Báo Thơ • Tháng 3 năm 2022 • Năm thứ 2 • Số 3 

Báo Thơ • Tháng 3 năm 2022 • Năm thứ 2 • Số 3 

Email: baogiaytanhinhthuc@gmail.comhttp://www.thotanhinhthucviet.vn 

___________________________________________________________________________

Tranh Nguyễn Đình Thuần

Báo Thơ • 2 

Lời Tòa Soạn 

___________ 

Thơ thì vô giá. Vô giá có nghĩa là không thể bán được. Còn âm nhạc, hội họa, kịch nghệ đều  có thể bán để kiếm sống. Làm thơ có cả ngàn người ở mỗi thời kỳ, nhưng nhà thơ thật sự thì  cũng chỉ có vài người. Chuyện làm thơ không gì để nói, nhưng sinh hoạt thơ thì phải bỏ rất  nhiều công sức. Trong suốt cuộc đời, tôi là người chủ trương Tạp chí Thơ, Báo Giấy, báo song  ngữ Poetry Journal In Print, Báo Thơ, tất cả điều biếu không. Biếu không, nhưng đầy những  đố kỵ, ghen ghét. Chuyện đó cũng bình thường, vì con người, ai cũng có cái ngã riêng của họ.  Trái lại, tôi đã nhận được lời cảm ơn bằng những lá thư viết gửi cho tôi. Lá thư đầu tiên từ nhà  thơ Bùi Giáng. Trước 1975, tôi không hề gửi đăng thơ tới những tạp chí Văn, Văn Học của thời  đó, nên cũng chưa bao giờ gặp ông, tuy rằng vẫn nghe tên tuổi ông. Sau khi qua Mỹ, tôi có viết  “Thơ Bùi Giáng một thử nghiệm đọc” và được anh Bùi Văn Vịnh ở Canada chuyển đến cho  ông. Ông đọc và gửi lời cảm ơn qua thư, với lời lẽ rất bình thường. Lá thư đó bây giờ tôi không  còn giữ, vì có một nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam, ông Đoàn Tử Huyến, với bài viết “Bùi  Giáng – trong cõi người ta” muốn tôi gửi lại cho ông. Sáu tháng sau, nhà thơ Bùi Giáng qua  đời, vào năm 1998. 

Lá thư thứ hai bây giờ tôi mới nhận được, tháng 1 năm 2022, từ nhà nghiên cứu hội họa và văn  học Huỳnh Hữu Ủy, khi ông nhận được cuốn “Con Đường Thơ”. Ông là người nổi tiếng rất  sớm ở miền Nam, thời trước 1975, đăng những bài nghiên cứu trên tạp chí Văn, Vấn Đề, Khởi  Hành … Lời cảm ơn của nhà thơ Bùi Giáng chỉ là bình thường, nhưng lá thư của Huỳnh Hữu  Ủy làm tôi vô cùng xúc động, với lời lẽ rất hay. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi có được, và  tôi trích đăng: 

“Cầm tập Con Đường Thơ trên tay, tôi có một cảm giác thật kỳ lạ, thích thú, ngưỡng mộ, cảm  phục, và có chút gì bàng hoàng. 

Người làm thơ Việt Nam hiện đại, kể từ Tản Đà tới nay, có mấy ai sống hết đời mình với thơ,  dỡn chơi với nó mà lại trang trọng với nó đến cùng cực, hiện rõ ra nơi hình thức sinh hoạt của  từng mỗi bước chân đi, đặc biệt là rất nghiêm trọng với thơ, giản dị mà sâu thẳm trong cõi tang  bồng riêng của nó. 

Trước đây, tôi có thấy Bùi Giáng. Cũng may là nhờ ông Thánh Tuệ tri kỷ, câu mang từng câu  văn chữ, từng sợi tơ tóc của Bùi Giáng, nên sách nào in ra cũng tuyệt đẹp. Chưa biết nội dung ra  sao, nhưng hình thức thì đã chinh phục người ta rồi: là một khu rừng rì rào bí mật, một tòa lâu  đài văn chương tráng lệ. Từ Tạp chí Thơ của anh đến tất cả sách của anh in ra cũng vậy, quyển  nào cũng là một bước chân nghiêm trang, ngập ngừng mà mạnh khỏe giữa cuộc đời. 

Anh cũng như Bùi Giáng, gửi thơ ra khắp nơi, như cây cỏ, như lá cây xanh, như mây, như mưa  tràn lan, tuôn chảy. 

Anh thì chậm hơn Bùi Giáng, nhưng chinh phục sự đồng cảm, dường như đã bắt đầu vững  chắc. Ví dụ như bài thơ “Héo Tàn”, tôi đã bắt đầu có thể cảm được cấu trúc thơ của anh. Nếu  đọc một bản dịch tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha thì có lẽ người đọc dễ dàng chia  sẻ một không khí thơ rất thơ, nghĩa là đã đạt đến một không khí phổ quát của thơ. Tôi nhớ thời 

3 • Tân Hình Thức 

1957, khi thơ Thanh Tâm Tuyền phổ biến trên Sáng Tạo thì trên “Đàn Ngang Cung”, báo Tự  Do cũng có những lời lẽ khắc nghiệt. Anh không gặp những lời lẽ khắc nghiệt ấy nhưng cũng  có những tiếng rì rào là tự nhiên mà thôi. 

Tôi chúc mừng Khế Iêm và thơ Tân hình thức Việt Nam. Anh đã làm việc cật lực, đã chiến đấu  một cách trì chí và đã tạo được một chỗ đứng vững chắc trên rừng văn, trận bút, giữa chốn Tao  Đàn Việt Nam.” 

Báo Thơ số ra mắt, trong mục “Tưởng Nhớ Những Nhà Thơ Nổi Tiếng Một Thời Đã Qua” bao  gồm 13 tác giả, với 11 tác giả thơ vần điệu, 1 tác giả thơ tự do, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền và  1 tác giả kết hợp giữa vần điệu và tự do, nhà thơ Hữu Loan. Những bài thơ vần điệu và tự do  mang đúng chất thơ, riêng bài thơ của nhà thơ Hữu Loan dài dòng, không mang tính cô đọng  của ngôn ngữ thơ. Điều này nói lên: thơ thật đa hình vạn trạng, mỗi người tiếp nhận tùy theo  trình độ am hiểu khác nhau. Tạp chí Thơ, với 27 số, có đủ mọi thể loại thơ, vần điệu, tự do,  Tân hình thức, cả hay lẫn dở. Nhưng sở dĩ Tạp chí Thơ nổi bật là vì có sự đóng góp của nhiều  tác giả tên tuổi, và dịch thuật. Còn Báo Thơ bây giờ chỉ chú trọng tới sáng tác, mà sáng tác thì  phải chọn những bài thơ hay.  

Thơ và nhạc là hai bộ môn riêng biệt, mỗi bộ môn đều có những tố chất khác nhau. Không thể  phổ thơ vào nhạc, mà chỉ có thể viết lời cho nhạc. Âm nhạc là bộ môn giải trí, phổ biến tới mọi  tầng lớp dân chúng, còn thơ là bộ môn chữ, tùy thuộc vào người đọc. Thơ hay, thật khó, tùy  thuộc vào tài năng và kiến thức người làm thơ. Giá trị của thơ có tồn tại hay không, theo thời  gian, có khi cả thế kỷ cũng chỉ còn lại vài người tên tuồi. Và cái giá phải trả thì rất nhiều. Điều  này cũng dễ hiểu, sáng tạo thì phải đổi mới, không phải đổi mới câu chữ, mà đổi mới thể thơ.  Đổi mới thì sẽ gặp sự chống đối của đám đông làm thơ cũ. Và như thế, nhà thơ đúng nghĩa phải  chịu cuộc đời đơn độc. 

_____________________ 

THƠ THỜI ĐÃ QUA 

___________________ 

Vũ Đình Liên  

ÔNG ĐỒ  

Mỗi năm hoa đào nở  

Lại thấy ông đồ già  

Bày mực tàu giấy đỏ  

Bên phố đông người qua    

Bao nhiêu người thuê viết  Tấm tắc ngợi khen tài  “Hoa tay thảo những nét  Như phượng múa rồng bay”    

Nhưng mỗi năm mỗi vắng  Người thuê viết nay đâu  Giấy đỏ buồn không thắm  Mực đọng trong nhiên sầu …    

Ông đồ vẫn ngồi đấy,  

Qua đường không ai hay  Lá vàng rơi trên giấy;  Ngoài giời mua bụi bay.    

Năm nay đào lại nở  

Không thấy ông đồ xưa  Những người muôn năm cũ  Hồn ở đâu bây giờ? 

Báo Thơ • 4 

Bùi Giáng  

VÌ SAO 

Dưới kia con gái ngủ rồi 

Bỏ tôi ở lại ngọn đồi đa mang 

Chân trời bốn ngả dòm sang 

Mà riêng ai bỏ con đàng tôi đi 

Bữa qua tôi định nói gì 

Với ai ngõ trước lộn vì cổng sau 

Bữa nay từ biệt lý đào 

Đêm mù tăm gọi điệu chào cổ sơ 

Rừng sim trái chín tôi sờ 

Trái kia là mận tôi ngơ chưa đành 

Đôi đường đôi đóa co quanh 

Ngẫm ra nghĩ lại đã thành quanh co cong cong muôm thuở cỏ bờ 

Đồi cong cong cũng có ngờ chút chi Dưới kia con gái ngủ khì 

Trên này tôi mộng mị vì – vì sao 

(Trích từ cuốn Bùi Giáng thi tuyển, nxb Mưa  Nguồn, California, Bùi Vịnh gửi tặng) 

Nguyễn Nhược Pháp  

CHÙA HƯƠNG 

(Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa)  

Hôm nay đi chùa Hương.  

Hoa cỏ mờ hơi sương  

Cùng thầy me em dậy.  

Em vấn đầu soi gương.  

Khăn nhỏ, đuôi gà cao;  

Lưng đeo dải yếm đào;  

Quần lĩnh, áo the mới;  

Tay cầm nón quai thao.  

Mẹ cười: “Thầy nó trông!  

Chưn đi đôi dép cong  

Con tôi xinh xinh quá!  

Bao giờ cô lấy chồng?”  

– Em tuy mới mười lăm  Mà đã lắm người thăm  Nhờ mối mai đưa tiếng,  Khen tươi như trăng rằm.  

Nhưng em chưa lấy ai,  Vì thầy bảo người mai  Rằng em còn bé lắm,  

Ý đợi người tài trai.  

Em đi cùng với mẹ  

Me em ngồi cáng tre.  

Thầy theo sau cưỡi ngựa,  Thắt lưng dài đỏ hoe.  

Thầy me ra đi đò,  

Thuyền mấp mênh bên bờ.  Em nhìn sông nước chảy,  Đưa cánh buồm lô nhô.  

Mơ xa lại nghĩ gần.  

Đời mấy kẻ tri âm?  

Thuyền nan vừa lẹ bước,  Em thấy một văn nhân …  

Người đâu thanh lạ thường!  Tướng mạo trông phi thường.  Lưng cao dài, trán rộng.  Hỏi ai nhìn không thương?  

Chàng ngồi bên me em  Me hỏi chuyện làm quen:  “Thưa thầy đi chùa ạ?  

Thuyền đông giời ôi chen!”  

Chàng thưa vâng thuyền đông  Rồi ngắm giời mênh mông,  Xa xa mờ núi biếc,  

Phơn phớt áng mây hồng.  

Giòng sông nước đục lờ.  Ngâm nga chàng đọc thơ!  Thầy khen hay, hay quá !  Em nghe ngồi ngẩn ngơ. 

5 • Tân Hình Thức 

Thuyền đi, bến Đục qua,  

Em mơ, em yêu đời  

Mỗi lúc gặp người ra,  Thẹn thùng em không nói:  “Nam vô A Di Đà!”  

Réo rắt suối đưa quanh.  Ven bờ, ngọn núi xanh,  Nhịp cầu xa nho nhỏ.  Cảnh đẹp gần như tranh.  

Sau núi Oản, Gà, Xôi,  Bao nhiêu là khỉ ngồi.  Tới núi con voi phục,  Có đủ cả đầu đuôi.  

Chùa lấp sau rừng cây,  (Thuyền ta đi một ngày)  Lên cửa chùa em thấy  Hơn một trăm ăn màỵ  

Em đi, chàng theo sau,  Em không dám đi mau,  Ngại chàng chê hấp tấp,  Số gian nan không giàụ  

Thầy me đến điện thờ,  Trầm hương khói toả mờ  Hương như là sao lạc  Lớp sóng người lô nhô.  

Chen vào thật lắm công.  Thầy me em lễ xong  Quay về nhà ngang bảo:  “Mai mới vào chùa trong”  

Chàng hai má đỏ hồng  Kêu với thằng tiểu đồng  Mang túi thơ bầu rượu:  “Mai ta vào chùa trong”  

Đêm hôm ấy em mừng !  Mùi trầm hương bay lừng.  Em nằm nghe tiếng mõ,  Rồi chim kêu trong rừng.  

Mơ nhiều … Viết thế thôi  Kẻo ai mà xem thấy,  

Nhìn em đến nực cườị  

Em chưa tỉnh giấc nồng,  Mây núi đã pha hồng.  Thầy me em sắp sửa  

Vàng hương vào chùa trong.  

Đường mây đá cheo veo,  Hoa đỏ, tím, vàng leo  

Vì thương me quá mệt,  Săn sóc chàng đi theo.  

Mẹ bảo :”Đường còn lâu  Cứ vừa đi ta cầu  

Quan-Thế-Âm Bồ-Tát  Là tha hồ đi mau.”  

Em ư? Em không cầu,  Đường vẫn thấy đi mau.  Chàng cũng cho như thế.  (Ra ta hợp tâm đầu)  

Khi qua chùa Giải Oan  Trông thấy bức tường ngang,  Chàng đưa tay lẹ bút  

Thảo bài thơ liên hoàn.  

Tấm tắc thầy khen hay  Chữ đẹp như rồng baỵ  (Bài thơ này em nhớ  

Nên chả chép vào đây)  

Ôi! Chùa trong đây rồi!  Động thẳm bóng xanh ngờị  Gấm thêu trần thạch nhũ,  Ngọc nhuốm hương trầm rơi  

Mẹ vui mừng hả hê:  

“Tặc! con đường mà ghê!”  Thầy kêu mau lên nhé,  Chiều hôm nay ta về. 

Báo Thơ • 6 

Em nghe bỗng rụng rời!  

Nhìn ai luống nghẹn lời!  

Giờ vui đời có vậy,  

Thoáng ngày vui qua rồi!  

Làn gió thổi hây hâỵ  

Em nghe tà áo bay,  

Em tìm hơi chàng thở!  

Chàng ôi, chàng có hay?  

Đường đây kia lên giời  

Ta bước tựa vai cười,  

Yêu nhau, yêu nhau mãi!  

Đi, ta đi, chàng ôi !  

Ngun ngút khói hương vàng,  

Say trong giấc mơ màng,  

Em cầu xin Giời Phật  

Sao cho em lấy chàng.  

* (Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin hai  người lấy nhau, vì không lấy nhau thì cô bé  còn viết nhiều . Lấy nhau rồi là hết chuyện). 

Mai Thảo 

EM ĐÃ HOANG ĐƯỜNG TỪ CỔ ĐẠI  

Con đường thẳng tắp con đường cụt  Đã vậy từ xưa cái nghĩa đường  

Phải triệu khúc quanh nghìn ngả rẽ  Mới là tâm cảnh đến mười phương  

Em đủ mười phương từ tuổi nhỏ  

Ngần ấy phương anh tới tuổi già  

Tuổi ư? Hồn vẫn đầy trăm gió  

Thổi suốt đêm ngày cõi biếc ta  

Chế lấy mây và gây lấy nắng  

Chế lấy, đừng vay mượn đất trời  

Để khi nhật nguyệt đều xa vắng  

Đầu thềm vẫn có ánh trăng rơi  

Em đã hoang đường từ cổ đại  

Anh cũng thần tiên tự xuống đời  Đôi ta một lứa đôi tài tử  

Ngự mỗi thiên thần ở mỗi ngôi  

Đừng khóc dẫu mưa là nước mắt  Đừng đau dẫu đá cũng đau buồn  Tâm em là Bụt tâm anh Phật  

Trên mỗi tâm ngời một nhánh hương  (Trích Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền) 

Thanh Tâm Tuyền 

MAI  

1.  

Hồn thảo mộc giấc ngủ  

Nằm mơ những ngôi sao mặt trăng  lá đan mắt ngõ  

hôn vào môi vào má vào răng  

những lời thơ rất cũ  

gõ cửa trái tim nàng  

2.  

Mùa hè lên tiếng cười trong bàn tay nước  suối  

mùa tóc mun  

đẹp những khu rừng không bóng cây  (Trích Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy)

Nguyễn Đăng Thường VỀ MỘT HUYỀN THOẠI  

7 • Tân Hình Thức 

THƠ VẦN ĐIỆU VÀ TỰ DO 

________________________ 

Phạm Quốc Bảo 

CHÀO NĂM MỚI 

cái tít này tôi đã sử dụng cho  

một huyền thoại hồ ly vọng khi viết  cho trình bày đầu thập niên 70  ở sài gòn và trên một xứ sở  

không thiếu huyền thoại như vn thì  huyền thoại tcs kl cũng dễ  

hiểu thôi và nếu độc giả cũng  

ưa nói bừa như tôi để so sánh  

cặp trai tài gái sắc này với tổ  

tiên âu cơ lạc long quân vì tuy  trịnh ly không đẻ ra trăm trứng nở  ra trăm con khiến một học sinh đệ 

thất chu văn an đã thì thầm người  mà đẻ trứng khi nghe tôi giảng bài  công dân giáo dục bí quá không biết  phải lí giải thế nào cho ra lẽ  

mà kẻng tan học chiều sắp reo vui thầy bèn mắng át im con nít biết  gì mà bàn bạc trịnh ly họ cũng  sinh hạ được trên dưới khoảng một trăm 

ca khúc điều mà tôi muốn nêu ra  ở đây trước khi thức khuya gõ máy  viết bài này là khi chia tay trong tháng tư đen trịnh ly có chia nhau 

đồng đều mỗi người được phân nửa và  câu hỏi là ai đã lên núi ai  

đã xuống biển người nào về đỉnh cao  kẻ nào chìm vực sâu huyền thoại này  rồi có vĩnh hằng như âu lạc không 

Đông 21 mưa luôn hai tuần lễ 

đuổi khô hạn về không gian mịt mùng đầu năm mới trời nắng đẹp mung lung ta tự hỏi: hẳn đại dịch dần lui bước… 

Ta trên đường được tám mươi phía trước trăn trở cuộc đời lên xuống bao phen thêm thương con người sống phải bon chen mà không vướng bận bùn lầy nước đọng. 

Để khi ra đi thì luôn thanh thản 

như ánh sao vụt sáng giữa bầu trời nhưng lưu lại tâm người còn tiếp nối Khiến nhân gian cứ bừng dậy bước tới 

trên con đường rực rỡ ánh vinh quang của loài người trăn trở kiếp con tằm dệt thành những mảnh tơ đời óng ả cho vũ trụ tiêu tan rồi giãn nở 

cho đến vô cùng vô tận xưa sau … 11:00 am; thứ 7 01/01/22. 

Lê Giang Trần 

PHỐ BỆNH TRỜI MƯA 

Mấy hôm phố đổ bệnh mưa 

Từ tôi lây nỗi nhớ lùa lên mây 

Mưa buồn ho gió vào cây 

Cây run lập cập lá đầy mồ hôi 

Đến khuya đường toát sương trồi Đầu trời lấm tấm sao hồi tan mây Mình đồi còn ướt lắt lay 

Mắt đèn đường tỉnh phục hồi tinh anh Đói lòng thèm bát trăng xanh

Báo Thơ • 8 

Tạm Sao Hôm lót dạ canh thâu mờ Bệnh mưa xuất hạn đã khô 

Qua cơn truyền nhiễm phố bơ phờ nằm. Người lây bệnh-nhớ-xa-xăm 

Thấy thương con phố ướt đầm co ro Hứa từ nay sẽ ít mơ  

Mơ gần ngoài phố mơ xa cuối trời Làm cây cỏ đọng mồ hôi 

Một trời nỗi nhớ ướt nhoi đầm đìa Có nhớ ít cỡ một thìa 

Tán ra thật mịn thả về biển hoang Thổi vào sa mạc nóng ran 

Mùa hè nếu gió trút ngang phố này Buồn khô không ướt như mây Buồn đời da chỉ nổi gai một hồi. Ăn gì trúng thực lạ đời 

Sinh ra bệnh nhớ bệnh trời mưa lây? 021922 

Ý Nhi 

DẪU CHỈ LÀ CƠN MƯA 

Mưa ồn ào mùa hạ 

mưa dịu hiền mùa xuân 

tháng ba ngày mưa nhuần 

vòm hoa xoan tím ngát  

Đất cằn trong khô khát 

bỗng mát lành sau mưa 

cây lá xanh vườn trưa 

lại nồng nàn hơi thở  

Anh có còn luôn nhớ 

cái mùa mưa đầu tiên 

con suối nhỏ bên thềm 

bỗng cồn cào mùa lũ  

Anh có còn luôn nhớ 

mùa đông mưa trắng đồi 

hoa lau phơ phất gió 

dốc Dài và suối Ðôi  

Hay chỉ mình em thôi 

tháng năm dài vẫn nhớ 

như nhớ về đống lửa 

như nhớ về mặt trời 

chắc bền và rực rỡ 

thân gần và xa xôi 

Em chẳng dám quên đâu 

những gì mình đã có 

để làm nên ngọn lửa 

suốt cuộc đời hai ta 

dẫu chỉ là cơn mưa 

em làm sao quên được. 

(1976) 

Đào Văn Bình 

TÔI LÀ NGƯỜI BÁN HÀNG 

Bạn ơi, 

Gọi tôi là gã bán hàng. 

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh.  Hàng về phải bán cho nhanh. 

Bán mau, bán đắt mới thành đại gia. Nhưng tôi ăn nói thật thà. 

Thuận mua vừa bán ấy là phương châm. Khách hàng dù có cằn nhằn. 

Tôi vẫn vui vẻ, trăm phần dễ thương. Chữ Tín nào dám coi thường.  

Hàng sao nói vậy không lường gạt ai.  On Sale (1) cho khách thêm vui. Lần sau lại ghé nói lời cảm ơn.  Chẳng phiền khi khách rì-thơn. (2) Trả ngay tiền lại chẳng buồn lòng ai. Nhưng tôi không phải, bạn ơi. 

Người buôn, kẻ bán kiếm lời mưu sinh. Hàng tôi, hàng lạ hàng lùng. 

Bạn không tìm thấy khắp cùng thế gian.  Hoa tôi không phải hoa lan. 

Hoa vui đám cưới, hoa buồn đám ma. Hoa tôi hoa Mạnh Thù Sa. 

Hoa Vô Ưu với Mạn Đà trang nghiêm. Thấy hoa như thấy mẹ hiền. 

Thấy ngay thất tổ, cửu huyền vãng sinh. Tôi không bán nhạc xập xình. 

Nhạc than, nhạc khóc, nhạc tình kêu la. Nhạc tôi dâng tiếng thái hòa. 

Lưới Trời Đế Thích hòa ca nhạc Trời. Trăm tiếng vi diệu bạn ơi. 

Nghe rồi tỉnh giấc mơ đời đảo điên.

9 • Tân Hình Thức 

Tôi còn rao bán cả chim. 

Ngoài trời vồi vội mưa rơi  

Nhưng chim quý lạ, khó tìm thế gian. Tiếng chim niệm Phật hòa vang. 

Bạch Hạc, Khổng Tước, Ca-lăng-tần-già. Tôi còn rao bán cả nhà. 

Nhưng là Tịnh Xá ở mà yên vui. 

Nhà không phiền não bạn ơi. 

Nếu muốn thanh tịnh thì mời tới xem.  Chuông tôi gõ tiếng êm đềm. 

Tiếng chuông tỉnh thức lắng yên lòng người. Tôi còn bán nước bạn ơi. 

Nhưng không nước ngọt nặng mùi Coca.  Nước tôi là nước Cam Lồ. 

Vượt qua sinh tử tới bờ an nhiên. 

Nhang tôi ai ngửi mùi hương. 

Bỏ ngay tất cả giận hờn sân si.  

Mõ tôi gõ tiếng từ bi. 

Khoan thai, dìu dặt hướng về nẻo thương. Tôi còn bán cả ruộng nương.  

Nhưng là Ruộng Phúc (3) mở đường về sau. Muốn cho con cháu sang giàu. 

Mua ngay Ruộng Phúc trồng cây cứu đời.  Tôi là kẻ bán an vui. 

Bán đồ thanh tịnh, bán lời bình an. 

Kính mời quý bạn ghé thăm. 

Không mua tôi vẫn nặng lòng cám ơn.  

 (Trích sách Đạo Phật: Đất Nước Cuộc Sống  và Tâm Linh xb năm 2017, Amazon phát hành) 

(1) On Sale: Hạ giá để chiêu khách 

(2) Return: Mua rồi không ưng ý, trả lại (3) Phúc điền 

Thành Tôn 

KẺ LÃNG TỬ 

Quán trưa ghế một ta ngồi  

Ly bia cũng nhạt cảnh đời tiêu sơ  

Vào ra quen mặt nghi ngờ  

Vòng quay đã lặp đĩa mờ âm thanh  

Buồn buồn thổi khói lên nhanh  

Mờ hơi ẩm quán lạnh tanh hồn người  

Phố quen nhàn nhạt cảnh đời bay bay …  Co ro hồn tỉnh chân say  

Thân ta ướt át quên ngày nồng cơn  

Nhớ em trăm sợi chờn vờn  

Nhạc hâm nóng máu dập dờn da gai  

Bia lưng. Ghế nóng. Mưa mài.  

Quanh ta cảnh tượng nhạt phai tình người.  Ngồi đây trông thật thảnh thơi  

Tủy xương dậm dật trăm lời nôn nao  

Cảnh ta kẻ lạ trông vào  

Dài đuôi mắt liếc đủ xao dòng tình. 

Phượng Vỹ 

NGÀY HAI MƯƠI TƯ 

Tin hay không tin 

thiên đường được xây nên từ sức nặng của những người nằm dưới nó 

vào tháng bảy tôi rẽ qua cánh đồng 

những người tài xế phóng nhanh 

như thể 

họ đã sẵn sàng cho ngày này để chết 

có khi tôi hiểu mà có khi không 

có khi người ta thôi yêu quý những người ở lại giờ nghe câu chuyện về hốc mắt đá và ba con khỉ một trong số chúng bị câm 

một trong số chúng hay bị viêm đường tiết niệu 

con còn lại nghịch ngợm 

kể cả những quả mìn tưởng mình đã giải nghệ  dưới lớp đất đen 

con còn lại nghịch ngợm đến khi 

cả ba nổ tan tành 

còn hốc mắt đá kia 

không phút nào quan trọng.

Báo Thơ • 10 

Xuân Thủy 

EM Ở ĐÂU  

Lâu rồi không gặp em  Em có khoẻ không không Em anh chết đã lâu 

Rồi em thế nào rồi 

Em còn sống hay đã 

Chết lâu rồi ở trong  

Anh anh phải tự hỏi 

Anh đi chứ anh không 

Nghe lời em nói yêu 

Anh mà bỏ em đi 

Rồi giờ anh nói lâu 

Rồi không gặp em em 

Có khoẻ không em còn  Sống hay đã chết 

Hay như em vẫn nói 

Em cao số lắm chưa 

Chết được đâu nào là 

Là gan là thận bệnh  

Nền không tiêm chủng được Không như người ta vì 

Em là tình yêu … Em 

Ở ngoài biên giới xa  

Ngoài thế giới bủa vây Quanh anh vì em ở 

Trong anh nơi ngoài biên Giới xa không có gì 

Đã nói ngoài tình yêu Hoà bình hay chiến tranh 

 #Covid 8/2021 

THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT 

_________________________ 

Nguyễn Ngọc Trìu 

BƯỚC ĐẦU TIÊN CẦN GHI NHỚ 

‘‘Làm thơ hai mặt hai mặt 

của một tờ giấy là điều 

chớ nên chữ trong thơ phải 

lựa chọn lựa chọn xóa đi 

thay đổi xóa đi thay đổi 

be bét be bét lật mặt 

này lật mặt kia không ổn 

lại thay từ đổi câu cân 

nhắc cân nhắc chưa ổn ghạch 

xóa gạch xóa nhằng nhịt chèn 

chêm chèn chêm đọc đi đọc 

lại lật lên úp xuống mỏi 

rời tay nhiều khi vẫn không  

ưng ý ”… tôi gật đầu lia  

lịa lia lịa tìm bút nhà 

thơ xua tay xua tay ‘‘ không 

cần ghi không cần ghi chỉ 

cần nhớ viết thơ hai mặt 

hai mặt là điều chớ nên 

chớ nên… 

Phạm Quyên Chi 

LỜI HỨA 

Thưa đức Vua ngài đang  

Nhìn tôi đó à à  

Tôi sẽ làm mọi chuyện  

Trở nên tốt đẹp hơn  

Cho ngài vào sáng sớm  

Ngày mai còn bây giờ  

Xin phép tôi ngã giá  

700 đồng bạc giấy 

300 đồng bạc vàng  

Xin lỗi tôi chỉ là  

Tên đầy tớ lỗ mãng 

Ghét cay vật chất nhưng 

Để trả thù đạo đức  

Tôi phải giả tạo yêu  

Sự ngớ ngẩn trước sự  

Xuất hiện của thứ đáng  

Phun nhổ đó hoặc tự  

Huyễn tưởng cầm chơi tân  

Tân thưa đức Vua ngài  

Chưa bao giờ giữ lời  

Hứa với người phụ nữ  

Giữ người duy nhất và  

Người ấy có lẽ đang  

Hạnh phúc với chồng mình  

Nàng ấy chỉ một lần  

Tin vào lời hứa của  

Người yêu vì nàng nghĩ  

Thưa đức Vua ngài có  

Thể thực hiện mà không  

Gặp bất cứ sự trở ngại  

Nào nhẽ ra nàng ấy  

Sẽ trở thành một hoàng  

Hậu danh giá hay đúng  

Hơn lúc này thưa đức 

Vua ngài đang nhìn ngài  

Đó à thật mâu thuẫn! 

Trần Hoàng Vy 

SỰ THẬT HẠT SƯƠNG  

Những hạt sương đêm ỏng ẹo, ma mị lừa dối ngọn cỏ, mượn ánh sáng mặt trời khi ngày vừa mới chớm, óng a óng ánh, những chuỗi ngọc ảo ảnh giả 

tạo bởi con mắt trần gian mê muội vẽ đẹp của sương, chỉ có sự thật của tia nắng mới, dám chỉ ra rằng hạt sương lạnh tanh, sự thật nó là 

11 • Tân Hình Thức 

đứa con rơi ra từ trong hơi nước 

bám víu lấy cành cây, cọng cỏ, lá 

xanh để thay tên đổi họ, lên ngôi 

xưng là hạt sương lóng la, lóng 

lánh. Không dám nhìn sự thật của hạt nước, nên nắng phải tỏa hơi nóng bắt hạt sương trở về nguyên dạng dáng hình của nước, thấm vào đất mẹ hối cải 

để cỏ cứ lên xanh từ sự thật…. 

Hường Thanh 

KHÔNG PHẢI CÓ LÚC EM MUỐN QUAY  VỀ NƠI ĐÓ  

Ngồi giữa những tiếng động liên tục em nhận ra sự thật em không biết đến 

sự yên tĩnh như thế nào hoặc  

em thích sự ồn ào giống như em 

là một loại máy móc liên tục chạy 

nhảy không ngừng chuyển động không  ngừng  

chấm dứt và không có thứ luật lệ 

nào để kết thúc sự chuyển động của  

em tôi yêu em bởi lẽ không phải  

cô gái luôn làm biếng với tiếng ồn 

ào như tôi từng gặp trên băng ghế  

mùa đông có cô gái ngày nào cũng 

ngồi giữa những tiếng thầm thì của bạn trai nhưng không nhận ra anh ta đang  kéo em trở về sự yên tĩnh đến  

chết người liên tục xảy ra mỗi ngày. 

Báo Thơ • 12 

Thạch Tốt 

BAY THEO TRẬN GIÓ 

 “Nhớ nhau tóc sợi sợi già  Bay theo trận gió khóc òa giữa cây”  (Tô thùy Yên) 

Em ngờ là đã gấp 

rút không còn thời giờ 

gặp anh nữa đâu dẫu 

em rất tin cậy rất 

ưa gặp một người 

như anh vậy đó em 

em phải lên trên đó 

phải đi xa điều thiệt 

bi thảm thiệt ghê gớm 

anh biết hay không thì 

ngày mai cũng chẳng còn 

chẳng còn gì để quên 

hết thảy…có lẽ từ 

lúc chàng bước lại đứng 

đó không gật đầu chào 

anh biết hay không thì 

có lẽ từ tất cả 

xong rồi duy có điều 

anh nói trật dòng sông 

gieo mình hóa ra là 

anh biết hay không thì 

vô ích thôi anh ạ 

cũng chẳng còn điều anh 

nói trật dòng sông gieo 

mình là đồi thông nàng  

yêu sim tím để rồi … 

Nguyễn Tuyết Trinh 

ĐIỀU TÔI KHÔNG BIẾT  

Những buổi chiều như nhau Tự chúng đã mang sẵn nỗi nhớ thương không lối  thóat. Con chim hót khàn 

bên bóng tối đổ ụp  

xuống. Tất cả anh hiện diện. Khuôn mặt người tình nặng nề, không thể thuần 

hóa, gợi lại khuôn mặt những người đàn ông của Rodin. Khoảnh khắc này tôi không biết phải làm gì 

trong thế giới của tôi. Phiêu lưu theo những cảm  giác mê hoặc, không chút hoài nghi, giữ im lặng 

lùi xa tình yêu hỗn  

độn không thể nào thay đổi. Đâu còn chuyện hy vọng giữ nguyên sự bình 

yên không rơi thành từng  miếng.

13 • Tân Hình Thức 

BÙI GIÁNG TRONG CÁI NHÌN  

CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975 

________________________________________________ 

Trần Hoài Anh 

1. Nói đến Bùi Giáng, người ta thường nghĩ đến một nhà thơ vừa quen vừa lạ. Quen vì thơ  ông vốn mang âm hưởng lục bát của ca dao, của Truyện Kiều, dễ thuộc, dễ nhớ, được nhiều  người yêu mến, tìm đọc. Nhưng lạ, vì để hiểu đời và thơ Bùi Giáng là điều không đơn giản. Vì  vậy, Bùi Giáng luôn là một hiện tượng thu hút rất nhiều sự quan tâm của độc giả cũng như các  nhà nghiên cứu, phê bình văn học trong và ngoài nước từ khi ông còn hiện hữu trên cõi đời cho  đến lúc ông đi ra ngoài cõi sống. 

Trong văn học miều Nam 1954 – 1975, đời và thơ Bùi Giáng luôn được các nhà phê bình văn  học chủ tâm nghiên cứu. Bùi Giáng đã hiện diện trong các công trình phê bình, nghiên cứu  văn học ở miền Nam như: Những nhà thơ hôm nay (Nhà văn Việt Nam xb. Sàigòn, 1957) của  Nguyễn Đình Tuyến; Văn học hiện đại, thi ca và thi nhân (Quần Chúng xuất bản, Sàigòn, 1969)  của Cao Thế Dung; Những khuynh hướng trong thi ca Việt Nam (Khai Trí xb, Sàigòn, 1962)của  Minh Huy; Thơ Việt Nam hiện đại 1900 –1960 (Hồng Lĩnh xb, Sàigòn, 1969) của Uyên Thao;  Tác giả tác phẩm (Tác Giả xb, Sàigòn, 1973) của Trần Tuấn Kiệt … Đặc biệt cùng với Trịnh  Công Sơn, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nhật  Tiến, Thế Uyên, Thế Phong, Võ Hồng. Bùi Giáng là một trong mười khuôn mặt văn nghệ được  Tạ Tỵ nói đến trong tác phẩm chân dung văn nghệ có tên Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay,  nổi tiếng của mình do Lá Bối xuất bản, Sàigòn, 1972. 

Và càng đặc biệt hơn khi Tạp chí Văn, một trong những tạp chí nghiên cứu, phê bình văn học  có uy tín trong đời sống văn học miền Nam trước 1975 đã dành hẳn số 11 ra ngày 18/5/1973 để  giới thiệu về Bùi Giáng với các bài: “Bùi Giáng, hồn thơ bị vây khổn” của Thanh Tâm Tuyền;  “Thi ca và tư tưởng” của Tuệ Sỹ; “Bùi Giáng, về cố quận” của Nam Chữ; “Bùi Giáng, cải lương  ca” của Cao Huy Khanh; “Bùi Giáng trên đường về cố hương” của Trần Hữu Cư; “Ẩn ngữ,  cung bậc của thi ca” của Thục Khưu; “Chung quanh vấn đề Bùi Giáng” của Trần Tuấn Kiệt;  “Thư từ” trao đổi giữa Nguyễn Xuân Hòang và Bùi Giáng và một số sáng tác thơ, văn của ông  … 

Ngoài ra, Bùi Giáng còn xuất hiện trên nhiều báo, tạp chí, công trình nghiên cứu khác ở miền  Nam trước 1975 mà do điều kiện khó khăn về việc tìm kiếm tư liệu, người viết bài này chưa có  thể sưu tập được. Tuy nhiên, qua những gì hiện có, chúng ta cũng có thể khẳng định rằng Bùi  Giáng là một trong những hiện tượng văn học khá nổi bật, thu hút ngòi bút của các nhà nghiên 

Báo Thơ • 14 

cứu, phê bình văn học ở miền Nam trước năm 1975. Và nói như Tạ Tỵ: “Bùi Giáng là một hiện  tượng, người yêu thơ phải nhìn Bùi Giáng qua phong cách độc đáo, ở đấy, mỗi dòng, mỗi chữ,  mỗi ý, được viết ra là máu thịt của thi nhân dâng hiến cho đời. Thơ Bùi Giáng không thuộc  trường phái nào hết. Nó không cũ, chẳng mới. Nó có thể là thơ, là tư tưởng, đôi khi thơ và tư  tưởng lẫn lộn giao hòa tạo thành một vùng “mờ mịt thức mây”. Thơ Bùi Giáng như một cơn  đau chưa dứt, như nỗi bàng hoàng chiêm bao chợt tỉnh, để rồi lại chìm vào chiêm bao khác. Nó  bâng khuâng ở mỗi vần, mỗi chữ. Có lúc, nó buồn bã như niềm tuyệt vọng! Người yêu thơ cứ  phải men lần theo, như đi trên một hành lang trú ngụ. Nhiều điều bí mật. Mỗi khúc quanh lại  mở ra những kỳ dị phi thường”.(1) 

Nhận định trên đây của Tạ Tỵ về Bùi Giang có lẽ cũng là cảm thức chung của các nhà phê bình  văn học ở miền Nam trước năm 1975 khi nghiên cứu về đời và thơ Bùi Giáng. 

2. Buffron nói “Văn là người”. Điều đó rất đúng với Bùi Giáng. Đi vào cõi thơ Bùi Giáng là đi  vào cõi người của Bùi Giáng. Mà cuộc đời Bùi Giáng thì phiêu bồng như thơ ông. Vì vậy, để  hiểu đời và thơ Bùi Giáng có lẽ người đọc cũng phải để hồn mình bồng bềnh phiêu lãng trong  cõi thơ của ông. Bởi Bùi Giáng đã từng quan niệm “Cõi thơ là cõi phiêu bồng”. Đi vào cõi thơ  Bùi Giáng tức là đi vào cõi bồng phiêu của đời ông. Vì vậy, khi tìm hiểu các bài nghiên cứu,  phê bình văn học ở miền Nam trước 1975 viết về Bùi Giáng, chúng tôi đều thấy chất phiêu  bồng này đan xen trong tâm thức và cảm quan của người viết. Thế nên, để hiểu Bùi Giáng, các  nhà phê bình, nghiên cứu phải xuất phát từ nhiều điểm nhìn, nhiều hệ quy chiếu khác nhau thì  may ra mới chạm đến cõi thơ và cõi đời Bùi Giáng. Bởi theo Tạ Tỵ, Bùi Giáng là người “đã đi  vào chiêm bao giữa cuộc sống vì cuộc sống vừa khủng khiếp vừa nên thơ, con người không thể  dùng lý luận để biện minh phải trái. Nhưng dù nói gì mặc lòng, đích thực thơ Bùi Giáng bị cái  hàng rào triết học bủa vây thật chặt chẽ”. (1) Và theo chúng tôi, đây chính là một yếu tính trong  đời và thơ Bùi Giáng. 

Nói đến thơ và đời Bùi Giáng là nói đến sự hợp hôn diệu kỳ giữa thi ca và triết học. Chính vì  vậy đi vào cõi thơ Bùi Giáng, người đọc cần có một tầm đón đợi phù hợp, phải xuất phát từ  nhiều điểm nhìn khác nhau cùng với một vốn sống, vốn văn hóa phong phú may ra mới thấu  cảm được với hồn thơ của thi sĩ. Đây cũng là điều mà các nhà phê bình văn học ở miền Nam  trước 1975 tập trung lý giải. Bởi theo Nguyễn Đình Tuyến “Thơ Bùi Giáng được rất nhiều ca  tụng nhưng đồng thời cũng gặp nhiều ngộ nhận. Đó là hiện tượng không thể tránh được đối với  các thi tài lớn. Từ lâu, nhà thơ đã linh cảm những bất trắc trên đường sự nghiệp, nhưng với một  khát vọng thiết tha và mãnh liệt khởi sự từ mưa nguồn chớp bể, nhà thơ vẫn đi theo tiếng gọi  của nàng thơ và không thể chiều ý tất cả chúng ta”.(2) 

Tuy nhiên, với sự đồng cảm và tri âm sâu sắc của những tâm hồn đồng điệu, các nhà phê bình  văn học ở miền Nam đã đến với đời và thơ Bùi Giáng bằng một sự trân quí, sẻ chia. Chính vì  vậy, trước bao nhiêu câu hỏi của người đời về hiện tượng điên hay không điên của Bùi Giáng,  Thanh Tâm Tuyền trong bài viết “Bùi Giáng, hồn thơ bị vây khổn” với tất cả sự cảm nhận, tinh  

_________________________________________________________ 

(1). Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Lá Bối xuất bản, Sàigòn 1973, tr. 583-584 (1). Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Lá Bối xuất bản, Sàigòn 1973, tr. 563 (2). Nguyễn Đình Tuyến, Những nhà thơ hôm nay, Nhà văn Việt Nam xuất bản, Sàigòn 1967 tr.18

15 • Tân Hình Thức 

tế của một thi sĩ và trách nhiệm của một nhà phê bình đã xác tín “Không, Bùi Giáng không  điên, ông là một nhà thơ sáng suốt cực kỳ. Ông là một nhà thơ “ngộ”. Đừng hiểu chữ “ngộ”  trong cái nghĩa đơn giản của Đạo giáo …”(1) Và chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với nhận định này  của Thanh Tâm Tuyền. 

Quả thật, Bùi Giáng không phải là một nhà thơ điên như có người nhầm lẫn. Trạng thái điên  “nếu có” ở Bùi Giáng chính là sự phóng chiếu của những ẩn ức, đam mê trong quá trình sáng  tạo nghệ thuật. Và nếu nhìn từ lý thuyết phân tâm học của Freud, chúng ta sẽ thấy rõ vấn đề này.  Chính vì vậy, trong cái nhìn của các nhà phê bình văn học miền Nam trước 1975, Bùi Giáng  là một thi nhân luôn gắn với cuộc sống con người và hồn thơ của ông luôn neo đậu trong cõi  người. Nếu có phiêu bồng thì đó chỉ là sự phiêu bồng của những phút thăng hoa trong sáng  tạo. Nói như Cao Thế Dung: “Đọc thơ Bùi Giáng ai cũng nhận thấy có cái độc đáo từ chiều  sâu thẳm trong cõi tiềm thức. Chiều sâu ấy như chiều sâu của vô cùng với khắc khoải của khác  vọng từ xa vắng người mà rất người”.(2) Và cũng theo như Cao Thế Dung, tìm vào cõi thơ Bùi  Giáng: “người ta chợt nhớ ra cái bóng dáng xa xăm của Verlain khi bắt đầu dấn thân vào cuộc  đời. Nỗi buồn của thơ Bùi Giáng tựa như âm thừa của trận mưa nguồn, của cỏ nội. Nỗi buồn  dâng thiệt cao trong cơn say rồi thoát giữa hư vô để tìm lại bóng con người. Nỗi buồn ấy thấm  sâu rồi lan nhẹ theo từng mảnh tâm tư trước cơn dao động của ý thức”.(3) 

Song cõi thơ Bùi Giáng không chỉ đậm đặc nỗi buồn mà còn chất đầy nỗi cô đơn của thân phận  trước những dâu bể cuộc đời. Nỗi cô đơn ấy nhiều khi ám ảnh đời người mà nếu không “vịn”  vào một cái gì đó để “đứng dậy” thì con người cũng dễ bị gục ngã trước cuộc sống. Trong cõi  thơ Bùi Giáng, nỗi cô đơn là một căn tính mà các nhà phê bình văn học ở miền Nam trước 1975  đều nhận thấy. Vì vậy, khi nhận định về vũ trụ thơ Bùi Giáng, Tạ Tỵ đã thốt lên một cách xa xót:  “Bùi Giáng thường gặp mình giữa hồn mình. Cô đơn và cô đơn trước bạt ngàn vướng mắc”(1).  Còn Trần Hữu Cư thì cho rằng: “Bùi Giáng vẫn còn đó, có lẽ Bùi Giáng chỉ nhận những lời  ngợi khen hay thống trách, nhưng có lẽ quá hiếm người hiểu ông muốn làm gì trên cõi đời này  … Cho nên Bùi Giáng vẫn sống cô độc”.(2)  

Quả thật những suy nghĩ của Tạ Tỵ và Trần Hữu Cư về nỗi cô đơn trong đời và thơ Bùi Giáng  thật đúng với cõi đời và cõi thơ của ông. Cô đơn vốn là một căn tính trong bản thể. Tùy theo  thân phận/ nhân vị của mỗi người mà nỗi cô đơn đó hiện hữu như thế nào? Ở Bùi Giáng, theo  chúng tôi, nỗi cô đơn của ông là nỗi cô đơn của định mệnh, của duyên nghiệp. Ông không chỉ  cô đơn trong đời mà còn cô đơn trong thơ, cô đơn trong tư tưởng của mình. Sự cô đơn ở Bùi  Giáng như hệ lụy tất yếu của số phận, không thể lý giải. Vì thế, đã lâu rồi, người ta vẫn cứ đặt  nhiều câu hỏi về đời và thơ của ông. Và từ những góc nhìn, những suy tưởng riêng của mình và  mỗi người có cách lý giải khác nhau. Nhưng nếu bảo rằng chúng ta đã hiểu và chia sẻ hết những  gì hiện hữu trong đời và thơ Bùi Giáng, thì đó là điều không thể!? Nói như Trần Hữu Cư: “Bùi  Giáng vẫn sống trong cô độc”. Bởi theo Tạ Tỵ: “Thơ với Bùi Giáng đích thị không phải là cứu  

_________________________________________________________________________________ 

(1) Thanh Tân Tuyền, Bùi Giáng, hồn thơ bị vây khổn, Văn số 11, ra ngày 18/5/1973, tr. 8. (2) Cao Thế Dung, Văn học hiện đại thi ca và thi nhân, Quần chúng xuất bản, Sàigòn 1969, tr.42.

Báo Thơ • 16 

cánh, chỉ được thực hiện nhằm giải tỏa ám ảnh về thân phận trong vòng đai cuộc sống nhiều  băn khoăn vớ ý thức siêu hình”.(1) 

Vì vậy, trong cái nhìn của các nhà phê bình văn học ở miền Nam, thơ Bùi Giáng là “cuộc hội  thoại giữa thi ca và tưởng … Nó “luôn luôn là những tương ứng của chung và riêng”(2). Và cuộc  hội thoại này chính là một đặc điểm trong thi pháp thơ Bùi Giáng mà theo Cao Huy Khanh  trong bài tiểu luận “Bùi Giáng, cải lương ca” thì “Văn chương Bùi Giáng là một nỗ lực giải  quyết và thực hiện tư tưởng triết lý tồn sinh một cách sống động và thơ mộng”(3). Tính chất  triết lý này chi phối sâu sắc cõi sống và cõi thơ của Bùi Giáng. Vì vậy, Tạ Tỵ cho rằng: “Bùi  Giáng đi vào cõi thơ luôn đeo bên mình niềm ám ảnh của triết học”(4). Và chính vì thế “Bùi  Giáng làm thơ nhưng chẳng bao giờ thừa nhận thi ca chính là lẽ sống duy nhất của đời mình.  Người thơ coi kiếp sống như một hiện hữu bất đắc dĩ, nên làm thơ cho khuây khỏa ám ảnh, cái  ám ảnh thực sâu đậm bi thương giữa cõi đời hỗn mang và suy tưởng thuần khiết”(5). Và cũng  theo Tạ Tỵ: ” Bùi Giáng thoát hồn vào ảo giác để nhận ra sự thật”(6). Nhận xét này có thể xem  là một gợi mở, là chìa khóa để giải mã hành trình sáng tạo thơ của Bùi Giáng cũng như sự hiện  hữu khá dị thường của ông trong cuộc đời mà hiện nay vẫn còn nhiều câu hỏi chưa có lời đáp!? 

Một điều lý thú mà hầu hết các nhà phê bình ở miền Nam trước 1975 đều tập trung nghiên cứu  với những nhận định khá sâu sắc và xác đáng đó là lĩnh vực ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng.  Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ. Ngôn từ trong thơ bao giờ cũng là một trong những giá  trị đặc biệt làm nên phong cách nhà thơ. Ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng là một vũ trụ ngôn ngữ  mà ở đó cuộc hôn phối diệu kỳ giữa thi ca và tư tưởng được thể hiện một cách sâu sắc. Vũ trụ  ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng là vũ trụ của những tiếng nói vang vọng từ trong chiều sâu tâm  thức và tâm cảm cho nên nó là một thứ ngôn ngữ phi/ siêu logic, ngôn ngữ nghệ thuật phi/ siêu  nghệ thuật. Vì vậy, trong cái nhìn của Cao Thế Dung “Thơ Bùi Giáng vốn là sự khó hiểu vì ông  đã phá cái trật tự của ngôn ngữ, ông đã đảo lộn cái cơ cấu tạo hình ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong  thơ ông chỉ còn là một thứ trò chơi. Ông dỡn với từng chữ, đùa cợt với âm thanh thơ”(1). Còn  Tạ Tỵ lại cho rằng: “Thơ Bùi Giáng mang nhiều ẩn dụ ở chiều sâu ngôn ngữ”(2). Và theo Nam  Chữ: “Mặc dầu có khi trái ngược nhau đến cực độ, ngôn ngữ thi ca của ông (Bùi Giáng – THA)  ngụ ý một cách sâu sa. Người ta biết rõ rằng những dung từ khó khăn nhất, những âm vận ngắn  củn nhất, đôi lúc đến quá liều lĩnh, khi đi vào trong cung cách lập ngôn của ông đều trở nên linh  hoạt dị thường, đều trở nên nhẹ nhàng và âm điệu réo rắc như nhịp tấu của một tay gẩy đàn tài  tử, không còn câu nệ ở hình thức cây đàn nữa”(3)

Mặt khác, từ góc nhìn truyền thống, Cao Huy Khanh cho rằng: “Thơ Bùi Giáng cốt yếu là một  hiện tượng ngôn ngữ độc đáo tựu thành từ mối đam mê nguồn thơ lục bát (đặc biệt truyện Kiều)  

_________________________________________________________________________________________________________ 

(1) Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Lá Bối xuất bản, Sàigòn 1973, tr. 568. (2) Tuệ Sỹ, Thi ca và tư tưởng, Văn số 11, ra ngày 18/5/1973, tr. 27. 

(3) Cao Huy Khanh, Bùi Giáng, cải lương ca, Văn 11, ra ngày 18/5/1973, tr. 60. (4) Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Lá Bối xuất bản, Sàigòn 1973, tr. 571. (5) Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Lá Bối xuất bản, Sàigòn 1973, tr. 575. (6) Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Lá Bối xuất bản, Sàigòn 1973, tr. 575. (1) Cao Huy Khanh, Bùi Giáng, cải lương ca, Văn 11, ra ngày 18/5/1973, tr. 44. (2) Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Lá Bối xuất bản, Sàigòn 1973, tr. 579. (3) Nam Chữ, Bùi Giáng, về cố quận, Văn 11, ra ngày 18/5/1973, tr. 45.

17 • Tân Hình Thức 

phối hợp với âm điệu ca dao thuần túy dân tộc”(1). Song phải chăng ngôn ngữ trong thơ Bùi  Giáng là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa thi ca và tư tưởng, giữa nghệ  thuật và triết học. Và điều này đã tạo nên một phẩm chất riêng có trong thơ ông, nên khi nhận  định về ngôn ngữ thơ Bùi Giáng, Nguyễn Đình Tuyến cho rằng: “Lời thơ rộng rãi luôn luôn  thay đổi bình diện, thâm trầm trang nhã mà không xa lời ca nơi đồng ruộng, thôn trang, bình dị  mà tân kỳ, đó là tính chất của thơ Bùi Giáng”(2)

Tuy nhiên, khi nói đến ngôn ngữ thơ Bùi Giáng, các nhà phê bình văn học không chỉ nói đến  mặt sáng tạo, mặt thành tựu mà còn chỉ ra những mặt hạn chế. Đó là sự dễ dãi, đùa cợt, sáo  rỗng trong ngôn ngữ ở một số bài thơ của Bùi Giáng mà theo Cao Thế Dung là kỹ thuật thơ  của Bùi Giáng “chưa phải là điêu luyện vì cách sử dụng ngôn ngữ của ông còn nhiều điểm đáng  chê vì nó không thể hiện được phần yếu tính của thơ”(3). Không những thế, Cao Thế Dung còn  cho rằng có lúc Bùi Giáng sử dụng những “ngôn từ quá cũ, sáo rỗng, chẳng hạn như ‘Nữ Chúa  Nương’ và nhiều khi còn dùng những ngôn ngữ mà với thi ca nó sẽ tầm thường như con chuồn  chuồn, con kiến”(4)

Theo chúng tôi, ý kiến này tuy có phần xác đáng nhưng cực đoan. Vì không nhất thiết cứ là thơ  thì ngôn ngữ phải là những “lời có cánh” bay bổng, sang trọng, xa cách cuộc sống đời thường.  Và nếu cho rằng dùng những ngôn từ trong cuộc sống làng quê như chuồn chuồn, con kiến sẽ  làm tầm thường hóa thơ ca thì đây là ý nghĩ có phần hàm hồ. Bởi, ngôn ngữ thơ, suy cho cùng  cũng là ngôn ngữ đời sống được nhà thơ chưng cất lên mà thôi. Vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây, là  nghệ thuật và kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ như thế nào trong quá trình sáng tạo thơ  ca, chứ không phải là việc dùng từ “bình dân” hay “bác học”. Bởi lẽ, nói như Rimbaud: “Tiếng  nói kia của nhà thơ sẽ là hồn của tâm hồn, thu gom hết sự vật, hương, thanh sắc, nó sẽ là ý tưởng  móc vào ý tưởng mà lôi kéo đi”.(1) 

Một bình diện khác trong thế giới nghệ thuật thơ Bùi Giáng mà các nhà phê bình văn học miền  Nam cũng đề cập đến đó là giọng điệu mà theo Uyên Thao: “Bùi Giáng cũng tạo được một cái  “lạ” đó là “cái ngang” và chính “cái ngang” này đã làm cho “Bùi Giáng có cái giọng bạt đó và  cái giọng bạt đã ảnh hưởng vào âm vận của thơ Giáng”.(2) Và trong cái nhìn của Uyên Thao thì  Bùi Giáng là một trong không nhiều khuôn mặt thơ tiêu biểu của thơ ca hiện đại Việt nam. 

Thục Khưu trong bài Ẩn nghữ, cung bậc thi ca Bùi Giáng, đã cảm nhận vẻ đẹp trong giọng điệu  thơ Bùi Giáng bằng những cảm xúc rất tinh tế và sâu sắc. Theo Thục Khưu cái ngân nga trong  thơ điệu Bùi Giáng “là một bức thông điệp mỹ miều đồ sộ của tâm hồn”.(1) Thơ là tiếng nói của  tâm hồn. Giọng điệu trong thơ bao giờ cũng là giọng điệu của tâm hồn thi nhân. Đây là một  

_____________________________________________________________________________________ 

(1) Cao Huy Khanh, Bùi Giáng, cải lương ca, Văn 11, ra ngày 18/5/1973, tr. 65. (2). Nguyễn Đình Tuyến, Những nhà thơ hôm nay, Nhà văn Việt Nam xuất bản, Sàigòn 1967 tr.17 (3) Cao Thế Dung, Văn học hiện đại thi ca và thi nhân, Quần chúng xuất bản, Sàigòn 1969, tr.48. (4) Cao Thế Dung, Văn học hiện đại thi ca và thi nhân, Quần chúng xuất bản, Sàigòn 1969, tr.48. (1) Trần Hoài Anh, Thơ – quan niệm và cảm nhận, nxb Thanh Niên, H, 2010, tr.280. (2) Uyên Thao, Thơ Việt Nam hiện đại 1900-1960, Hồng Lĩnh xb, Sàigòn 1969, tr.455. (1) Thục Khưu, Ẩn ngữ, cung bậc thi ca, Văn 11, ra ngày 18/5/1973, tr. 74.

Báo Thơ • 18 

trong những yếu tố thi pháp làm nên nét riêng trong phong cách của mỗi thi nhân. Giọng điệu  ấy bao giờ cũng là phương thức hữu hiệu nhất chuyển tải tâm thức và tâm cảm của mỗi thi nhân  đến người tiếp nhận. Vì thế, Tạ Tỵ cho rằng: “Thơ Bùi Giáng súc tích chứa đựng nhiều u uẩn.  Cái khung trời sáng láng hồn hậu chan hòa mơ ước, phiêu bồng của buổi nào xa xôi, vẫn thấp  thoáng hiện về trong thi nhân qua những vần điệu”.(2) 

Không chỉ lạ lẫm trong giọng điệu, thơ Bùi Giáng cũng khám phá nhiều lĩnh vực của hiện thực  và đó là một hiện thực luôn vận động: từ truyền thống đến hiện đại, từ thế giới hữu hình tới vô  hình, từ hiện thực cuộc đời đến hiện thực tâm linh … Sự vận đông này vô cùng linh hoạt và biến  sinh theo sự biến đổi của đời sống. Nó phiêu bồng và chuyển dịch như cuộc đời của thi nhân.  Chính vì lẽ đó, Nam Chữ cho rằng: “Phần lớn, đề tài trong thi ca Bùi Giáng còn phức tạp hơn  cả người ta tưởng tượng được. Nó còn đảo lộn hơn cả cái người ta hiểu. Nghĩa là đã có một sức  cảm quan như vượt qua sự rung động thuận lời của cá nhân hơn là một con người”.(3). Vì vậy,  cũng theo Nam Chữ hành trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng cũng là một hành trình đi từ chối đến  tham dự, từ ngoại vi đến trung tâm … Và đây là một hành trình lâu dài. 

Ta hãy nghe Nam Chữ giải bày hết sức thành thực về hành trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng trong  đời sống văn học lúc bấy giờ: “Một trường hợp rất bi đát nhưng có thực trong đất nước Việt  Nam này, chúng ta có ngờ nỗi đâu một người suốt đời tận tụy với nghệ thuật, đã có hơn mấy  chục tác phẩmđược in ra (tiểu luận, phê bình, dịch, thi ca …) giờ đây lại thêm một mớ tóc trắng  phất phơ về chiều, trừ một số rất ít chịu thần phục, thơ ông, lại gần như không có độc giả …  Một vài tác phẩm, nhất là về thơ ca cái giá trị đúng mức của nó, lần đầu tiên xuất hiện đã không  được đón nhận rộn rịp như một số thi sĩ trước ông và sau ông vài năm. Thực ra phải đợi đến  nhiều năm, gần 10 năm sau tác phẩm thơ ca của ông ra đời người ta mới hốt hoảng và tìm đọc  lại những tác phẩm trước kia của ông”.(1) Phải chăng, đây cũng là qui luật hằng thường trong  tiếp nhận các hiện tượng văn học của người đời. Đến nỗi, một thiên tài như Nguyễn Du mà  còn phải thở than: Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như … nghe sao mà  chua chát thế. 

Và cũng theo Nam Chữ, cách lập ngôn của Bùi Giáng “là cách ông muốn im lặng đến cùng.  Ông muốn nói một thứ tiếng nói im lặng, chẳng ai hiểu ông cả. Trừ phi một người nào đó trong  chúng ta cùng đứng trên vực thẳm lặng lờ như ông, cùng nhìn xuống đáy sâu không đáy kia.”.(2) Theo chúng tôi, cái im lặng của Bùi Giáng là im lặng của một người đã đốn ngộ. Và ông dùng  thơ ca để chuyển tải sự im lặng của mình như một ứng phó trước những nhiễu nhương của cuộc  đời mà ông chỉ dự phần như một kẻ bên lề.  

_______________________________________________________________________________ 

(2). Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Lá Bối xuất bản, Sàigòn 1973, tr. 563 (3) Nam Chữ, Bùi Giáng, về cố quận, Văn 11, ra ngày 18/5/1973, tr. 43. 

(1) Nam Chữ, Bùi Giáng, về cố quận, Văn 11, ra ngày 18/5/1973, tr. 43. 

(2) Nam Chữ, Bùi Giáng, về cố quận, Văn 11, ra ngày 18/5/1973, tr. 48.

19 • Tân Hình Thức 

Song, cuộc đời đã không để Bùi Giáng sống trong lặng im. Bởi càng ngày, người yêu thơ Bùi  Giáng, người quí mến, kính trọng văn tài của Bùi Giáng càng nhiều và luôn có sự tiếp nối giữa  các thế hệ mà Hội thảo khoa học kỷ niệm 15 năm ngày mất của ông hôm nay là một minh  chứng. Đây có phải là niềm hạnh phúc với ông chăng?! Bởi như Trần Tuấn Kiệt trong bài viết  chung quanh vấn đề Bùi Giáng đã xác quyết: “Ta có thể so sánh con người Bùi Giáng ngày nay  với Đức Phật thời Ngài mới bắt đầu thuyết pháp ở vườn Lộc Uyển. Trong khi đó ma vương quỉ  sứ và môn đệ Bà La Môn giáo đến châm chích đủ điều. Nhưng Đức Phật vẫn là Đức Phật và  ma quỉ gì đó vẫn là ma quỉ”.(1) 

3. Có thể nói, Bùi Giáng hiện hữu giữa đời như một ngôi sao lạ, mà theo thời gian, hào quang  của nó chắc chắn sẽ còn mãi tỏa sáng. Cuộc đời và văn nghiệp của ông có thể còn những uẩn  khúc, những bí mật cần được giải mã. Song một điều, ai cũng phải thừa nhận đó là tài năng của  ông. Những năm tháng còn “làm kiếp con người” (từ dùng của TCS), Bùi Giáng chẳng có gì:  học vị, học hàm, địa vị xã hội, tài sản … nghĩa là ông không có một chút lợi danh gì cả ngoài  những ngày tháng phiêu bồng. Ông là một người “vô sản” đúng nghĩa chứ không phải là những  người “vô sản” chỉ được phủ một lớp vỏ danh từ. Nhưng tài sản mà ông để lại cho đời thật vô  giá nhất là sự nghiệp thơ ca của ông mà nói như Tạ Tỵ: “Bùi Giáng không nói gì cả, nhưng toàn  bộ thi phẩm của Bùi Giáng đã khơi động một trời thơ rộng rinh, bát ngát. Thi nhân không dấn  thân vào đâu hết, coi cuộc đời như cõi dong chơi tạm bợ. Làm thơ cũng là đi vào thơ như đi vào  cõi vô định. Không có chọn lựa hay thử thách chỉ có xúc cảm và ngôn ngữ giao thoa, diễn đạt  những gì ám ảnh trong hồn”.(1) 

Văn nghiệp của ông dù trải qua những biến thiên của cuộc sống nhưng nó vẫn vượt qua mọi  giới hạn, mọi rào cản của đời sống chính trị và xã hội để tồn sinh với cuộc đời. Bởi lẽ, cái làm  nên giá trị văn chương của Bùi Giáng không chỉ có ở tài năng của ông mà còn ở tấm lòng của  ông đối với quê hương đất nước. Và theo Trần Hữu Cư cảm hứng “tư cố hương” là một niềm  khắc khoải không nguôi trong thơ Bùi Giáng. Vì vậy, “Tất cả những gì ông làm trong thơ, viết  lách, dịch thuật v.v… tất cả đều làm một cuộc lên đường tìm lại một “màu hoa trên ngàn”, một  “tình yêu quê hương” có thời hiện tại, thời mà chúng ta đang sống trong nỗi mất quê hương”. 

(2) Phải chăng đây là cái gốc tạo nên hệ giá trị nhân bản của mọi sáng tạo nghệ thuật của Bùi  Giáng trong đó có thơ ca mà theo Cao Thế Dung đó là “biết yêu sự thực, biết quí trọng những  gì cao đẹp trong con người, tình yêu, nghệ thuật”.(3) 

Chính giá trị nhân bản này là bệ phóng chấp cánh cho hành trình sáng tạo của ông và nó cũng  là nhân tố kết nối ông với cuộc đời, với con người, làm cho văn nghiệp của ông nói chung và  thơ ca nói riêng sẽ vượt lên mọi giới hạn để mãi mãi tỏa hương trong cuộc đời. Và có thể nói,  Bùi Giáng là người đã vượt qua giới hạn của vận mệnh con người và định mệnh nghệ thuật để  vươn đến sự bất tử thường hằng như những câu thơ giản dị mà đầy tính triết học của ông: 

___________________________________________ 

(1) Trần Tuấn Kiệt, Chung quanh vấn đề Bùi Giáng, Văn 11, ra ngày 18/5/1973, tr. 79. (1). Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Lá Bối xuất bản, Sàigòn 1973, tr. 587 (2) Trần hữu Cư, Bùi Giáng tên đường về cố hương, Văn 11, ra ngày 18/5/1973, tr. 56. (3) Cao Thế Dung, Văn học hiện đại thi ca và thi nhân, Quần chúng xuất bản, Sàigòn 1969, tr.42.

Báo Thơ • 20 

Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu 

Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa 

Gọi tên rằng một, hai ba 

Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm. 

Xóm Đình An Nhơn, Gò Vấp: 16/8/2013 

(Tham luận tại Hội Thảo Khoa Học về Bùi Giáng do Trường ĐHKHXHNV Tp.HCM và Gia  tộc họ Bùi tổ chức tại Trường ĐHKHXHNV Tp.HCM tháng 9/2013 và đăng trên tạp chí Sông  Trà số 47/2013) 

Trích trong cuốn “Văn hóa – Văn chương & hành trình sáng tạo”, tiểu luận phê bình của Trần  Hoài Anh, nhà xuất bản Thanh Niên, 2014. 

___________________________________________________ 

THÔNG BÁO 

____________ 

Thân mời quí bạn tham dự sinh hoạt và gửi sáng tác cho Báo Thơ, qua email: baogiaytan hinhthuc@gmail.com. Sáng tác bao gồm đủ loại thơ từ vần điệu, tự do đến Tân hình thức Việt. 

“Thơ Tân hình thức Việt “Dùng lại những thể thơ 5, 7, 8 chữ lục bát, tượng trưng cho truyền  thống thơ Việt, thu nạp các yếu tố: tính truyện, ngôn ngữ đời thường, vắt dòng từ thơ truyền  thống Anh, và kỹ thuật lặp lại từ thơ tự do Mỹ. Kỹ thuật lặp lại cặp đôi bằng trắc, vừa tạo nhịp  điệu, vừa tạo vần ở bất cứ chỗ nào trong bài thơ, trở thành sức mạnh cho thơ Tân hình thức  Việt. Nhưng với điều kiện, người làm thơ phải có khả năng phối hợp với các yếu tố khác, cảm  xúc ý tưởng chẳng hạn, để người đọc không nhận ra đó là kỹ thuật. Như vậy, từ khởi đầu,  thơ Tân hình thức Việt đã chủ trương nối kết giữa thơ truyền thống và thơ tự do hiện đại, đi xa  hơn, giữa thơ tiếng Anh và thơ tiếng Việt, giữa nền văn hóa này và nền văn hóa khác, cũng có  nghĩa là nối kết giữa bán cầu não trái và phải trong sáng tác.” (Trích “Vũ Điệu Không Vần”) 

Đồng thời, những nhà họa sĩ cũng có thể gửi tranh đăng trên trang 1/ Báo Thơ. Trân trọng, 

Báo Thơ

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: