mênh đã mông bao bọc chúng tôi hơn 50 năm qua kể từ ngày Cha bỏ Mẹ và chúng tôi về miền tiên cảnh. Đôi mắt phúc đức đó (phúc đức tại mẫu) đã che chở cho chúng tôi qua khỏi những tai họa của chiến tranh, loạn lạc, tù đày rheo dòng lịch sử cận đại của đất nước.

 

Làm sao tôi tả được hết nỗi nghẹn ngào xúc động của lòng mình?

Làm sao tôi biết được hết nỗi vui mừng xúc động của Mẹ?

 

Đã có nhiều – nhiều lắm – những tác phẩm viết về lòng Mẹ và đoạn văn nào cũng hay, câu thơ nào cũng đẹp, bức tranh nào cũng thâm trầm, bài hát nào cũng tha thiết … nhưng vẫn không thể nào tả được trọn vẹn. Vũ Hoàng Chương đã nói thay cho mọi người:

Ngôn ngữ trần gian túi rách

Đựng sao đầy hai tiếng MẸ ƠI! ?

 

10

Tình Mẹ thương con là tình yêu thiêng liêng. Tất cả chúng ta – dù ở bất cứ lứa tuổi nào, trong bất cứ địa vị nào – cũng đều trở nên nhỏ bé dưới ánh mắt dịu hiền của Mẹ và trong tình thương yêu bao la của Mẹ. Mẫu tự “M” khi phát âm nghe nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ, dễ thương,  ngọt ngào  nên ngôn ngữ nhiều nước đã dùng là mẫu tự đầu để gọi Mẹ::

  • Việt Nam: Mẹ, Má.
  • Anh, Mỹ: Mother, Mom.
  • Pháp: Mère, Maman.
  • Mễ:: Mandre, Mamá.
  • Lào: Me.
  • Cam Bốt: Ma.
  • Thái Lan: Me

V.v..

Sau mấy tháng “sống chui” lẫn trốn, lang thang khắp nơi: Bình Long, Long Khánh, Long Thành, Bà Rịa, Bình Ba, Bình Giã, Hắt Dịch …, chỗ nầy một tuận chỗ nọ 10 hôm  (thỉnh thoảng lén về lại Sài Gòn một vài đêm để chua xót nhìn mắt Mẹ lo lắng quầng sâu), cuối cùng tôi đã trốn ra đi. Chuyến đi của một kẻ thua cuộc, đầu hàng! Chuyến đi, dù niềm tin và lòng cương quyết rất nồng cháy, ngày về rất mong manh: có thể bị bắt giam lại vào tù, có thể bị công an bắn chết, có thể bị bỏ mình trên biển cả vì hải tặc, vì sóng bão. Và chuyến đi đau đớn tột cùng vì xa Mẹ, xa Tổ quốc việt Nam.

Bên nầy mỗi lần được thư Mẹ là nhiều đêm liên tiếp tôi xót xa không ngủ được những lần Mẹ đến thăm trong các trại tù thuở xưa. Riêng lần nầy thư của Mẹ đã thực sự mang đến cho tôi nhiều chấn động và khổ đau. Bọn họ định làm gì với vùng đồi hoang vắng mà Bà Nội đã chọn làm nơi yên nghỉ cho Cha năm mươi năm về trước? Tôi đã nghe rất nhiều lần những từ ngữ “quy hoạch”, “hạch toán”, “năng suất”, “chỉ tiêu”… mà các chú vẹt bé con đã lải nhải lặp đi lặp lại trong các trại tù. Bây giờ họ đang “quy hoạch” vùng đồi đó và phần mộ Cha tôi đã phải cải táng. Đó là một vùng đồi đầy đá tảng và Cha tôi nằm yên nghỉ tại một khoảng bằng phẳng nhỏ nhìn xuống chân đồi. Xa xa, qua vùng sỏi đá, bên trái là cánh đồng lộng gió, bên phải là dòng sông Trà Câu hiền hòa chảy theo năm tháng. Vậy mà bây giờ Cha tôi đã phải đổi chỗ nằm. Và hàng ngàn, hàng vạn mồ mả tại miền Nam đã bị quật phá.

Đó không phải là chuyện đơn giản, bình thường. Đó là chính sách cực kỳ sâu độc! Sau khi cưỡng xong miền Nam, họ ra lệnh san bằng tất cả các nghĩa trang ở thành phố “qui hoạch” các vùng có nhiều mồ mả ở thôn quê để “triệt hạ tận gốc những phần tử phản động”. Nào có khác gì thuở xưa giặc Tàu đã cho yểm các long huyệt sợ Việt Nam có minh quân, dũng tướng lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống lại họ? Nào có khác gì thực dân Pháp đã dung tay sai quật mồ các chiến sĩ cách mạng đốt lấy tro trộn thuốc súng bắn ra biển?

Trong khi đó, khắp nơi, họ xây cất nhiều nghĩa trang mới để chôn các “anh hùng liệt sĩ” và tại các thành phố, những con đường chính được mang tên những kẻ cha căng chú kiết

11

như Nguyễn Văn Trỗi, Võ Thị Sáu, Lê Thị Hõng Gấm v.v. còn những anh hùng dân tộc tên tuổi và sự nghiệp rỡ ràng trong lịch sử như Lê Lợi, Quang Trung, Nguyễn Thái Học v.v. thì dành cho những con đường bùn lầy, nước đọng, tối tăm ở ven thị. Và lăng Hồ Chí Minh – người đã mang tai họa đến cho dân tộc – đang cao lớn sừng sững lòng Hà Nội với kinh phí vĩ đại cho việc duy trì, tu bổ, canh gác, trong lúc Việt Nam đang là nước nghèo đói nhất thế giới. Lịch sử Việt Nam sẽ có những trang ghi đậm những tội ác thâm độc nầy!

Phần mộ của Cha tôi đã bị cải táng

Tôi biết Mẹ tôi đau khổ đến độ nào!

Vì tôi biết tôi chua xót ra sao!

Hôm nay – ở một thành phố nhỏ bé miền Trung của vùng đất mới, tóc đã bạc cằn vì năm tháng và đắng cay của cuộc đời – tôi ngồi viết những dòng nầy cho Mẹ giữa mùa Vu Lan báo hiếu mà lòng nặng trĩu nhớ thượng.  Không biết văn học Việt Nam đồng hóa hình ảnh thân thiết của quê hương với hình ảnh bao la của Mẹ hiền từ lúc nào? Người tha hương nhớ về quê cũ là nhớ về Mẹ hiền

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Nhớ về Quê Me, ruột đau chín chiều

 

Ôi những bà Mẹ Việt Nam tuyệt vời đã hy sinh cả đời minh cho chồng, cho con, cho sự vươn lớn của Tổ quốc!

Và Mẹ tôi suốt đời quảy nặng gánh sầu!

 

Nguyễn Văn Quảng Ngãi

 

 

 

 

 

 

 

 

12

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

11

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: