Jonah Blank: Tội tổ tông của cuộc chiến Afghanistan (Chuyển ngữ: Trùng Dương)

Jonah Blank: Tội tổ tông của cuộc chiến Afghanistan (Chuyển ngữ: Trùng Dương)

Lời giới thiệu:
Từ nhiều tuần qua tôi theo dõi, với một trái tim nặng nề, tin tức quân Hoa Kỳ và các đồng minh NATO rút khỏi Afghanistan sau 20 năm chinh chiến tại đây. Đồng thời như thấy mình sống lại những ngày cuối tháng Tư 1975 tại Miền Nam. Tôi hiểu Tổng thống Biden không thể làm khác vì người tiền nhiệm của ông, cựu TT Trump, đã tuyên bố rút khỏi Afghanistan, và ông Biden có trách nhiệm phải thực hiện cuộc rút quân này để chấm dứt cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ. Tôi cũng vui khi nghe chính quyền của ông Biden sẽ không vận những người Afghan đã từng giúp quân đội Mỹ ra khỏi nơi đây để tránh họ bị tàn sát bởi quân Taliban một khi họ có thể tái chiếm quốc gia này. Nhưng cái gì sẽ xẩy ra cho người dân Afghan, nhất là giới phụ nữ, nếu quân Taliban chiếm lại Afghanistan và tái áp dụng luật Hồi giáo hà khắc Sharia?Cựu TT Bush, người khởi động hai cuộc chiến tại Afghanistan năm 2002 và Iraq năm 2003, cách đây vài ngày đã lên tiếng, trong một cuộc phỏng vấn của hãng truyền thông DW của Germany, tỏ ý lo ngại cho phụ nữ Afghan sẽ bị đưa trở lại vào vòng kềm kẹp của Taliban. “Họ sẽ bị bỏ rơi và sẽ bị tàn sát bởi những tên hung bạo này, và điều đó làm tan nát lòng tôi,” ông Bush nói, có vẻ thành thực, thành thực cả trong việc có lẽ ông đã quên một mảnh lịch sử do chính ông và phe “diều hâu” của ông tạo nên. Tôi thực tâm muốn khóc khi nghe ông nói thế. Song tôi cũng không khỏi nghĩ tới việc chính vì ông và các tay hiếu chiến trong chính quyền của ông đã khởi động cuộc chiến không cần thiết ở Iraq và do đấy “bỏ rơi” mặt trận Afghanistan, nên nay mới ra nông nỗi.Bài chuyển ngữ dưới đây từ một bài viết đăng tải từ tháng Tư năm nay trên tạp chí The Atlantic, “The Original Sin of the War in Afghanistan” (Tội tổ tông của cuộc chiến Afghanistan) của tác giả Jonah Blank. Ông Blank nguyên là một cố vấn chính sách trong vùng Châu Á bao gồm cả Afghanistan trong thời gian xẩy ra vụ tấn công 9/11. Sau khi quân đội Mỹ và đồng minh NATO lật đổ chế độ Taliban và đặt tổng hành dinh tại đây, ông Blank đã tiếp tay cố vấn các công trình nhằm ổn định tình hình chính trị và cải thiện đời sống của dân Afghan trong một thời gian đầu kéo dài chưa tới hai năm thì chính phủ của TT Bush khởi động cuộc chiến tại Iraq nhằm theo đuổi một mục tiêu hạn hẹp, thay vì củng cố lực lượng chống khủng bố từ Afghanistan, vốn là mục tiêu hàng đầu của việc Mỹ khi đem quân vào quốc gia này. Bài viết vẽ lại bối cảnh hậu trường chính trị trong giai đoạn đầu của cuộc chiến Afghanistan mà ta có lẽ đều đã quên hoặc không được biết chi tiết hồi ấy, và công cuộc canh tân ngắn ngủi của Hoa Kỳ tại nơi nguyên là sào huyệt của quân khủng bố al-Qaeda, là tổ chức đã tấn công vào lãnh thổ Mỹ ngày 9 tháng 11 năm 2001. Tác giả Blank cũng bầy tỏ ở cuối bài một niềm hy vọng—tuy có vẻ mong manh, song vẫn là hy vọng– trong bối cảnh khá bi quan cho dân Afghan trước việc Mỹ và đồng minh rút khỏi vùng đất nhiều khổ đau này. Bài viết cũng mô tả thái độ của TT Biden khi còn là một thượng nghị sĩ đối với hai cuộc chiến này, và suy diễn của tác giả về việc TT Biden sử dụng quân lực Mỹ thận trọng hơn trong những năm tới.
lLà người Việt đã từng có kinh nghiệm về các nỗ lực kiến quốc trong thời chiến của Miền Nam, để rồi cuối cùng phải bỏ nước ra đi, ta không thể không đồng cảm với dân Afghan khi đọc bài này. Xin thành khẩn cầu mong vẫn có sự tốt lành may mắn đến với dân tộc Afghan, nhất là giới phụ nữ. — Trùng Dương

***

Tội tổ tông của cuộc chiến Afghanistan

Ông Biden đã trang bị cho những ý niệm trên bằng sự thực tại chỗ sớm hơn bất cứ vị dân cử nào. Vào ngày 10 tháng Một, 2002, chỉ vài tuần sau khi quân Taliban chạy khỏi Kabul, ông tới Afghanistan cho một chuyến tham quan thu thập thông tin dài bốn ngày. (TNS John McCain trước đó đã được phép thăm viếng, song chỉ được vài tiếng và phần lớn thời gian bị hạn chế trong vòng đai căn cứ không quân Bagram). Chúng tôi tá túc ban đêm với Thủy quân Lục chiến tại tòa nhà đại sứ quán Mỹ đã bị bom phá hoại, và ban ngày thì đi quanh thành phố đã bị tàn phá bởi hai thập niên nội chiến. Trên một bức tường của tòa đại sứ, lồng trong mấy khung hình bám đầy bụi và kính rạn nứt là chân dung của Ronald Reagan và George Shultz–vị tổng thống và bộ trưởng ngoại giao thời toà nhà này được sử dụng lần cuối.
Chủ trương tiếp cận của ông Biden là nghiêng tới phía trước nhưng không kỳ vọng một cách thiếu thực tế: Đưa vào vừa đủ quân để diệt al-Qaeda và ngăn không cho Taliban trở lại cầm quyền trước khi một chính phủ được thiết lập; viện trợ đủ để giúp một dân tộc đã quá lầm than tan tác đứng lên được và tự lập; và các nỗ lực này phải là có sự góp sức của nhiều quốc gia. Có thể nào chủ trương này sẽ hữu hiệu?
Có—nó đã tỏ ra hữu hiệu. Trong khoảng hai năm sau khi quân Taliban bị lật đổ, và đó chính là con đường mà quốc gia này theo đuổi lúc đó. Vào tháng Tám 2002, tôi đi tới mọi ngõ ngách của Afghanistan, không có ông xếp của tôi cùng đi. Tôi tham quan Kandahar, Herat, Mazar-e-Sharif, và Kabul, do các tổ chức phi chính phủ (NGOs) dàn xếp và không cần phải có quân Mỹ hộ tống. Tôi thực hiện nhiều chuyến như vậy vào những năm sau này, nhưng không còn được đi lại tự do như trước. Cũng vậy là đối với cả dân Afghan lẫn người nước ngoài: Đó chắc chắn không phải là thời vàng son—nhưng lại có vẻ như tạo nền móng cho một thời.
Cái gì đã thay đổi sau năm 2002? Gọn trong một chữ: Iraq. Tập trung của chính phủ Bush bắt đầu chuyển hướng trong vòng vài tuần sau khi Taliban bị loại, và kế hoạch xâm chiếm Iraq chiếm ngự hết mọi quan tâm. Quá ít quân số tại Afghanistan có nghĩa là an ninh tại đây không thực sự được thiết lập; quá ít tài trợ được sử dụng có nghĩa là chính phủ còn non nớt sẽ không thể tạo được tín nhiệm nơi người dân của họ; quá ít quan tâm của giới lập chính sách Mỹ có nghĩa là một định chế cai trị tập quyền đem áp đặt trên một quốc gia chưa-hề-có-hệ-thống-tập-quyền-bao-giờ không thể ngăn được sự thoái hoá thành thói bao che dung túng bè phái, vô hiệu quả, và tham nhũng tràn lan. Sự thất bại vì [lúc đầu] đã không cung cấp đủ quân số, tiền bạc, và chỉ chú tâm vào bề nổi và kết quả là càng ngày càng phải tăng thêm quân số, đổ thêm tiền của, và thu hút sự tập trung dài theo cuộc chiến.
Khi quân Mỹ vượt biên giới vào Iraq, Afghanistan đã trở thành chuyện phụ của chính phủ Bush. Quân Taliban tái tập họp bên kia biên giới trong Pakistan và chẳng bao lâu trở lại tấn công. Osama bin Laden và các lãnh tụ al-Qaeda, sau khi tránh được mẻ lưới của Mỹ tại hang động Tora Bora, đã ẩn nép an toàn gần đó. Không có được sự hỗ trợ hiệu quả của Hoa Kỳ trong thời kỳ then chốt (vài năm đầu ít ỏi chính là lúc sự cam kết có cơ hội thành hay bại), cuộc thí nghiệm mong manh tại Afghanistan ít có cơ hội thành đạt.
Có quá nhiều sự việc sai trái đã diễn ra trong những năm kế đó, và không thiếu sự trách cứ lẫn nhau. Tôi đã thấy ông Biden thất vọng ngày một gia tăng: thất vọng với chính phủ ông Bush, với tổng thống Afghan lúc đó là ông Hamid Karzai, với tất cả những vị cố vấn lẽ-ra-phải-là-thông-thái (và cả với các cộng sự viên hiển-nhiên-là-thiếu-thông-minh), những người này không biết phải làm cách nào để công trình tại Afghan tiển triển có hiệu quả.
Ông Biden thấy mình ở bước đường cùng trong chuyến công tác cuối cùng tôi đi với ông khi ông còn giữ chức chủ tịch [Ủy ban Đối ngoại Thượng viện] vào tháng Một 2009. Sau chuyến viếng thăm Tỉnh Kunar, nơi ông đã thấy cũng tình trạng dậm chân tại chỗ như đã thấy tại những căn cứ khác vào năm truớc đó, và bữa cơm tối với TT Karzai và cuộc trao đổi gượng ép tương tự như lần viếng thăm trước, ông kết luận là không thể tiếp tục rơi vào các lỗi lầm trong những năm tới. Ông đã đi trước thời thế: Trên chục năm sau, nhiều nhân vật trong chính quyền Mỹ vẫn chưa muốn bỏ Afghanistan.
Cái gì sẽ xẩy ra bây giờ đây? Hoa Kỳ có một món nợ đạo đức đặc biệt đối với hàng ngàn người Afghan đã liều mạng cộng tác với quân đội và dân chính Mỹ, và họ (cũng như những người Iraqi trong cùng hoàn cảnh) phải được giúp di cư nếu họ muốn. [Việc này đã được giải quyết gần đây khi chính phủ Biden tuyên bố sẽ bắt đầu di tản thành phần này bắt đầu vào cuối tháng Bẩy.–TD]
Thế nhưng câu hỏi lớn hơn là cái gì sẽ xẩy ra cho chính quốc gia Afghanistan. Cái đó tùy thuộc nơi người dân Afghan, như trước kia vẫn thế. Dân Afghan sẽ phải rèn tạo lấy tương lai mình trong những tình huống khó khăn hơn nhiều so với trước nếu cái xã hội dân sự mong manh của họ đã có được cơ hội đâm rễ một thập niên về trước. Cái khoảng không gian cần thiết cho việc mọc rễ ấy, tiếc thay, đã không được đáp ứng vì nguồn tài trợ của Hoa Kỳ đã bị đem đổ vào cuộc chiến Iraq.
Có nhiều triển vọng Afghanistan sẽ lại rơi vào một tình trạng vô chính phủ đẫm máu của thập niên 1990. Thế nhưng cũng có nhiều triển vọng là việc đó sẽ không xẩy ra. Như Phó TT Amrullah Saleh gần đây nhận định là Afghanistan hiện đã có một thế hệ lớn lên không bị Taliban kềm kẹp, và họ sẽ không dễ dàng để mất các quyền tự do đã có. “Số phận của đất nước chúng tôi,” ông nói, “không nằm trong chuyến bay trực thăng cuối cùng của Mỹ.” Việc rút quân của Hoa Kỳ không cùng ra đi với sự hỗ trợ của Mỹ đối với chế độ mà, mặc dù những khuyết điểm của nó, vốn vẫn là một chính quyền tạm coi như hữu hiệu nhất mà Afghanistan có được từ khoảng nửa thế kỷ qua, và là một chính quyền có tính đại diện của nhiều thành phần xã hội nhất trong lịch sử.
Hôm nay, chân dung treo trong toà đại sứ là của TT Biden và Bộ trưởng Ngoại giao Antony Blinken–người đã trở thành chánh văn phòng của ông Biden ở Thượng viện khoảng một năm sau chuyến tham quan Afghanistan năm 2002, và là người đã giúp định hướng cái nhìn về Afghanistan của ông Biden từ đó. Nếu chính phủ ông Biden tài trợ Afghanistan đủ, theo sát việc quản trị, và dùng áp lực ngoại giao trên các láng giềng ưa xen vô chuyện của quốc gia này, thì có thể giúp chính quyền của TT Ashraf Ghani vượt qua các thử thách xuông xẻ hơn là những kẻ bi quan vẫn lo ngại. Với một chú tâm và nỗ lực, khi ông Biden rời văn phòng tổng thống, có thể chân dung của ông cũng vẫn còn treo tại toà đại sứ ở Kabul.
***
Jonah Blank tốt nghiệp ngành sử tại Đại học Yale và tiến sĩ nhân chủng học tại Đại học Harvard. Ông là một tác giả, nhà báo và chuyên gia về chính sách đối ngoại, chú trọng tới các vấn đề văn hoá và lịch sử thuộc vùng Nam Á châu gồm các nước như Bangladesh, Bhutan, India, Nepal, Pakistan and Sri Lanka, và Maldives.
Nguyên tác:
How the War in Iraq Cost America Afghanistan – The Atlantichttps://www.theatlantic.com/ideas/archive/2021/04/biden-iraq-invasion-america-afghanistan/618640/

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: