CHIẾC XÍCH LÔ GIÀ – Diên Nghị

CHIẾC XÍCH LÔ GIÀ

Chiếc xích lô già
bên đường say ngủ
năm tháng dần qua
mộng nào ấp ủ ?!!
Chiếc xích lô già
hào hùng nhịp bốn
khúc“Đường Trường Xa”
một thời vang vọng
Chiếc xích lô già
ắp đầy chí cả
bão táp mưa sa
hiểm nguy nào sá
Chiếc xích lô già
bàn tay nghiệt ngã
xơ xác chiến bào
cánh chim thiêng rã
Chiếc xích lô già
chở niềm cơ cực
chở cả sơn hà
lầm than địa ngục
Chiếc xích lô già
người kêu kẻ gọi
cứ ngỡ như là
thanh âm đồng đội
Chiếc xích lô già
đìu hiu quán vắng
chén chú chén ta
quên niềm cay đắng
Chiếc xích lô già
ngậm ngùi nước mắt
nắng ngủ trên da
nụ cười đã tắt
Chiếc xích lô già
hỡi ôi chiến sử
quốc quốc gia gia
máu bầm còn ứ
Chiếc xích lô già
nửa nghề nửa nghiệp
chiếc xích lô già
bao giờ hóa kiếp ?!!!

Dzạ Chi
MùaThu1986

CHIẾC XÍCH LÔ GIÀ
của Dzạ Chi

Sau năm năm lao động khổ sai,bầm dập,đoạ đày trong trại tù cải tạo giữa rừng núi miền Nam, người tù Dzạ Chi trở về ngơ ngác, lất thất nhìn thành phố Sài Gòn qua cơn mộng dữ…Đường phố hoe hắt, thưa thớt dáng người, xe cộ vắng bóng, hàng hóa sản phẩm khan hiếm.Ngoại cảnh phủ màu hư hao, khốn đốn. Bảy năm trước Sài Gòn tráng lệ, phồn thịnh, rộn ràng, nhịp sống vươn trãi theo đà phát triển hài hòa ,xã hội văn minh.Nay Sài Gòn chẳng khác con bệnh nan y, rủ liệt, đang chờ đợi phút lâm chung.Người Sài Gòn trên môi héo hắt nụ cười, thầm thì, rủ rỉ : “Cộng Sản đến đâu mang theo đói nghèo khốn khó đến đó !!”
Hoang mang,ngột ngạt trong vòng vây vô sản chuyên chính,thân thuộc ly tán, bè bạn cách chia, mình đã xa lạ với mình, thực tại bi đát cướp mất niềm tin thường hằng con người vẫn tin và hy vọng qui luật biến dịch của Hóa Công.
Hai bàn tay trắng, Dzạ Chi lãng mạn mơ ước một cuộc vượt đại dương, hoặc phải tìm về nơi bắt đầu tiếng khóc, nơi đó, ắt ra cũng còn khoảnh đất dung thân, dù quê hương Quảng Trị trãi qua khói lửa ngút ngàn, máu và nước mắt lênh lang thấm ướt những địa danh lịch sử.
Quê hương Quảng Trị, khoảnh khắc nào được ân huệ thanh bình thì địa l‎ý, thiên nhiên cũng chưa hề hứa hẹn (Vườn ruộng khô cằn cỏ mọc đồng hoang) va` thời tiết khắt khe đã an bài định mệnh:
Có bốn mùa thì hai mùa lụt lội
Có một chiếc cầu thì nửa Bắc nửa Nam
(Cha Sẽ Đưa Con Về)
Bản năng sinh tồn kéo dựng hồn thơ dậy.Đêm, từng đêm chìm lắng, buông bả, rã rời, chỉ còn vẳng đọng âm thanh đơn điệu “ cơm,áo,gạo,tiền”.Sáng mai,mặt trời mọc, nhịp sống lại khởi đầu một ngày. Con người, bầy người tất bật, lao vào vòng quay xã hội người, mưu sinh cách này cách khác, giành giật, đua tranh, bươn chải…
Ý thức hệ mác xít dùng luận điểm đấu tranh giai cấp nhằm tiêu diệt giai cấp, xua đuổi, quăng ném con người, biến đổi con người đến tàn bạo, kinh hoàng.
Ra khỏi ngục tù cải tạo, dấu vết thương tích ít nhiều hằn sâu cơ thể nhưng não trạng vẫn không hề suy suyển, tế bào nhạy cảm cũng chẳng hao mòn.Con người trong môi trường đày ải, đã nhận thức í nghĩa bản thể và cuộc đời.Vì đời mà phấn đấu, tồn tại và luôn lắng nghe, cổ vũ rằng đời không dung thứ những kẻ yếu hèn, hãi sợ.
Ngả rẽ một đời mở ra trước mặt, Dzạ Chi nhập cuộc, thân thiết gắn bó với chiếc xích lô già, xuôi ngược đi về trên những cung đường dài, ngắn, gần, xa.
Đổ mồ hôi lao động nhọc nhằn đổi lấy áo cơm, thực tại bẽ bàng, trần trụi, xô lùa ước vọng lùi dần, mờ nhạt, chỉ mỗi khi dừng xe bên đường mỏi đợi khách cần, giấc ngủ vùi chợt đến, cùng giấc mộng đời ấp ủ, ẩn hiện lan man ( năm tháng dần qua, mộng nào ấp ủ..)
Mộng xây nên từ trạng thái tình cảm nghịch chiều với thực, con người trốn chạy cái thực, ẩn mình trong cái mộng.Thế giới thực tàn nhẫn,bội bạc, bất an, mà thế giới mộng khả dĩ hóa giải, đền bù, an ủi được.
Chiếc xích lô già củ kỷ, ọp ẹp, ì ạch trên những con đường, phố xá được phóng nhìn bằng cái nhìn nội giới, sáng lên hiện tượng quá khứ thời gian với những động tác, những âm thanh tái hiện của đoàn quân đang di hành, ca hát:
Chiếc xích lô già
Hào hùng nhịp bốn
Khúc “Đường Trường Xa”
Một thời vang vọng
Đoàn quân ấy trui rèn trong khói lửa chiến chinh, chí khí được tôi luyện từ l‎ý tưởng cao cả của tự do và quyền sống. Đoàn quân ấy đã chịu đựng, thử thách gian nguy, còn mất…Đoàn quân ấy đã bước qua nỗi chết và lớn dậy chiến công: Chiếc xích lô già
Ắp đầy chí cả
Bão táp mưa sa
Hiểm nguy nào sá
Khi biểu đồ niềm tin đang vọt lên đỉnh cao, đồng thời triết l‎ý thành bại lần nữa trãi rộng thể nghiệm “ mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” do một bàn tay đủ ma lực phù thũy độc địa quyết định, tàn phá cả sự nghiệp giữ nước của một dân tộc yêu chuộng tự do, công l‎ý.Bàn tay nghiệt ngã đã xé nát chiến bào, rã tan đàn chim cùng tổ .Chiếc xích lô già hiện hữu, hiện thân số phận con người thua thiệt sau cuộc chiến giữa quê hương. Sớm chiều,đêm khuya, xe chở khách, chở hàng hóa thông thường, sức chở nặng nề, quá tải từ niềm cơ cực của con người, của cả sông núi thiêng liêng đang đắm chìm giữa địa ngục lầm than có thật:
Chiếc xích lô già
Chở niềm cơ cực
Chở cả sơn hà
Lầm than địa ngục
Người lính thất trận.Thú nhận thất trận là ‎ý thức trách nhiệm của chính mình.Ý thức có chiều hướng như triết gia Husserl từng đề cập. Người lính thất trận khỏi tự biện minh, không đổ trách nhiệm chung cho bất cứ ai mà thành thật nhìn nhận để mong chia xẻ, tha thứ.
Tâm trạng bản thể trách nhiệm đầy vơi tiếc nuối khung trời màu xanh tuổi trẻ, và khắc họa thời gian hồi niệm bằng độ ánh sáng tươi hồng.Nhục vinh đời chinh chiến hồi chiếu tư. hào và kinh nghiệm bản thân, tăng cường lực đẩy vòng quay bánh xe đang trên đà vươn tới tựa nhịp bốn hào hùng,và cảm nhận nhịp bốn hào hùng ắt không thể quên khúc hát “Đường Trường Xa” vang vọng.
Chiếc xích lô già của Dzạ Chi là ngăn tủ cất giữ tâm trạng,tâm tình cùng cảm xúc suốt quá trình thế cuộc chênh vênh, nghịch lý.Chiếc xích lô già cũng là bạn đồng hành, tâm giao, hòa chung mọi nỗi đời, và giúp đở, cậy nhờ nhau qua những khi khốn khó.Tránh cơn nắng trưa hè gay gắt, né những trận mưa rào chợt đến, những lúc nào đó dựa mình trong quán vắng đìu hiu, chia sớt chén trà, chén rượu, vùi quên mọi sự, gạt ra bên lề cay đắng tình đời, quay lưng trước thực tại, để trở lại với chính mình trong trạng thái tỉnh thức, vớt vát một an ổn đời thường:
Chiếc xích lô già
Đìu hiu quán vắng
Chén chú chén ta
Quên niềm cay đắng
Tiếng người kêu, tiếng kẻ gọi lao xao thăm hỏi đường, trả giá một chuyến xe, tiếng khách lạ, tiếng kẻ chưa hề quen cũng gần gủi, cũng lịch sự, dịu dàng trao đổi, cứ ngỡ xung quanh còn đồng đội, bạn bè, âm thanh thân thiết rộn ràng mới ngày nào trong đơn vị, cùng cận kề nhau, buồn vui chia xẻ, chưa biết trong tư thế sẵn sàng đáp ứng mọi bất trắc chinh chiến :
Chiếc xích lô già
Người kêu kẻ gọi
Cứ ngỡ như là
Thanh âm đồng đội
Bằng ảnh tượng đậm nhạt qua màn ảo giác, lận đận, lẽo đẽo khát vọng từng phút từng giờ dưỡng khí hạnh phúc mà ý thức đã báo động rằng : đây là thế giới không thích nghi với con người.Con người tồn tại bị xô đẩy vào chốn đọa đày, phải câm nín chấp nhận.
Bao lâu còn vất vưởng nơi rủi ro lạ lẫm này, tiếng khóc, lời than đã át cả giọng cười.Nước mắt lênh lang như biển cả !! Khi con người tắt lịm nụ cười đồng nghĩa với mất tính người. Nụ cười _ cánh cửa của hy vọng, của dung thông, liên kết đồng loại. Không còn hứng thú nở nụ cười, hoặc phải gượng gạo kẻo là,còn mang í nghĩa nhịp cầu giao cảm giữa người và người đã gãy đổ, cách ngăn :
Chiếc xích lô già
Ngậm ngùi nước mắt
Nắng ngủ trên da
Nụ cười đã tắt
Một thế hệ tiếp nối đứng lên làm lịch sử, sau khi đất nước chia hai (1954).Bắc Nam, hai chế độ chính trị đối lập. Bên tự do dân chủ, bên cộng sản độc tài. Miền Nam nổ lực xây dựng, phát triển xã hội, văn hóa, kinh tế trong hòa bình.Miền Bắc xâm nhập, nằm vùng quấy phá, triệt hạ, giết chóc, cho đến ngày lịch sử bị dày xéo, hiếp đáp, và quê hương rã rời í nghĩa yêu thương, dân tộc đắm chìm khổ nạn.
Thế hệ Miền Nam đồng thanh gióng một tiếng than: “ Hởi ôi chiến sử”.Sự nghiệp quang vinh bao năm bỗng tàn tạ một sớm mai. Hởi ôi đất nước, hởi ôi chiến sử. Máu bầm còn ứ trong mỗi một tay súng bảo vệ quê hương. Máu ứ vết thương, máu ứ nợ nần kiếp này khó trả….
10 khổ thơ tứ tuyệt, cấu trúc nhịp 4 mỗi câu, tròn như vòng xe chuyển động, lập lờ nỗi gian nan, trăn trở của con người mượn “ Chiếc Xích Lô Già” làm biểu tượng, gửi gắm và thổi vào cảm xúc đồng điệu.
Chiếc xích lô già, câu đầu mỗi khổ thơ, chủ thể của cam chịu số phận.Suốt chiều dài những ngã đường qua lại, đi về như một điệp khúc trầm bi, mơ về cuộc chuyển đổi, hóa thân thành khẩn, tựa hồ lời sám hối trước Chúa Trời của con chiên ngoan đạo: “ lỗi tại tôi_ lỗi tại tôi mọi đàng…”.
Gò lưng đạp xích lô qua ngày tháng, ngẩng nhìn thực tại với đôi mắt u hoài, và ngoái lui quá khứ với ám ảnh dày dặc nuối tiếc. Chiếc xích lô già không tiềm mặc tham vọng, thương thân phận dở dang ( chiếc xích lô già, nửa nghề nửa nghiệp ) thiếu điều kiện sống, thầm than trách nghiệp dĩ đèo bồng, bám víu gần triết lí nghiệp chướng của Đức Phật dạy.
Những khoảnh khắc thức tỉnh đời người hiển hiện trong bài thơ, đã cống hiến một cơ duyên về vấn nạn ( bao giờ hóa kiếp ?! ).
Chia tay chiếc xích lô già, người bạn đường giữa cơn bỉ cực, cuộc hóa kiếp rạng ngời phép lạ thần linh.Miền đất cơ hội, hứa hẹn thế giới tự do đón mừng con người thất trận đến từ địa ngục trần gian, sau những năm dài trả nợ ma quỷ trong trại tù cải tạo, cùng những năm dài biến hình cùng đinh mạt vận ngay giữa thành phố thân quen của quê nhà.
Thời gian, thời điểm “ bao giờ ” đã được xác định. Rủ bỏ nhẹ nhàng cái Nghiệp_ Bắt đầu viên thành cái Nghề trước mặt, lồng lộng tin yêu…

DIÊN NGHI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: