Cao Quang Nghiệp – Người thứ bảy trong Tự Lực Văn Đoàn là ai? (2)

Cao Quang Nghiệp – Người thứ bảy trong Tự Lực Văn Đoàn là ai? (2)

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2012

Hay thử hóa giải “Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn”[1]

Cao Quang Nghiệp

Cả sau này, khi ở miền Nam Nhất Linh có lập ra nhà xuất bản Phượng Giang để in những sách mà trước kia nhà in Đời Nay cho xuất bản ở Hà Nội, trong đó có cả ‘sách của Tự lực văn đoàn’ và ‘sách ngoài’. Những sách nào của TLVĐ ông đều chua thêm ‘Trong Tự Lực Văn Đoàn’ dưới tên tác giả, trong khi đó dưới tên Trần Tiêu không có ghi chú này (Xin xem ảnh minh họa 8 và 9).


Ảnh minh họa 8: Trang bìa Con Trâu
[70]  
   Ảnh minh họa 9: Trang bìa Sau lũy tre[71]

Ở đây cũng cần nói rõ thêm rằng, TLVĐ có tất cả hai con dấu, chứ không phải chỉ một, như Tú Mỡ đã nhầm[72]. Một con dấu hình tròn, đóng khung hai chữ T và L xếp thành chữ triện. Đó là con dấu riêng của TLVĐ. Ngoài ra nhà in Đời Nay cũng có một con dấu riêng, được tạo thành bởi hình con chim đại bàng giương cánh bay trên làn sóng[73]. Vì lẽ này mà có một vài vị nhầm rằng, nếu trên sách của những người nào đã được TLVĐ trao giải thưởng, được nhà Đời Nay xuất bản và được đóng hai con dấu ấy vào, thì cho rằng người đó là thành viên của TLVĐ. Thật ra không phải như vậy, vì khi đăng tin “Giải Thưởng Văn Chương Tự Lực Văn Đoàn” thì ban giám khảo đã rất cẩn thận khi đề: “[C]uốn sách được thưởng vẫn thuộc quyền sở hữu tác giả và được Tự-lực Văn-đoàn nhận đặt dấu hiệu, nếu đó là ý muốn của tác giả. Người được sách thưởng không phải vì thế mà được nhận là người trong Tự-lực Văn-đoàn”[74].

2.4. XUÂN DIỆU LÀ THÀNH VIÊN THỨ 7 TRONG TLVĐ

Trường hợp Xuân Diệu thì khác. Những tác phẩm của ông đều có ghi dòng chữ ‘trong Tự Lực Văn Đoàn’ dưới tên Xuân Diệu (xin xem dòng B trong ảnh minh họa 4). Ngay cả khi giới thiệu tập Thơ Thơ của Xuân Diệu trên tuần báo Ngày Nay, nhà in cũng chua thật rõ tiểu đề này dưới tên Xuân Diệu (xin xem ảnh minh họa 10 và 11).


Ảnh minh họa 10: Mẩu quảng cáo Thơ Thơ
[75]

 


Ảnh minh họa 11: Trang bìa Phấn Thông Vàng
[76]

Rất tiếc, khi viết bài viết của mình tác giả Đặng Trần Huân chưa có dịp đọc qua những số báo của Ngày Nay và ấn phẩm lần đầu tiên của Thơ Thơ nên mới không biết mà viết rằng “[N]ăm 1938 khi in Thơ Thơ cũng chưa thấy giòng chữ Trong TLVĐ ghi dưới tên tác giả Xuân Diệu”[77]. Như vậy, ở đây chúng ta có thể khẳng định rằng, trễ nhất là đến ngày 24 tháng 12 năm 1938 Xuân Diệu đã chính thức làm thành viên của TLVĐ, chứ không như nhà nghiên cứu Đặng Trần Huân đã nhầm khi cho rằng Xuân Diệu được kết nạp vào TLVĐ sau 1940[78].

Ngoài ra, nếu có ai tinh mắt và quen mặt Xuân Diệu thì khi nhìn bức ảnh minh họa 1 ở trên sẽ dễ dàng nhận ra người ngồi thứ hai, tính từ bên trái sang, đó là anh chàng thi sĩ có mái tóc ‘đầu mây gợn’[79] đã trở thành một nét riêng, không thể nhầm lẫn, mà đã được chính thi sĩ Xuân Diệu làm nét đặc thù để tự hoạ về mình.

Ngoài ra trong bài viết “Bỗng dưng thi sĩ hoá … Tây đoan” của Lê Ta (tức Thế Lữ), đăng trên tuần báo Ngày Nay trong mục “Tin văn … vắn”, dưới tiểu đề “Tin Trong Nhà”[80] có tả lại tiệc rượu tiễn đưa Xuân Diệu vào Mỹ Tho nhậm chức, có đoạn: “Bữa tiệc ấy có tất cả tám người: Hoàng Đạo, Nhất Linh, Thạch Lam, Huy Cận, Thế Lữ, Tú Mỡ, Khái Hưng và Xuân Diệu”[81]. Ở đây chúng ta dễ nhận ra rằng, trong buổi tiệc rượu đêm hôm đó, ngoài Huy Cận là bạn chí thân, khắn khít như hình với bóng của Xuân Diệu như chúng ta đều biết, thì không còn ai nữa ngoài những thành viên chính thức của TLVĐ. Thiết nghĩ, nếu đó chỉ là một buổi tiệc rượu tiễn đưa một người bạn hay một cộng tác viên bình thường như bao nhiêu cộng tác viên khác, thì TLVĐ, cũng như toàn soạn báo Ngày Nay và nhà xuất bản Đời Nay không những chỉ có bao nhiêu bạn bè đó thôi. Ít ra không thể thiếu những cộng tác viên đắc lực và bạn bè chí thân của họ như Nguyễn Cát Tường, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Trần Bình Lộc hay Đinh Hùng, Đoàn Phú Tứ và Trọng Lang. Và nếu Trần Tiêu cũng đã là thành viên của TLVĐ thì chắc không thể vắng mặt trong buổi tiệc rượu chia tay này.

Và như nếu chúng ta còn có một chút niềm tin vào ‘những nhân chứng sống’, mà trong nhiều trường hợp là chiếc phao cho những người sắp đuối sức, ngụp lặn trong biển thông tin hỗn độn như chúng ta hiện nay – dĩ nhiên là với tất cả sự cẩn thận của người làm nghiên cứu và sự dè dặt cần có trong việc đánh giá tài liệu – thì người duy nhất đáng tin là bác sĩ, nhà văn Nguyễn Tường Bách, người đã từng làm việc khắng khít với văn đoàn từ số 85, ngày 11 tháng 2 năm 1934 của tuấn báo Phong Hóa[82], hiện nay sống ở Mỹ. Chính cụ cũng nói rằng “TLVĐ có Xuân Diệu nhưng không có Nguyễn Gia Trí”[83].

2.5. BẰNG KHEN NHƯ KHÔNG LÀ BẰNG CHỨNG

Đến đây chắc sẽ có vị nào đó hỏi rằng, nếu TLVĐ thật sự có bảy thành viên và Xuân Diệu là thành viên thứ bảy, thì tại sao trong bằng khen, nói đúng hơn là “Lời Khen Tặng” của hội đồng Giải Thưởng Văn Chương Tự Lực Văn Đoàn năm 1939, gửi cho nữ sĩ Mộng Tuyết, đề ngày 11 tháng 6 năm 1940 (xin xem ảnh minh họa 12), chỉ có chữ ký của 6 thành viên trong TLVĐ mà không thấy chữ ký của Xuân Diệu[84]?   Điểm này là điểm hóc búa nhất trong xâu chuỗi cần được tháo gỡ.

Ảnh minh họa 12: “Lời Khen Tặng” của Giải Thưởng Văn Chương Tự Lực Văn Đoàn[85]

Nếu vị nào đã đọc kỹ bộ Hồi ký song đôi hai tập của Huy Cận thì biết rằng từ đầu năm 1940[86], thi sĩ Xuân Diệu đi Mỹ Tho làm tham tá thương chánh và ở đó đến hè năm 1942 mới về lại Hà Nội[87]. Ngoài ra chúng tôi còn tìm thấy một bài bút ký của Xuân Diệu, mang tựa đề “Giã từ tuổi nhỏ”, đăng trên tuần báo Ngày Nay, cuối bài có đề “Mỹ-tho mars 1940”[88]. Cũng vì lý do này mà Xuân Diệu viết bài tựa cho tập Lửa Thiêng của Huy Cận vào tháng 6 năm 1940 tại Mỹ Tho[89]. Và theo suy luận của chúng tôi thì cũng vì lý do cách trở địa lý này nên Xuân Diệu không thể nào cùng ký tên mình vào “Lời Khen Tặng” của Giải Thưởng Văn Chương Tự Lực Văn Đoàn được. Dĩ nhiên là ban giám khảo của Giải Thưởng Văn Chương Tực Lực Văn Đoàn cũng có thể gửi “Lời Khen Tặng” này vào Mỹ Tho cho Xuân Diệu, để Xuân Diệu ký rồi và gửi ra Hà Nội cho ban giám khảo. Nhưng có thể, hoặc vì thời gian gấp rút, hoặc vì mức độ quan trọng tương đối của một “Lời Khen Tặng” chứ không phải là bằng khen của giải thưởng, hay vì một lý do nào khác nữa, mà ban giám khảo đã không làm như thế. Khác với Xuân Diệu, Trần Tiêu lúc đó ở ngay tại Hà Nội và cộng tác thường xuyên với tuần báo Ngày Nay. Nếu Trần Tiêu đã là thành viên chính thức của TLVĐ thì thiết nghĩ ông cũng đã ký tên vào “Lời Khen Tặng” của TLVĐ cho nữ sĩ Mộng Tuyết rồi.

Nhưng có một điều thật thú vị liên quan đến chữ ký của Xuân Diệu: Theo Đặng Trần Huân thì “[N]ữ sĩ Cao Mị Nhân trong loạt bài Chốn Bụi Hồng ít ra đã hai lần nói rằng bà đã được coi tận mắt quyết định trao giải thưởng cho tập thơ Bức Tranh Quê của nữ sĩ Anh Thơ có chữ ký của nhà thơ Thế Lữ, Tú Mỡ và Xuân Diệu”[90]. Điều thú vị là nữ sĩ Cao Mị Nhân đã viết rất rõ là “quyết định trao giải thưởng” chứ không phải là bằng khen hay “Lời Khen Tặng” như của nữ sĩ Mộng Tuyết. Như vậy xem ra rất có lý, vì ba vị này là ba nhà thơ trong văn đoàn. Để đánh giá một tác phẩm thơ, thì còn ai trong văn đoàn có đủ thẩm quyền hơn ba vị này.

Ngoài ra, trong bài viết “Giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn” của tác giả Nguyễn Hữu Ngư đăng trên Bách Khoa, số 140, ngày 1 tháng 11 năm 1962 có viết rằng “[B]an giám khảo gồm có những thành viên trong Tự Lực văn đoàn. Hai kỳ đầu, có sau [sic] : Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ và Thế Lữ. Kỳ chót có thêm Xuân Diệu”[91]. Tuy tác giả Nguyễn Hữu Ngư không viện dẫn nguồn tài liệu nào cho thông tin này, nhưng nguồn thông tin này rất đáng tin cậy. Vì chính nhà thơ Tế Hanh, tác giả của tập thơ Nghẹn Ngào, thi phẩm đoạt giải thưởng Văn Chương Tự Lực Văn Đoàn năm 1939, trong bài viết “Nhớ lại những chặng đường thơ” cũng đã viết rằng: “Ban giám khảo của Tự Lực Văn Đoàn gồm 7 thành viên: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu. Giấy chứng nhận Giải thưởng của Tự Lực Văn đoàn được quấn tròn trong một đoạn trúc. Trên giấy có đủ chữ ký của bảy thành viên của Ban giám khảo”[92].

Nếu chúng ta tin được những thông tin mà nữ sĩ Cao Mị Nhân và nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Ngư cũng như nhà thơ Tế Hanh đã thông báo, thì tất cả những điều này đều củng cố thêm giả thiết rằng Xuân Diệu là thành viên thứ bảy của văn đoàn. Vì chúng ta không thể lập luận rằng “[S]ự kiện này cũng không chứng minh được Xuân Diệu là đoàn viên TLVĐ. Để chấm giải thơ, ngoài hai thi sĩ đoàn viên TLVĐ vẫn có thể mời thêm một thi sĩ thân hữu vào trong ban giám khảo lắm chứ”, như Đặng Trần Huân đã phát biểu[93]. Vì theo thể lệ chấm thi Giải Thưởng Văn Chương Tự Lực Văn Đoàn mà do văn đoàn đề ra thì “[V]ì chỉ thưởng những sách hợp tôn chỉ của đoàn, nên hội đồng chấm thi sẽ toàn là người trong Tự-lực-văn đoàn”[94].

Như vậy bằng khen của ban giám khảo Giải Thưởng Văn Chương Tự Lực Văn Đoàn gửi cho nữ sĩ Mộng Tuyết, ngỡ đâu là một làm bằng chứng hiển nhiên, nhưng rốt cuộc thì không làm chứng cho cái gì cả.

Đến đây chúng tôi hy vọng đã có thể kết luận rằng Tự Lực Văn Đoàn đến ngày 3 tháng 2 năm 1940 chỉ có 7 thành viên chính thức, đó là Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thế Lữ, Thạch Lam, Tú Mỡ và Xuân Diệu, như thông tin mà người sáng lập văn đoàn Nhất Linh đã để lại trong “Mấy lời nói đầu” của bản phác thảo Ký ức về đời làm báo.

Nếu có dịp chúng tôi sẽ trở lại với bài viết “Những con số xung quanh Tự Lực Văn Đoàn” để đính chính lại những sai lầm, ngộ nhận và bổ sung thêm những con số, dữ kiện không kém phần quan trọng có liên quan đến TLVĐ, chẳng hạn thời gian ra đời và (ngưng) hoạt động của TLVĐ, tuần báo Phong Hóa, tuần báo Ngày Nay và nhà xuất bản Đời Nay. Trong vấn đề này sự rối rắm và thiếu chính xác không thua gì vấn đề về con số thành viên của TLVĐ. Trong bài “Tự Lực Văn Đoàn” đăng trong tạp chí chuyên ngành Việt Học Annalen der Hamburger Vietnamistik (Việt Học Niên San) , số 1-2005 do phân Khoa Việt Học, Đại Học Hamburg xuất bản,[95] chúng tôi đã tiến hành một phần công việc này rồi.

Tưởng niệm nhà văn                    

Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam

nhân ngày sinh nhật thứ 100

  1. 07. 1906 – 25. 07. 2006

Hamburg, ngày 20  tháng 2 năm 2006  



Tài liệu tham khảo

  1. Annalen der Hamburger Vietnamistik (Việt Học Niên San). Engelbert, Thomas / Will, Gerhard (chủ biên). Hamburg, 2005
  2. Bùi Xuân Bào: Naissance et evolution du roman vietnamien moderne 1925 – 1945. Paris: Đường Mới – La voie nouvelle, 1985
  3. Chúc thư Giao Thừa năm Quý Tỵ 1953. Tư liệu riêng, do nhà văn Nguyễn Tường Thiết cung cấp
  4. Đặng Trần Huân: “Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn”, Thế Kỷ 21, số 102, tháng 10 năm 1997; dưới địa chỉ http://kicon.com/theky/issues/No02/html/31_tlvd.html
  5. Đặng Trần Huân: “Viết thêm về Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn”, VietPage.com;dưới địa chỉ http://vietpage.com/archive_news/politics/2002/Aug/12/0141.html
  6. Đặng Trần Huân: “Xuân Diệu và Tự Lực Văn Đoàn”, Thế Kỷ 21, số 112, tháng 8 năm 1998, dưới địa chỉ http://kicon.com/theky21/issues/No112/html/60_dthuan.html
  7. Đỗ Đức Hiểu / Nguyễn Huệ Chi / Phùng Văn Tửu […]:Từ Điển Văn Học. Tập II. Hà Nội: NXB Khoa Học Xã Hội, 1984
  8. Đỗ Đức Hiểu / Nguyễn Huệ Chi / Phùng Văn Tửu […]: Từ điển văn học (bộ mới). [TP. Hồ Chí Minh]: NXB Thế Giới, 2004
  9. Huy Cận: Hồi ký song đôi – Những năm đi học, làm thơ, hoạt động cách mạng.Tập 2. Hà Nội: NXB Hội Nhà Văn, 2000
  10. Huy Cận: Hồi ký song đôi: Tuổi nhỏ Huy Cận – Xuân Diệu.Tập 1. Hà Nội: NXB Hội Nhà Văn, 2002
  11. Huỳnh Lý / Hoàng Dung / Nguyễn Hoàng Khung […]: Lịch Sử Văn Học Việt Nam. Tập V, 1930 – 1945. Phần I(sách dùng cho các trường Đại Học và Cao đẳng sư phạm). Hà Nội: NXB Giáo Dục, 1978
  12. Khái Hưng: Khúc tiêu ai oán. Saigon: Đời Nay, 1971
  13. Ký ức về đời làm báo.Tư liệu riêng, do nhà văn Nguyễn Tường Thiết, con trai của cố nhà văn Nhất Linh cung cấp
  14. Lê Hữu Mục: Khảo luận về Khái Hưng. Saigon: Trường Thi, 1958
  15. Lê Thị Đức Hạnh: Mấy vấn đề trong văn học hiện đại Việt Nam. Hà Nội: NXB Khoa Học Xã Hội, 1999
  16. Lê Thị Dục Tú: Quan niệm về con người trong tiểu thyuết Tự Lực Văn Đoàn. Hà Nội: NXB Khoa Học Xã Hội, 1997
  17. Lữ Huy Nguyên (tuyển chọn): Xuân Diệu – Thơ và đời. Hà Nội: NXB Văn Học, 1995
  18. Mai Hương (tuyển chọn và biên soạn): Tiếng cười Tú Mỡ. Hà Nội: NXB Văn Hóa Thông Tin, 2000
  19. Mai Hương (tuyển chọn và biên soạn): Tự Lực Văn Đoàn trong tiến trình văn học dân tộc. Hà Nội: NXB Văn Hóa Thông Tin, 2000
  20. Ngày Nay. Số 142, thứ bảy, ngày 24 tháng 12 năm 1938
  21. Ngày Nay. Số 207, thứ bảy, ngày 11 tháng 5 năm 1940
  22. Ngày Nay. Số 99, thứ sáu, ngày 25 tháng 5 năm 1934
  23. Nguyễn Đăng Mạnh: Giáo Trình Lịch Sử Văn Học Việt Nam1930 – 1945. Hà Nội: NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2000
  24. Nguyễn Thị Thế: Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường – Nhất Linh – Hoàng Đạo – Thạch Lam. Tái bản lẩn thứ 3. Santa Anna: Văn Hóa Ngày Nay xuất bản, 1996
  25. Nguyễn Thị Tuyến: Mô hình tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn(luận án tiến sĩ ngữ văn). Hà Nội: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo – Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội, 2003
  26. Nguyễn Trác – Đái Xuân Ninh: Về Tự Lực Văn Đoàn. TP. Hồ Chí Minh: NXB TP. Hồ Chí Minh, 1989
  27. Nguyễn Tường Bách: Việt Namnhững ngày lịch sử. Montréal: Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa, 1981
  28. Nguyễn Văn Xung: Bình giảng Tự Lực Văn Đoàn. Sài Gòn: Tân Việt, 1958
  29. Nhật Thịnh: Chân Dung Nhất Linh.[Không đề nơi xuất bàn]: Đại Nam, [không đề năm xuất bản]
  30. Nhiều tác giả: Nhất Linh: Người nghệ sĩ – Người chiến sĩ. California: Thế Kỷ, 2004
  31. Phạm Thế Ngũ. Việt Namvăn học sử  giản ước tân biên: Văn học hiện đại 1862 – 1945. Tập 3. Sài Gòn: Quốc Học Tùng Thư, 1965
  32. Phạm Văn Diêu: Việt Namvăn học giảng bình. In lần thứ hai. Saigon: NXB Tân Việt, 1961
  33. Phan Cự Đệ: Văn học lãng mạn Việt Nam(1930 – 1945). [TP. Hồ Chí Minh]: NXB Giáo Dục, 1999
  34. Phan Trọng Thưởng / Nguyễn Cừ (giới thiệu và tuyển chọn): Văn chương Tự Lực Văn Đoàn. 3 tập. Tái bản lần thứ nhất. Đà Nẵng: NXB Giáo Dục, 2001
  35. Phong Hóa. Số 197, ngày 3 tháng 2 năm 1940
  36. Phong Hóa. Số 209, ngày 25 tháng 5 năm 1940
  37. Phong Hoá. Số 66, ngày 29 tháng 9 năm 1933
  38. Phong Hóa. Số 85, ngày 11 tháng 2 năm 1934
  39. Phong Hóa. Số 87, ngày 2 tháng 3 năm 1934
  40. Tạp Chí Văn Học. Số 2 – 2000
  41. Tạp Chí Văn Học. Số 9 – 2002
  42. Thạch Lam: Gió đầu mùa. Saigon: Phượng Giang, 1961
  43. Thanh Lãng (tuyển chọn): 13 năm tranh luận văn học. Tập 3. NXB Văn Học. Hội Nghiên Cứu và Giảng Dạy Văn Học. TP. Hồ Chí Minh, 1995
  44. Thế Lữ: Lê-Phong phóng viên. Saigon: Ngày Nay, 1963
  45. Trần Tiêu: Con trâu. Hà Nội: Đời Nay, 1940
  46. Trần Tiêu: Sau lũy tre. Saigon: Đời Nay, 1970
  47. Trịnh Hồ Khoa: Những đóng góp của Tự Lực Văn Đoàn cho văn xuôi hiện đại Việt Nam. Hà Nội: NXB VănHọc, 1997
  48. Văn Hóa Ngày Nay.Tập I (ngày 17 tháng 6 năm 1958) – tập 11 (ngày 16 tháng 5 năm 1959, là ngày Văn Hóa Ngày Nay được cấp giấy phép lần cuối)
  49. Vu Gia: Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hoá văn học. Hà Nội: NXB Văn Hóa, 1995
  50. Xuân Diệu: Phấn thông vàng. Hà Nội: Ngày Nay, 1939
  51. Xuân Diệu: Thơ Thơ.Saigon: Hoa Tiên, 1968

 

[1] Tựa của một bài viết của tác giả Đặng Trần Huân đăng trên Thế Kỷ 21, số 102, tháng 10 năm 1997. Vì không có tạp chí Thế Kỷ 21 nên chúng tôi đành trích dẫn theo bản điện tử, nên không thể nào ghi rõ số trang được. Địa chỉ của những trang báo điện tử độc giả có thể tìm thấy ở phần tài liệu tham khảo cuối bài viết này.

[2] Vì tôn trọng quy tắc trích dẫn nên trong bài viết này chúng tôi giữ nguyên các cách viết “Tự Lực Văn Đoàn” khác nhau.

[3]„Chuyện trò với ông Hoàng Xuân Hãn“. Bài báo này dựa theo cuộc phỏng vấn học giả Hoàng Xuân Hãn do  báo Bulledinge (BD) của phong trào sinh viên trong tổ chức Hội Người Việt Nam tại Pháp thực hiện. Sau đó, Tạp Chí Sông Hương đăng lại và được nhà biên soạn Mai Hương in lại trong tuyển tập Tự Lực Văn Đoàn trong tiến trình văn học dân tộc; từ trang 549 đến trang 552. Ở đây chúng tôi trích từ trang 551 của tuyển tập này. Vì thiếu điều kiện để kiểm chứng tài liệu gốc, nên trong bài viết này có đôi chỗ chúng tôi phải trích dẫn lại của những nhà nghiên cứu đi trước.

[4] Tài liệu này lần đầu tiên được công bố trên nguyệt san Văn Học Nghệ Thuật, số 3 phát hành tháng 7 năm 1985, tại California, do Võ Phiến làm chủ nhiệm. Vì vậy ít nhà nghiên cứu ở Việt Nam có điều kiện đọc qua. Tư liệu này sau này đã được nhà nghiên cứu Đặng Trần Huân trình bày tương đối đầy đủ trong bài viết “Xuân Diệu và Tự Lực Văn Đoàn”, đăng trên tập chí Thế Kỷ 21, số 112,  tháng 8 năm 1998. Những trang tư liệu chúng tôi dùng trong bài viết này được nhà văn Nguyễn Tường Thiết, con trai của nhà văn Nhất Linh cung cấp. Ở đây chúng tôi xin được tò lòng biết ơn rất nhiều cho sự giúp đỡ tư liệu và những ý kiến quí báu của bác.

[5] Nguyễn Văn Xung: Bình giảng Tự Lực Văn Đoàn; trang 10

Doãn Quốc Sĩ: Tự Lực Văn Đoàn. [Saigon]: Hồng Hà, 1960; dẫn theo bài viết „Trần Tiêu có phải là thành viên trong tổ chức Tự lực văn đoàn không?“ của tác giả Lê Thị Đức Hạnh, đăng trong Tập Chí Văn Học – Số 5-1990. Bài viết này sau đó được chính tác giả đưa vào tuyển tập Mấy vấn đề trong văn học hiện đại Việt Nam; từ trang 225 đến 232. Ở đây chúng tôi trích từ trang 226 của tuyển tập này.

Nguyễn Huệ Chi: „Tự Lực Văn Đoàn“, trong Tử điển văn học (bộ mới); trang 1899. Điều đáng được chú ý là, khác với Nguyễn Hoàng Khung, tác giả của mục từ „Tự lực văn đoàn“ trong bộ Từ điển văn học, xuất bản năm 1984, giáo sư Nguyễn Huệ Chi gần đây đã đưa ra một con số mới, khác với ý kiến phần đông trong giới nghiên cứu ở Việt Nam, nhất là không có Trần Tiêu trong dach sách các thành viên trong TLVĐ. Nhưng rất tiếc là trong khuôn khổ của một mục từ trong một bộ từ điển nên giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã không bình luận cặn kẽ và đưa ra cơ sở căn cứ cho giải thuyết của mình.

[6] Tú Mỡ: Tiếng cười Tú Mỡ, do Mai Hương tuyển chọn và biên soạn; trang 370-371

[7] Lê Thị Đức Hạnh: „Trần Tiêu có phải là thành viên trong tổ chức Tự lực văn đoàn không?“, trong Tạp Chí Văn Học – Số 5-1990.

[8] Huỳnh Lý / Hoàng Dung / Nguyễn Hoàng Khung […]: Lịch Sử Văn Học Việt Nam;  trang 63

Nguyễn Hoàng Khung: „Tự Lực Văn Đoàn“ trong Từ điển văn học; trang 488

Nguyễn Trác / Đái Xuân Ninh: Về Tự Lực Văn Đoàn; trang 17

Vu Gia: Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hoá văn học; trang 367

Nguyễn Đăng Mạnh: Giáo Trình Lịch Sử Văn Học Việt Nam 1930 – 1945; trang 51

Mai Hương (tuyển chọn và biên soạn): Tự Lực Văn Đoàn trong tiến trình văn học dân tộc; trang 5

[9] Trịnh Hồ Khoa: Những đóng góp của Tự Lực Văn Đoàn cho văn xuôi hiện đại Việt Nam. [Nguyên là luận án tiến sĩ ngữ văn bảo vệ tại trường Đại Học Khoa học Xã Hội & Nhân Văn Hà Nội]; trang 27

Lê Thị Dục Tú: Quan niệm về con người trong tiểu thyuết Tự Lực Văn Đoàn; trang 7

Nguyễn Thị Tuyến: Mô hình tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn (luận án tiến sĩ ngữ văn); trang 39

[10] Phan Trọng Thưởng / Nguyễn Cừ (giới thiệu và tuyển chọn): Văn chương Tự Lực Văn Đoàn; trang 11

[11] Ngoài những nguồn tài liệu đã dẫn, tác giả bài viết này còn dựa vào thông tin có được qua những lần gặp gỡ, trò chuyện và trao đổi với nhà báo, nhà nghiên cứu Vu Gia, người đã cho xuất bản bốn chuyên luận về 4 thành viên của TLVĐ gồm Khái Hưng (1993),  Thạch Lam (1994), Nhất Linh (1995) và Hoàng Đạo (1997), đang sắp hoàn thành chuyên luận thứ năm về Trần Tiêu.

[12] Tư liệu riêng, do nhà văn  Nguyễn Tường Thiết cung cấp

[13] Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên: Văn học hiện đại 1862 – 1945; trang 433 – 434

[14] Thanh Lãng: Giáo trình Ngữ Văn – Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, dẫn theo Phan Trọng Thưởng: “Cuối thế kỉ nhìn lại việc nghiên cứu, đánh giá văn chương Tự Lực Văn Đoàn”; trang 52

Nhật Thịnh: Chân Dung Nhất Linh; trang 128

Lê Đình Thông: “Nhất Linh: Tự Lực Văn Đoàn, tự lực chính trị”, trong Nhất Linh: Người nghệ sĩ – Người chiến sĩ; trang 141

[15] Đặng Trần Huân: “Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn”, đăng trên Thế Kỷ 21, số 102, tháng 10 năm 1997

[16] Phạm Văn Diêu: Việt Nam văn học giảng bình; trang 498 và 518

Lê Hữu Mục: Khảo luận về Khái Hưng; trang 7

Bùi Xuân Bào: Naissance et evolution du roman vietnamien moderne 1925 – 1945; trang 131

Trương Chính, dẫn theo Phan Trọng Thưởng: “Cuối thế kỉ nhìn lại việc nghiên cứu, đánh giá văn chương Tự Lực Văn Đoàn”; trang 52

[17] Nguyễn Thị Thế: Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường – Nhất Linh – Hoàng Đạo – Thạch Lam; trang 117

[18] Phan Cự Đệ: Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945); trang 241

[19] Lê Thị Đức Hạnh:  Mấy vấn đề trong văn học hiện đại Việt Nam; từ trang 225 đến 232

[20] Lê Thị Đức Hạnh: Mấy vấn đề trong văn học hiện đại Việt Nam; trang 231

[21] Đặng Trần Huân: „Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn“, đăng trên Thế Kỷ 21, số 102, tháng 10 năm 1997

[22] Đặng Trần Huân: „Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn“, đăng trên Thế Kỷ 21, số 102, tháng 10 năm 1997

[23] Đặng Trần Huân: „Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn“, đăng trên Thế Kỷ 21, số 102, tháng 10 năm 1997

[24] Phan Trọng Thưởng: „Cuối thế kỉ nhìn lại việc nghiên cứu, đánh giá văn chương Tự Lực Văn Đoàn“; trang 52

[25] Đặng Trần Huân: “Xuận Diệu và Tự Lực Văn Đoàn”, đăng trên Thế Kỷ 21, số 112, tháng 8 năm 1998

[26] Phan Trọng Thưởng: „Cuối thế kỉ nhìn lại việc nghiên cứu, đánh giá văn chương Tự Lực Văn Đoàn“; trang 51-64

[27] Phan Trọng Thưởng: „Cuối thế kỉ nhìn lại việc nghiên cứu, đánh giá văn chương Tự Lực Văn Đoàn“;  trang 53

[28] Đặng Trần Huân: „Viết thêm về Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn“ đăng trên VietPage.com

[29] Đặng Trần Huân: „Viết thêm về Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn“ đăng tên VietPage.com

[30] Lê Thị Đức Hạnh: Mấy vấn đềtrong văn học hiện đại Việt Nam, trang 2231

[31] Đặng Trần Huân: „Viết thêm về Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn“ đăng trên VietPage.com

[32] Rất tiếc là trong bản phác thảo Ký ức về đời làm báo do Nhất Linh để lại không ghi năm tháng nên chúng ta không biết rõ ông đã viết cuốn ký ức này khi nào

[33] Xem Lê Thị Đức Hạnh: Mấy vấn đề trong văn học hiện đại Việt Nam; trang 225

[34] Đặng Trần Huân: „Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn“, đăng trên Thế Kỷ 21, số 102, tháng 10 năm 1997

[35] Xem Lê Thị Đức Hạnh: Mấy vấn đề trong văn học hiện đại Việt Nam; trang 231

[36] Đặng Trần Huân: „Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn“, đăng trên Thế Kỷ 21, số 102, tháng 10 năm 1997

[37] Xuân Diệu qua đời vào ngày 13 tháng 12 năm 1985

[38] Trong đêm giao thừa Tết Quý Tỵ 1953, nhằm ngày 14 tháng 2 năm 1953, Nhất Linh có viết một chúc thư  và có làm một bài thơ khai bút về TLVĐ. Trong đó Nhất Linh có đề cập đến chuyện tiến cử ba ứng cử viên (Nguyễn Thị Vinh, Duy Lam và Tường Hùng) làm thành viên của TLVĐ.

[39] Chúc thư Giao Thừa năm Quý Tỵỵ 1953. Tư liệu riêng, do nhà văn Nguyễn Tường Thiết cung cấp

[40] Văn Hóa Ngày Nay. Tập I, ngày 17 tháng 6 năm 1958; trang 67

[41] Đặng Trần Huân: „Viết thêm về Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn“ đăng trên VietPage.com

[42] Tú Mỡ: Tiếng cười Tú Mỡ, do Mai Hương tuyển chọn và biên soạn; trang 371

[43] Tú Mỡ: Tiếng cười Tú Mỡ, do Mai Hương tuyển chọn và biên soạn; trang 379

[44] Tú Mỡ: Tiếng cười Tú Mỡ, do Mai Hương tuyển chọn và biên soạn; trang 386

[45] Tú Mỡ: Tiếng cười Tú Mỡ, do Mai Hương tuyển chọn và biên soạn; trang 379 – 380

[46] Tú Mỡ: Tiếng cười Tú Mỡ, do Mai Hương tuyển chọn và biên soạn; trang 387

[47] Tú Mỡ: Tiếng cười Tú Mỡ, do Mai Hương tuyển chọn và biên soạn; trang 387

[48] Tú Mỡ: Tiếng cười Tú Mỡ, do Mai Hương tuyển chọn và biên soạn; trang 387

[49] Tú Mỡ: Tiếng cười Tú Mỡ, do Mai Hương tuyển chọn và biên soạn; trang 387

[50] Phong Hóa. Số 197, ngày 3 tháng 2 năm 1940; trang 6.

[51] Chụp từ Phong Hóa. Số 197, ngày 3 tháng 2 năm 1940; trang 6.

[52] Chúng tôi tạm dịch thuật ngữ „Ausschussprinzip“ của tiếng Đức sang tiếng Việt bằng ‘nguyên lý phế bỏ’, nghĩa là khả năng nào có xác suất thấp nhất sẽ bị loại ra khỏi vòng lựa chọn.

[53] Phong Hóa. Số 87, năm thứ ba, thứ sáu, ngày 2 tháng 3 năm 1934; trang 2

[54] Ở đây chúng tôi có ý dùng từ ‘chính thức công bố’, vì trước đó, trễ nhất là ngày 29 tháng 9 năm 1933, trong số 66 của tuần báo Phong Hóa, trong trang 2, trong mục đăng quảng cáo sách, độc giả đọc được những hàng sau đây: “Các bạn nhớ đón mua HỒN BƯỚM MƠ TIÊN của KHÁI HƯNG! Văn hay! Vẽ đẹp! Một quyển sách quý! Thư viện nhà nào cũng nên có. Giá 0$40. đã in xong, đến 2 Octobre sẽ bắt đầu bán”. Cuốn sách này là cuốn sách thứ nhất của Tự Lực Văn đoàn. Phong Hoá: Số 66, thứ sau 29 Septembre 1933; trang 2

[55] TLVĐ lần đầu tiên công bố mục đích và mười tôn chỉ của văn đoàn mình trên Phong Hóa: Số 87, năm thứ ba, thứ sáu, ngày 2 tháng 3 năm 1934 chứ không phải là năm 1933, như nhiều nhà nghiên cứu lầm tưởng. Vì mỗi tuần Phong Hóa cho ra một kỳ, mà số 14 ra ngày 22  tháng 9 năm 1932 thì làm sao số 87 ra ngày 2 tháng 3 năm 1933 được!

[56] Phong Hóa. Số 87, năm thứ ba, thứ sáu, ngày 2 tháng 3 năm 1934; trang 2

[57] Phong Hóa, số 128, thứ sáu, ngày 14 tháng 12 năm 1934; trang 2

[58] Đặng Trần Huân: “Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn”, đăng trên Thế Kỷ 21, số 102, tháng 10 năm 1997

[59] Bút tích Ký ức về đời làm báo, trang 2. Tác giả Đặng Trần Huân trong bài viết “Viết thêm về Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn” đăng ngày 12 tháng 8 năm 2002 trên VietPage.com có viết rằng trong tài liệu này Nhất Linh có đề rằng “Nguyễn Gia Trí chỉ là cộng tác viên” thì không được đúng lắm. Đúng hơn là sau tên Nguyễn Gia Trí Nhất Linh không để dòng chữ ‘có chân trong Tự Lực Văn Đoàn’ trong dấu ngoặc đơn.

[60] Tư liệu riêng, do nhà văn Nguyễn Tường Thiết cung cấp

[61] Nguyễn Tường Bách: Việt Nam những ngày lịch sử; trang 37

[62] Xin xem bức ảnh “Nhất Linh cùng gia đình Trương Bảo Sơn đi thăm Nguyễn Gia Trí […], năm 1953” trong Nhiều tác giả: Nhất Linh: Người nghệ sĩ, người chiến sĩ; trang 94

[63] Lê Thị Đức Hạnh: Mấy vấn đề trong văn học hiện đại Việt Nam, trang 230

[64] Lê Thị Đức Hạnh: Mấy vấn đề trong văn học hiện đại Việt Nam, trang 229

[65] Phong Hóa. Số 87, năm thứ ba, thứ sáu, ngày 2 tháng 3 năm 1934; trang 2

[66] Nhiều tác giả: Nhất Linh: Người nghệ sĩ – Người chiến sĩ, trang 232

[67] Chụp từ Nhiều tác giả: Nhất Linh – Người nghệ sĩ – Người chiến sĩ, trang 232

[68] Chụp từ Thạch Lam: Gió đầu mùa. Saigon: Phượng Giang, 1961

[69] Chụp từ Thế Lữ: Khúc tiêu ai oán. Saigon: Ngày Nay, 1963

[70] Chụp từ Trần Tiêu: Con trâu. Hà Nội: Đời Nay, 1940

[71] Chụp từ Trần Tiêu: Sau luỹ tre. Saigon: Đời Nay, 1970

[72] Xem Tú Mỡ: Tiếng cười Tú Mỡ, do Mai Hương tuyển chọn và biên soạn; trang 378

[73] Xem Tú Mỡ: Tiếng cười Tú Mỡ, do Mai Hương tuyển chọn và biên soạn; trang 378

[74] Ngày Nay. Số 99, thứ sáu, ngày 25 tháng 5 năm 1934; trang 3

[75] Chụp từ Ngày Nay. Số 142, thứ bảy, ngày 24 tháng 12 năm 1938; trang 9

[76] Chụp từ Xuân Diệu: PhấnThông Vàng. Hà Nội: Đời Nay, 1939

[77] Đặng Trần Huân: „Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn“, đăng trên Thế Kỷ 21, số 102, tháng 10 năm 1997

[78] Đặng Trần Huân: “Xuân Diệu và Tự Lực Văn Đoàn”, đăng trên Thế kỷ 21, số 112, tháng 8 năm 1998

[79] Hình ảnh ‘đầu mây gợn’ này do chính Xuân Diệu dùng để tả về mình trong bài thơ có nhan đề Giới thiệu, trong tập Xuân Diệu: Thơ Thơ. Saigon: Hoa Tiên, 1968; trang 53, dòng 4; nguyên văn „Xem đầu mây gợn, mắt mây qua…“ Hoạ sĩ Tô Ngọc Vân đã vẽ rất giống các thành viên trong TLVĐ. Đêm so sánh những ảnh chụp của các thành viên trong TLVĐ với bức họa này chúng ta có thể nhận ra được (từ phải sang trái): 1. Tú Mỡ, 2. Xuân Diệu, 3. Hoàng Đạo, 4. Thế Lữ, 5. Nhất Linh, 6. Khái Hưng, 7. Thạch Lam

[80] Ở đây chúng ta cần lưu ý thêm rằng, tài liệu này không phải là hồi ký mà sau này Thế Lữ mới nhớ lại, mà là tin „thời sự“ mỗi tuần của tuần báo Ngày Nay.

[81] Lê Ta: “Tin Trong Nhà”, trong Ngày Nay, số 200, ngày 24 tháng 2 năm 1940, trang 17. Dẫn theo Thanh Lãng (tuyển chọn): 13 năm tranh luận văn học. Tập 3. NXB Văn Học. Hội Nghiên Cứu và Giảng Dạy Văn Học. TP. Hồ Chí Minh, 1995; trang 425 – 426 và Lữ Huy Nguyên (tuyển chọn): Xuân Diệu – Thơ và đời; trang 7

[82] Phong Hóa. Số 85, ngày 11 tháng 2 năm 1934. Trong báo này, trong trang 6, trên mục Thơ Mới, ngoài 3 bài thơ “Hái Hoa”, “Tiếng sáo thiên thai” và “Cây đàn muôn điệu” của Thế Lữ còn có bài thơ “Xuân” của Tường Bách.

[83] Đặng Trần Huân: “Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn”, đăng trên Thế Kỷ 21, số 102, tháng 10 năm 1997

[84] Sáu thành viên đó là: Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Tú Mỡ, Hoàng Đạo và Thế Lữ

[85] Đỗ Đức Hiểu / Nguyễn Huệ Chi / Phùng Văn Tửu […]: Từ điển văn học (bộ mới); trang 1832

[86] Nhân dịp này mới có buổi tiệc rượu đưa tiễn như trên đã nói đến

[87] Huy Cận: Hồi ký song đôi: Tuổi nhỏ Huy Cận – Xuân Diệu; trang 199

[88] Ngày Nay. Số 207, thứ bảy, ngày 11 tháng 5 năm 1940; trang 14

[89] Huy Cận: Hồi ký song đôi: Những năm đi học, làm thơ, hoạt động cách mạng; trang 179

[90] Đặng Trần Huân: „Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn“, đăng trên Thế Kỷ 21, số 102, tháng 10 năm 1997

[91] Trích từ Tự Lực Văn Đoàn trong tiến trình văn học dân tộc, do Mai Hương tuyển chọn và biên soạn; trang 558

[92] Tạp Chí Văn Học. Số 9 – Tháng 9 năm 2002; trang 71-72. Điều đặc biệt cần chú ý ở đây là chi tiết „Giấy chứng nhận Giải thưởng của Tự Lực Văn đoàn được quấn tròn trong một đoạn trúc” như trong bài viết của  Nguyễn Hũu Ngư. Khi đọc đến tiểu tiết này và những đoạn trích dẫn thật chính xác, tường tận (đã được chúng tôi kiểm chứng và so sánh  với bài viết của Nhất Linh đăng báo Ngày Nay, số 209, ngày 25 tháng 5 năm 1940, trang 9) được Tế Hanh dùng trong bài viết “Nhớ lại những chặng đường thơ“, chúng tôi có cảm giác rằng, trong khi viết Tế Hanh đã giở lại, bày ra trước mắt mình những bài báo có viết về mình và cả giấy chứng nhận của ban giám khảo Giải thưởng Văn Chương Tự Lực Văn Đoàn mà bao nhiêu năm qua ông đã cẩn trọng cất giữ.

[93] Đặng Trần Huân: „Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn“, đăng trên Thế Kỷ 21, số 102, tháng 10 năm 1997

[94] Ngày Nay. Số 99, thứ sáu, ngày 25 tháng 5 năm 1934; trang 3

[95] Cao Quang Nghiệp: “Tự Lực Văn Đoàn”, trong  Annalen der Hamburger Vietnamistik (Việt Học Niên San); từ trang 63 đến trang 84. Lưu ý: Bài này viết bằng tiếng Đức.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: