Một Người Tên Là Trần Văn Bá ( chương 1 đến 5 ) Duyên Anh

Duyên Anh

Một Người Tên Là Trần Văn Bá

Lời đầu

TRẦN VĂN BÁ, TẠI SAO?

tranvnaba2

Người bạn tôi, nhà xuất bản Nam Á ở Paris, sau nhiều ngày đêm đứng trước Tòa Đại Sứ của phỉ quyền dưới buốt lạnh của nước Pháp hai mươi năm mới thấy, để đòi hỏi phỉ quyền không được sát hại những người Việt Nam yêu nước, thì bèn có một ưu tư đầy sáng tạo chiến đấu. Anh ta bảo tôi viết một tác phẩm không giống bất cứ một tác phẩm nào tôi đã viết. Nói rõ rệt, bạn tôi yêu cầu tôi viết về Trần Văn Bá như một biểu tượng của tuổi trẻ dấn thân, như một sư tử lãng mạn quốc ngoại, như một người quốc gia chân chính, một người quốc gia đứng trên tất cả những tranh giành quyền bính hôm nay, để vì hạnh phúc của dân tộc mà chiến đấu. Bạn tôi buồn bã trong những “tại sao”. Tại sao chỉ có thần tượng cộng sản mà không có thần tượng quốc gia” Tại sao cứ để cộng sản độc quyền phong người của họ là anh hùng, liệt sĩ? Chúng ta chiến đấu đẹp hơn họ, thần tượng của chúng ta thật hơn họ, rực rỡ hơn họ cả ngàn lần, tại sao tôi chưa được đọc một tác phẩm văn chương nào viết về anh hùng của chúng ta hôm nay? Nhà văn, các anh ở đâu? Các anh đang làm gì? Bạn tôi “tại sao” rồi bạn tôi phân trần: “Như anh, tôi không ở trong một mặt trận, một hội đoàn tranh đấu nào cả, nhưng luôn luôn có bổn phận hỗ trợ bất cứ một mặt trận, một phong trào nào thật sự vì quốc gia, dân tộc. Tôi nghĩ rằng, cuộc chiến đấu chống cộng sản hôm nay, tuổi trẻ đóng vai trò quan trọng và then chốt và cần thiết phải võ trang tư tưởng cho họ lên đường. Anh đã viết Sỏi đá ngậm ngùi, Bầy sư tử lãng mạn và đã bầy tỏ tư tưởng chiến đấu mới mẻ của tuổi trẻ quốc nội, thế hệ trưởng thành sau 30-4-75, anh phải viết thêm về tuổi trẻ quốc ngoại và cuộc chiến đấu cô đơn tuyệt vời của họ. Anh phải lấy cảm hứng từ Trần Văn Bá. Tác phẩm mà tôi thành khẩn yêu cầu anh là sự chứng minh tài năng đích thực của anh, đồng thời, chứng minh khả năng xoay vần thời thế của tư tưởng, khả năng thôi thúc chiến đấu của nghệ thuật. Khó lắm, tôi hiểu và tôi đoan quyết chỉ anh mới tạo dựng nổi một thần tượng tuổi trẻ của dân tộc chứ không của riêng một phe nhóm, một giai cấp nào.”
Khó thật, bởi vì, Trần Văn Bá đã là thần tượng. Và, bởi vì, chỉ được viết Trần Văn Bá như một biểu tượng của tuổi trẻ dấn thân và cuộc chiến đấu của người tuổi trẻ này khởi sự từ lúc bị bịt mắt, còng tay, xích chân đẩy vào quan tài xi măng của ngục tù cộng sản. Trần Văn Bá, quả thật, là mẫu người quốc gia chân chính mà tôi mong mỏi. Tôi sẽ đáp ứng cố gắng đòi hỏi của bạn tôi. Tôi không dám hỗn láo so sánh mình với cổ nhân nhưng, nếu xưa Lão Tử để lãi đời sống Đạo đức kinh chỉ nhằm mục đích tạ lòng bạn tri kỷ thì nay, tôi viết Một người tên là Trần Văn Bá chỉ để tạ lòng bạn tôi và, lợi dụng tấm lòng yêu văn chương ấy, tôi trả lời người cộng sản. Ngoài ra chẳng còn mục đích gì khác, danh cũng như lợi. Tại sao tôi muốn trả lời người cộng sản? Vì thủ thuật của họ khiến tôi chới với. Khi tôi nằm tù, cộng sản và quốc gia giả hình đều thích dìm tôi xuống vực thẳm dơ bẩn để tôi chết nhục. Tôi không ngờ số phận của tôi bớt hẩm hiu nhờ sự can thiệp của Amnesty International. Bằng một trao đổi nào đó, tôi được tạm thích. Tôi đã hỏi tôi ròng rã sáu năm trong ngục thất rằng, mình có làm điều gì nhơ nhuốc không? Và tôi yên tâm. Có phải không dám chống lại những tên công an coi tù tuổi 18, 20 và dốt nát, đần độn, ngọng nghịu là khiếp nhược, hèn hạ không nhỉ? Có phải cho thuốc lá, đường, kẹo bánh những tên công an coi tù thèm khát, những tên xa nhà nghèo khổ, trải dài thời thanh xuân của mình ở rừng già không thân nhân thăm viếng, tặng quà là liếm gót giầy cộng sản? Người ta hằng luận về đối thủ và người ta quên hiểu thế nào là sự khinh khi và lòng trắc ẩn và thương yêu của những ai hằng rêu rao đem thương yêu xóa bỏ hận thù. Nếu anh là nhà văn, nhà thơ, những tên công an xa nhà quý trọng anh, gần gũi anh, nhờ vả anh làm cho chúng những bài thơ nhớ quê, nhớ mẹ hiền, nhớ tình nhân, anh có phải là antennẻ Anh đã giúp con người gửi thông điệp tình tự. Vấn đề chưa hẳn giản dị thế. Ngày tôi trở lại Sài Gòn, gặp Đinh Tiến Luyện, nhà văn tuổi trẻ này kể cho tôi nghe một chuyện lạ. Đinh Tiến Luyện có người bạn may mắn chưa là sĩ quan chế độ cũ, lại thuộc thành phần “con em cách mạng” nên được đi học báo chí ở Hà Nội. Ngoài lề học tập báo chí có những buổi mạn đàm văn học nghệ thuật. Các nhà văn Sài Gòn bị lôi ra chửi bới. Riêng tôi, khi được đề cập, giảng viêng phát biểu: “Duyên Anh đã là người của chúng ta!” Tôi đã là người cộng sản sau khi đã là antenne gớm ghiếc. Cộng sản cấm đoán toàn bộ tác phẩm của tôi phổ biến trong dân gian. Cộng sản bỏ tôi vào tù. Cộng sản bêu nhục tôi trên báo, trên vô tuyến truyền hình, trong sách. Rồi cộng sản chơi trò “Thầy Tăng Sâm giết người” một cách tinh vi: “Duyên Anh đã là người của chúng ta,” tên biệt kích văn nghệ số 9 đã là “người của chúng ta!” Thế là tôi mất hết uy tín chống cộng sản, tôi bị lột bỏ tước bị “nhà văn của tuổi trẻ”. Ra khỏi đất nước, trò chơi “Thầy Tăng Sâm giết người” còn bạo hơn. Tôi biến thành mục tiêu công kích của một số người mà cộng sản tin chắc tôi sẽ phản ứng. “Phải làm cho chúng nó chửi thằng Duyên Anh vì thằng Duyên Anh biết nhiều chuyện, biết cách chửi đau đớn. Phải tạo mâu thuẫn giữa chúng nó để có cơ hội chúng nó chửi bới lẫn nhau”. Đó là thủ thuật cộng sản. Thủ thuật ấy đã áp dụng cho đám ma Phạm Duy, cho Lê Xuyên, cho Chu Tử. Người quốc gia bị bọn nằm vùng dẫn vào trò chơi đập nát uy tín những nghệ sĩ quốc gia tài năng.
Tôi đã im lặng từ lâu, không trả đũa những ai bêu nhục tôi. Tôi không thích vào trò chơi bẩn của cộng sản. Đáng lẽ, tôi im lặng mãi mãi. Nhưng, trong số những kẻ bêu nhục tôi lại có vài nhà văn, nhà thơ thiếu trực giác, thiếu kinh nghiệm cộng sản và thừa đố kỵ, tra thù vặt nhỏ mọn. Bất đắc dĩ tôi phải phản công. Không phải đợi đến hôm nay, sau khi cộng sản rỉ tai “Duyên Anh đã là người của chúng ta” tôi mới đánh những người quốc gia giả hình. Tôi đã đánh họ ngay trong thuở họ đầy quyền sinh sát ở quê nhà. Và tôi tiếp tục đánh họ vì họ âm mưu phục hồi quyền bính tôi đòi dĩ vãng, họ lừa gạt niềm tin của lưu dân, họ làm nhơ nhuốc sự nghiệp chống cộng sản giải thát dân tộc. Họ là bọn đào ngũ, bọn thụ hưởng xương máu lính, bọn tội đồ của dân tộc. Họ là bọn trí thức lưu manh. Không bao giờ họ là người quốc gia cả. Họ đã bẩn, không cần bôi bẩn. Tôi lên tiếng để xác định thái độ chống cộng của tôi là không chống cộng với tướng bẩn đào ngũ và tá cớm chạy làng. Tôi chống cộng với những người quốc gia chân chính. Bọn quốc gia giả hình cứ việc bêu nhục tôi. Với những ai là nhà văn, tôi xin được phép nhắc câu nói của văn hào Gabriel Garcia Marquez: “Nghĩa vụ và bổn phận của nhà văn là viết cho hay”. Anh hãy viết cho hay, cho thật hay, tự nhiên, anh sẽ nổi tiếng và anh đẩy tôi vào hoàng hôn quên lãng. Tỏ thái độ với người này người nọ là thừa thãi, là mất thì giờ vô ích. Tỏ thái độ với cộng sản bằng tác phẩm và nếu làm cho tác phẩm có kích thước quốc tế mới là nghĩa vụ của nhà văn Việt Nam. Tôi không trần tình với các anh đâu. Tôi nói những điều tâm cảm. Và tôi sẵng sàng cái thế “một mình một ngựa” như tôi đã “một mình một ngựa”.
Trở lại Một người tên là Trần Văn Bá. Mỗi cuốn sách có một đời sống. Nếu đời sống của cuốn sách mang một ý nghĩa nào đó và đóng góp được một công lao nào đó thì Một người tên là Trần Văn Bá là thành quả của ưu tư sáng tạo chiến đấu của bạn tôi, không bao giờ là tài năng của tôi. Nếu đời sống của cuốn sách tẻ nhạt, không đáp ứng yêu cần của bạn tôi thì đó là bởi tài năng của tôi còn kém cỏi. Và tôi thành thật xin lỗi người đã chết. Với những người tuổi trẻ và độc giả của tôi, tôi đã bầy tỏ một thiện chí mới. Nếu trước đây tôi chỉ tạo dựng thần tượng tiểu thuyết thì hôm nay tôi viết về thần tượng thật, chiến đấu thật, đau khổ thật, lãng mạn thật, cô đơn thật và thật sự vì hạnh phúc, tự do, dân chủ của dân tộc. Làm sáng chói hào quang Trần Văn Bá, hào quang tuổi trẻ Việt Nam để thế giới cảm phục và chia sẻ với cuộc chiến đấu mới của chúng ta là nhiệm vụ của người tuổi trẻ quốc ngoại, nhất là bằng hữu của Bá ở Paris. Bổn phận của tôi đã xong khi ký dưới cuốn sách hai chữ…
Duyên Anh

(Paris, Xuân 1985)

Một Người Tên Là Trần Văn Bá

Chương 1

Bóng tối và bóng tối

Bóng tối từ lúc những mũi tên găm đầy mình mẩy con sư tử sừng sững đứng, đầu ngẩng cao, đôi mắt áng lên những tia kiêu ngạo tuyệt vời trong màng lưới oan nghiệt của thời đại. Chiếc còng lạnh ngắt siết chặt tay chàng. Sợi xích não nùng nghiến hai cổ chân chàng đau buốt. Miếng vải đen thô bạo thắt nút che kín mắt chàng nhức nhối. Người ta ném chàng lên xe. Đường nào chàng qua, lối nào chàng sắp đến , chàng không biết. Chàng nghe rõ tiếng động cơ nổ và, mơ hồ, tiếng thù hận. Mà, tuyệt nhiên, chẳng có tiếng nói của con người, dẫu chỉ là tiếng nói đe dọa, tiếng nói thợ săn đắc ý với bộ da quý sẽ lột. Xe chạy lòng vòng, lúc nhanh, lúc chậm. Cuối cùng thì nó dừng lại. Chàng bị xốc nách đẩy vào một phòng giam. Cánh cửa mà bản lề khô dầu từ từ khép. Ổ khóa bấm tách hai ba lần. rồi im lặng. Chàng, chiếc còng, sợi xích, miếng vải và bóng tối. Thân phận chàng, thân phận Việt Nam như thế, trên mảnh đất đầy phiền muộn này.

Chàng mò mẫm bước về phía trước. Vừa đúng ba bước, chàng đụng vô bức tường. Lặng lẽ, chàng lùi bước chân xích giới hạn và đếm đủ bẩy bước là đụng cánh cửa sắt. Chàng lần ngang như con cuạ Nếu tay không bị còng chéo sau lưng, chàng có thể đo chiều rộng của phòng giam dễ dàng hơn. Khỏi cần tính kỷ diện tích dành cho người yêu nước trong xã hội xã hội chủ nghĩa, xã hội thường xuyên được rêu rao là không còn nhà tù và người hành hạ người. Chàng dựa lưng vào cánh cửa rồi tụt dần xuống thành cái thế ngồi điêu đứng của kẻ bị còng tay, chân bị xích, mắt bị bịt. Thoạt đầu, chàng nghĩ chàng bị nhốt ở một cachot của một đề lao nào đó. Nhưng sự im lặng mỗi phút mỗi nhỏ giọt xuống nhỏ giọt xuống tâm cảm chàng khiến chàng ngờ vực và sợ hãi. Không nhất định đây không phải là nhà tù mà là một niềm hiu hắt ngàn năm cách biệt loài người. Chàng thử hét lớn vừa để tỏ niềm phẫn nộ vừa để dọ dẫm tình hình. Vô ích. Tiếng hét của chàng đã chìm vào hiu quạnh thật nhanh và tạo thêm cho sự hiu quạnh những móng vuốt nhọn hoắt. Chàng run rẩy. Chàng toát mồ hôi. Con người luôn luôn bị chế ngự bởi nổi cô đơn và niềm im lặng. Chàng không sợ chết mà sợ không chịu đựng nổi cô đơn và im lặng để được chết đúng ý muốn của mình. Thời đại của chúng ta, thù hận được sáng tạo bởi ý thức hệ cho nên hình phạt của thù hận là giáo điều của chủ nghĩa. Và nó ghê gớm khôn lường. Nó không thèm giết ngay con người bằng viên đạn thủng tim, bằng lưỡi dao thấu phổi mà bằng cung cách truy nã tâm hồn con người, bằng những lời nói thơm nồng tình nghĩa, bằng sự dồn ép con người phải nhận cái thiện thành cái ác, cái đẹp thành cái xấu, cái thật thành cái giả và con người tự giết mình, tự chọn cho mình nỗi chết mòn thê thảm.

Khi chưa nhập cuộc chơi, chàng đã đọc nhiều cuốn hồi kí lao tù, cải tạo của những nạn nhân của chủ nghĩa thoát đời tù được phép ra nước ngoài hay vượt biển trốn ra nước ngoài. Chàng tưởng đỉnh cao của tù ngục cộng sản Việt Nam chỉ là sự phát vãng tù nhân từ Nam ra Bắc; chỉ là sự lao động quần quật , thiếu ăn thiếu mặc; chỉ là sự rên siết đói bát cơm, thèm cục đường. Và gấu ó lẫn nhau bởi những điều ngu xuẩn, hèn mọn. Và bêu xấu, và nhục mạ, và phán xét nhau thiển cận. Chàng đã coi thường những thứ đáy địa ngục ấy. Bây giờ chàng hiểu mới là cửa địa ngục dành riêng cho chàng, cho những kẻ dám chiến đấu và chiến đấu thật sự, hình phạt của thù hận đã hứa hẹn rất nhiều quằn quại tinh thần, ê ẩm thể xác. Tự nhiên chàng thấy lòng tự phụ dấy lên, nóng ran. Chàng gượng nhẹ đứng dậy. Sự run rẩy tiêu tan. Dường như một ngọn gió kỳ lạ lùa vào trái tim chàng làm mồ hôi khô đi. Chàng vươn vai tưởng tượng và thì thầm với cô đơn:> Phải, kẻ thù đã đánh giá chàng đúng mức, đã coi chàng như người đủ khả năng phát động sự đạp đổ một chế độ mà họ vẫn tự hào chế độ của họ vĩnh cửu. Người cộng sản giống hệt người phát xít. Họ kiêu ngạo đến lợm giọng. Họ tự cho họ là ưu việt, chủ nghĩa của họ là cái nôi của loài người và họ khinh thường tất cả. Chỉ có họ mới biết cướp chính quyền. Và khi họ đã cướp được chính quyền, không một kẻ nào, một quyền lực nào dám trực diện đương đầu với họ. Họ độc quyền chính nghĩa, độc quyền cách mạng. Ngoài họ là phản động là ngụy, là những kẻ ngu xuẩn phiêu lưu giữa dòng thác xoáy. Họ ví họ là đại thụ còn chúng ta là cỏ hèn mọc chung quanh gốc đại thụ, nương bóng mát đại thụ. Họ ví họ là đại dương mênh mông và chúng ta là sông lạch hèn mọn. Họ vênh váo đến độ không thèm bắt những ông tướng, những ông tá, những ông bộ trưởng, tổng thống, nghị sĩ, dân biểu của miền Nam mà chỉ ới gọi đi trình diện học tập bằng cái thông cáo khinh người. Và vì những ông tướng, ông tá lũ lượt đi trình diện nên sự học tập của họ được cộng sản giao cho bọn công an tuổi từ 17 tới 30, xuất thân chăn trâu, cắt cỏ. Bọn chăn trâu cắt cỏ của chủ nghĩa ưu việt đã giáo dục quí vị lãnh đạo các cơ cấu của chế độ đối nghịch! Chúng dạy con người tiến bộ bằng cách đẩy đạp lên phẩm chất con người, bằng cách bóc lột sức lao động tối đa của con người, bằng cách bắt con người tôn trọng thứ nội quy trại giam khốn kiếp, bằng cách bóp dạ dày con người và thi ân tình cảm con nuôi! Dã tâm của chủ nghĩa là thế. Thế mà chúng ta vẫn không thích đánh nát chủ nghĩa, chúng ta chỉ quan tâm tới công cụ của chủ nghĩa. Nhiều kẻ khoái chứng tỏ tinh thần bất khuất với đám chăn trâu cắt cỏ để làm anh hùng tù ngục, thứ anh hùng bất trí. Những anh hùng bất trí được truyền tụng, được hoan hộ Nhiều kẻ không khoái chống đối lũ chăn trâu cắt cỏ, không dại dột chết ngu dưới cái lỗ chân bò, cần thiết tồn tại để đánh nát chủ nghĩa thì bị nhục mạ là hèn nhát, đê tiện, khuất phục cộng sản. Sự phán xét tanh tưởi này được phì nọc rắn rết từ những đám chạy trốn chưa hề biết ngục tù và thủ đoạn cộng sản hoặc của đám thư lại khúm núm muốn xóa bỏ sự khúm núm cầu an tù ngục của mình bằng cách vấy dơ lên người khác. Thói thường, người ta ham nghe mà ít ham xét đoán. Nếu người ta chịu xét đoán, người ta chỉ cần nhìn lại dĩ vãng của bầy phán quan rẻ tiền đã để lại Sàigòn, người ta sẽ khinh bỉ, ghê tởm chúng biết chừng nào. Và người ta sẽ hỏi: Tại sao cộng sản đã không bắt một anh tướng tư lệnh vùng như bắt một người tuổi trẻ chiến đấu thật sự? Tại sao cộng sản đã không xử tử một anh tướng, một anh tá, một anh bộ trưởng nào đã chống đối họ 20 năm ròng rã mà chỉ xử tử những người dám phản kháng họ khi cuộc chiến đã tàn, khi người Mỹ đã >? Dễ hiểu thôi, cộng sản chỉ dám kiêu ngạo với những kẻ chạy trốn hèn nhát mà không dám kiêu ngạo với người can đảm đương đầu.

Chàng là biểu tượng của những người can đảm đương đầu, là biểu tượng rạng ngời của tuổi trẻ lưu vong. Do đó, cộng sản đã xếp chàng vào thành phần kẻ thù xứng đáng của họ. Cộng sản có thể thù hận chàng nhưng vẫn kính trọng chàng. Sự kính trọng đã biểu lộ trong cung cách bắt giam. Chàng bỗng thấykhông có gì đáng sợ hãi sự in lặng. Trong im lặng chàng vẫn nhận thức rõ rệt thủ đoạn của kẻ thù. Họ muốn lung lạc tinh thần chàng. Họ muốn làm điên đầu chàng. Họ muốn làm chàng mệt mỏi để tình nguyện > rồi xin họ ban cho cái ân huệ yên ổn chịu tội. Móng vuốt của hiu quạnh đã cào cấu chàng? Không, nó đã lay động tâm hồn chàng, nó đã thắp sáng một đốm lửa mà, dẫu mắt bị bịt kín, chàng vẫn nhìn rõ. Đốm lửa ấy, từ nỗi cô đơn khôn cùng, đã soi sáng trong lòng chàng những ý nghĩ thật chính xác, thật đẹp về con người về cuộc đời của thi sĩ và vẫn tỏ thái độ thờ ơ, vô ơn với thi sĩ. Người đi chiến đấu mang tâm trạng của thi sĩ đi tìm hạnh phúc trong bất hạnh. Chàng quán triệt cái xuất xứ của lý tưởng. Lý tưởng mà chàng bị dè bỉu là không tưởng thuở manh nhạ Khi đời sống công nhận không tưởng là lý tưởng, mọi chuyện đều quá muộn màng. Thi sĩ và người chiến đấu đã thành người thiên cổ. Những khám phá của họ, dâng hiến của họ để lại đời sống kế tiếp, phục sinh họ. Những kẻ ngờ vực họ, phẩm bình họ, đố kỵ họ thì trở về cát bụi, trở về kiếp cây cỏ phiền tủi ngàn sau mù mịt.

Chàng đã sống khiêm tốn, sống thật với lòng mình từ khi chàng bước xuống cuộc sống. Tuy nhiên, chàng vẫn chỉ là người và chàng đã có những nhận xét sai lầm về người khác hoặc bị huyền hoặc bởi những phán xét ác ý của nhiều người về người khác. Lúc này, sự im lặng giúp chàng suy nghĩ một câu thơ triết lý của Nguyễn Dụ > Hay như chàng, một phút thôi, người ta lên tiếng xin xỏ kẻ thù, hai phút thôi, người ta lên tiếng xin xỏ đầu hàng; ba phút thôi, người ta xin tha chết; qua năm phút, người ta khóc lóc than van. Thế gian đầy rẫy hạng người can đảm chưa qua cầu, không dám qua cầu hay chỉ mới qua thử cầu ngớ ngẩn để khoe khoang gian dối. Những kẻ tự khoe mình can đảm hoặc miệt thị người khác thiếu can đảm đều một lũ hèn nhát. Chàng thèm sống, chàng khao khát sống để phóng ra đời sống bài học thứ nhất về sự cảm thông giữa con người. Thù hận nảy sinh từ biên giới của thiếu cảm thông hay không thích cảm thông. Chỉ ở lúc cùng khốn nhất, thống khổ nhất, con người mới trang trải và mọi người Việt Nam lưu vong phải được trải qua những phút giây hãi hùng như chàng thì mới biết ngồi gần nhau, thương yêu nhau mà mưu đồ đại sự. Bằng không, tất cả chỉ là những dấn thân trình diễn, lạc quyên, thu lợi. Và kèn cựa nhau, đâm giết nhau, thanh toán nhau vô tích sự.

Chàng đi đi lại lại. Vài bước ngắn. Chàng đã nghe tiếng xích sắt kêu. Thế là chàng bớt cô đơn. Nhờ tiếng xích sắt! Chàng suy nghĩ miên man và đã mất hẳn ý niệm không gian, thời gian. Đột nhiên, chàng nghe đạn lên nòng. Tim chàng thót lại. Cánh cửa sắt mở từ từ. Chàng biết, nhờ tiếng ken két của bản lề khô dầu. Một bàn tay thộp cổ áo chàng, lôi chàng ra khỏi phòng giam. Người ta lôi chàng xềnh xệch một lát rồi bế chàng ném lên sàn sạt. Cánh cửa đóng rầm. Động cơ nổ. Chàng bị liệng lên sàn xe. Chắc chắn, chiếc xe chở tù nguy hiểm, xe bít bùng. Chàng nổi da gà. Chàng sợ chết? Không, chàng sợ chẳng còn tồn tại. Cũng có thể chàng sợ cách chết. Từ chủ nghĩa của Marx-Engels, Lénine đã sáng tạo nhiều lối chết, Staline sáng tạo thêm nhiều kiểu chết và Hồ Chí Minh tổng hợp sáng tạo để có riêng biệt những quy luật chết khốn nạn cho kẻ đối nghịch chế độ. Đừng nói khoác anh không sợ cộng sản đem anh đi thủ tiêu ban đêm! Nó bịt mắt dẫn anh tới cây cầu, bảo anh há miệng ra, đâm lưỡi dao găm xuyên cổ họng anh rồi đẩy anh xuống sông. Phải mất bao nhiêu giây sặc sụa để anh quên đau đớn mà chết? Trong bao nhiêu giây đó anh sợ hãi mức nào? Anh chẳng thể diễn tả nỗi cảm giác sợ hãi của anh đâu. Vì anh đã chết. Nếu nó bảo anh rằng nó sẽ bỏ anh vô cái bao bố với tảng đá nặng, túm chặt miệng bao lại rồi liệng anh xuống sông, anh sẽ ngất xỉu, sẽ làm bất cứ việc gì đê tiện nhất để xin nó tặng anh một viên đạn nát óc. Anh biết cái nong chứ. Nong đan bằng cật tre ấy. Nó khoét một cái lỗ tròn nhỏ hơn cổ anh ở giữa cái nong. Nó đặt cái lỗ tròn lên đầu anh, cố ấn cho tụt xuống khít cổ anh. Anh bị quỳ. Trước ngực anh là cây cột chôn chặt. Sau lưng anh là cây cột như bó giò. Anh hết nhúc nhích. Nó xoay cái nong như xoay bánh xe. Da cổ anh chịu sao nổi cật tre lởm chởm. Cổ anh bị khoét xoay, máu ứa ra. Anh đếm từng giây chết. Anh la hét, rên xiết cho tới khi đầu anh rũ xuống thì cái nong ngưng xoaỵ Và anh phải đợi cả giờ sau anh mới thật sự chết. Những kiểu thủ tiêu này không thể tìm thấy trên màn ảnh. Bởi cộng sản biết dấu thật kỹ mọi bí quyết man rợ của họ.

Xe chạy một hồi thì ngừng lại. Người ta lôi chàng xuống xe. Gió thổi vù vù, thấm lạnh. Chàng nghe tiếng dế gáy, tiếng côn trùng rỉ rả và đoán chừng mình đang ở một bãi tha ma hoặc giữa cánh đồng trong trại. Súng lại lên đạn. Lần này, họng súng dí sát thái dương chàng. Chàng run sợ. Chàng cố đứng vững. Chàng muốn nói. Nhưng chàng sẽ nói gì trước khi viên đạn xuyên thủng thái dương chàng, phá tung óc chàng tan nát? Không cần lên tiếng với sát nhân. Chàng đứng thẳng chờ đợi. Người ta kéo dài thời gian thủ tiêu để đo cảm giác của chàng. Hình như họng súng và viên đạn sắp khạc ra đã trở thành vô nghĩa. Với chàng. Cảm giác mà người muốn đo lường, bây giờ, là cảm nghĩ, cảm tưởng về những ước mơ dang dở. Chàng thả hồn chàng bay bổng, xa khơi. Khi ước mơ luôn vút, cảm giác sợ hãi tê liệt. Người ta bóp cổ. Chàng không nghe rõ tiếng tách trơ trẽn của chủ nghĩa cộng sản. Ở trong hòm kính, hẳn Hồ Chí Minh đã bẽ bàng vì không chinh phục nổi ước mơ của con người.

Rốt cuộc, người ta lại cho chàng về với căn phòng cũ. Chàng phỏng đoán. Vẫn tuyệt đối im lặng. Cám ơn sự im lặng. Chàng đã tưởng cuộc chiến đấu của chàng bắt đầu từ khi trở lại quê hương. Lúc này, chàng hiểu rõ hơn và khẳng định với chính mình rằng, cuộc chiến đấu của chàng khởi sự từ lúc chàng bị bắt, khởi sự từ lúc tay chàng bị còng, chân chàng bị xích, mắt chàng bị bịt và bị tống vào căn phòng nhỏ hẹp, hôi hám của chủ nghĩa cộng sản. Bước chân chàng đặt lên đường phố Sàigòn là một chứng tỏ dấn thân đích thực, không bao giờ là phô trương phù phiếm. Sự có mặt chưa phải là chiến thắng. Sự chiến thắng ở những ngày sắp tới, ở những tháng năm quằn quại tù ngục mà chàng sẽ kiên nhẫn chịu đựng và ở cái chết của chàng.

Dẫu bị bịt mắt, con sư tử sa cơ, mình mẩy găm đầy tên thù cộng sản, vẫn áng lên những tia kiêu ngạo. Những tia kiêu ngạo xuyên thủng miếng vải đen đấy và sẽ xuyên thủng thành lũy chủ nghĩa phi nhân. Cộng sản đã làm mềm nhũn những trái tim sắt bằng đòn phủ đầu như họ đã áp dụng với chàng. Họ đã chế ngự đầy đủ thành phần xã hội miền Nam. Nhưng họ cam đành thất bại nhục nhã với những người tuổi trẻ thế hệ sau 30-4-75 trong nước. Và, hôm nay, họ phải đối phó với thế hệ tuổi trẻ sau 30-4-75 ngoài nước. Chàng thầm cám ơn cộng sản, bởi vì, cộng sản đã giúp chàng kinh nghiệm chiến đấu, đã tạo thêm cho chàng lòng can đảm để biết khinh thường thủ đoạn của họ

                                                                       ( Xem tiếp chương 2 )

Một Người Tên Là Trần Văn Bá

Chương 2

Người ta đã gỡ miếng vải bịt kín mắt chàng. Đó là sự tiến bộ thứ nhất. Đôi mắt chàng nhức nhối. Chàng chỉ dám hi hí mở từng giây rồi nhắm lại ngaỵ Phải mất thời gian khá lâu chàng mới có thể nhìn rõ sự vật trong căn phòng tối mò. Tay chàng vẫn đeo còng. Chân chàng vẫn mang xích. Chàng thấy căn phòng có vẻ khác lạ. Chắc ăn, chàng lê chân xích từ cửa đến bức tường đối diện. Quả nhiên, nó dài hơn căn phòng cũ. Vậy là, sau khi đem chàng đi dọa thủ tiêu, người ta đã chuyển chàng tới một địa điểm khác. Bây giờ, chàng cảm giác đói và khát. Nếu đồng hồ là cái dạ dầy thì một ngày đã quạ Vì cảm giác đói, khát nên chàng muốn tiểu tiện. Chàng quan sát căn phòng thượng hảo hạng – một kiểu cachot Leninít – của khách sạn quốc doanh xã hội chủ nghĩa. Không có cầu tiêu. Không có vòi nước. Không có cả lấy một cái xô để tội nhân tiểu tiện, đại tiện. Người cộng sản bủn xỉn đến thế là cùng! Họ chẳng thích tội nhân nằm chiếu. Cachot trống trơn. Tài sản chứa chất trong đó là chàng, cái còng, sợi xích, mùi hôi hám và bầy muỗi đói.

Chàng lê chân xích sát góc tường, dùng hai tay còng chéo sau lưng, khó khăn kéo quần rồi ngồi xuống tiểu tiện. Chàng đã đái lên cái bản chất thô bỉ của cộng sản! Và chàng khoan khoái vô cùng. Người ta mở cửa cachot, đem vào một đĩa cơm vài miếng thịt và trái trứng vịt khọ Tay chàng được mở còng. Chàng đưa tay về phía trước, nâng lên, lấy tay phải nắm cổ tay trái; tay trái nắm cổ tay phải. Chàng dơ cao tay, vươn vai thoải mái.

– Tôi có được phép hỏi thăm vài câu không? Chàng hỏi

– Được. Hỏi đi. Vắn tắt. Người của chế độ đáp.

– Mấy giờ rồi?

– Anh không cần biết thời giờ. Hai bữa cơm là ban ngày. Sau đó là ban đêm. Và vô tận.

– Tôi bị giam ở đâu?

– Việt Nam. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

– Tôi đi đái ở đâu?

– Đây.

– Đi ỉa?

– Đây luôn.

– Có giấy chùi đít không?

– Không, không có gì cho anh cả. Tôi không đủ khả năng cho anh những thứ anh cần.

– Khả năng của anh là gì?

– Là triệt để tuân hành mệnh lệnh.

– Đêm qua…

– Tôi mới nhận công tác sáng naỵ Anh ăn đi, ăn khẩn trương…

Chàng dùng muỗng xúc cơm ăn. Chàng cố ăn thật chậm, nhẩn nha nhai để kéo dài thời gian > Người ta đem thêm vào ca nước lạnh. Ăn uống xong, người ta lại còng tay chàng với tư thế cũ.

– Anh thông cảm – người của chế độ nói – tôi không đủ khả năng đổi thế còng cho anh để nằm.

– Cảm ơn.

– Tôi không làm ra mệnh lệnh nhưng tôi khuyên anh một điều.

– Anh khuyên tôi? Chàng ngạc nhiên.

– Phải, tôi khuyên anh bằng tình cảm con người với con người.

– Được.

– Trong mọi hoàn cảnh, đừng bao giờ anh dại dột tự tử. Tự tử trong bóng tối thật vô ích.

– Tại sao anh biết tôi sẽ tự tử?

– Vì kinh nghiệm nghề nghiệp. Nhiều người quá sợ hãi chế độ, tưởng rằng sẽ bị tra tấn khiếp đảm nên tự tử. Thực ra, không hề có tra tấn những người như anh.

– Anh biết về tôi?

– Tôi biết nơi đang nhốt anh.

– Tại sao anh khuyên tôi?

– Vì tình người! Anh hiểu chứ, tôi cũng rên xiết khi đau đớn, khóc khi buồn và cười khi vui…

– Nếu tôi tự tử?

– Chẳng bao giờ anh tự tử nổi đâu. Chúng tôi dễ dàng phát hiện ý định tự tử của anh. Anh thừa hiểu, cá nhân công an có thể ngu đần nhưng kỹ thuật và nghệ thuật công an thì, dưới bất cứ chế độ nào cũng đều siêu đẳng cả. Nếu chúng tôi phát hiện được ý định tự tử của anh, trước hết, chân anh bị còng dính tay anh, miệng anh bị nhét một trái chanh và dán kín băng keo. Anh tuyệt thực à? Chúng tôi đè kỹ anh khiến anh hết nhúc nhích và rót sữa vào mồm anh. Đó là phương pháp cơ điện. Y học cộng sản tiến bộ lắm rồi, chúng tôi có hàng trăm cách níu anh ở lại với cuộc đời ngục tù mà anh tình nguyện chọn lựa. Hãy nhớ kỹ, chúng tôi đã có phi hành gia vũ trụ.

– Phạm Tuân?

– Và nhiều người khác nữa.

– Muốn hỏi anh thêm một chút được không?

– Được.

– Cấp bậc anh trong ngành công an?

– Quân hàm?

– Phải.

– Trung sĩ.

– Trung sĩ gì?

– Trung sĩ là đủ.

Người công an mang dĩa cơm thừa và cái ca nhựa ra khỏi cachot. Anh ta khép cửa nhẹ nhàng và bấm ba lần ổ khóa. Chàng ngồi dựa lưng vào chiều ngang bức tường cachot, chân duỗi chưa thẳng đã đụng bức tường đối diện. Qua nửa dĩa cơm và ca nước đầy khiến chàng tỉnh táo. Trong đời chàng, từ thơ ấu tới nay, chưa bao giờ chàng được uống thử nước nào tuyệt diệu bằng ca nước lạnh đầu tiên trong ngục tù. Mỗi hớp nước là mỗi niềm bí ẩn của đời sống. Đó là hạnh phúc trong bất hạnh. Hạnh phúc trọng thể tìm thấy ở một cảnh vui phù ảo, giả tạo. Cũng vậy, tự do, dân chủ, độc lập không thể kiến tạo bằng những hò hét giả vờ, nhưng dấn thân ngụy tạo ở miền hoan lạc nương cậy. Giá trị của người đi chiến đấu là chấp nhận mọi thống khổ và biết tìm sự thống khổ nhưng ý nghĩa cao cả cho mọi ngườI là hình tượng nỗi khao khát tự do của dân tộc. Hình tượng mọi người trong cộng đồng dân tộc sẽ uống từng hớp tự do sau những năm đói quằn quại thê lương. Nỗi thống khổ mời gọi chiến đấu. Kinh qua thống khổ là thắp hào quang chiến đấu. Vậy thì nỗi thống khổ đã soi sáng con đường chiến đấu… Trước hết, nỗi thống khổ mang tính chất tiểu ngã sẽ hòa nhập vào đại ngã. Người đi chiến đấu hiểu rõ tại sao mình phải chiến đấu, vì ai mình chiến đấu, lý tưởng nào thôi thúc mình chiến đấu. Chàng vừa khám phá ra niềm rung động của thống khổ. Chàng như Thạch Sanh bị lấp dưới hang. Nhờ ở dưới hang, chàng có cơ hội soi bóng mình trên mặt nước lung linh, huyền ảo, so lại dây đàn, nay cùng điệu mới hòa nhập hồn mình với hồn nhân gian. Âm điệu, thản thanh của Thạch Sanh được tôi luyện bằng cảm xúc từ oán khổ. Và âm điệu ấy đã thoát lên đời, đã làm xao xuyến ma quỷ, đã dạy những Lý Thông về địa ngục hèn mạt của chúng.

Chàng đang ngồi trong cachot như Thạch Sanh đã ngồi dưới hang sâu thăm thẳm. Chàng đang tìm hạnh phúc trong bất hạnh như Thạch Sanh đã so dây đàn, soi bóng mình, tìm cái tuyệt đối chân thiện mỹ cho cuộc đời. Chàng bằng lòng làm, nghĩ rằng, mỗi ngày oan nghiệt, đời sống sẽ cống hiến thêm cho con người một niềm bí ẩn. Sống để đi đến tận cùng của đời sống tức là sống để thu nhận trời biển oan khiên cho riêng mình. Chưa đủ. Đi đến tận cùng của đời sống để xóa bỏ tất cả oan khiên cho mọi người mới đích thực là lý tưởng. Lý tưởng này không thể tìm thấy ở bọn quen thụ hưởng. Những bọn quen thụ hưởng là những bọn nào? Trước hết là đám ruồi xanh đã bu kín trên cái miệng đỉnh chung tôi mọi cũ. Chúng đã hèn mọn chạy trốn, bỏ cuộc như những tên đào ngũ khốn kiếp. Chúng ngu dại không chịu nằm yên thân phận giống bầy chó ghẻ già nua, ngồi gặm những khúc xương đầy thịt mà chúng ngoạm chặc trên bước đường bôn tẩu. Chúng càng dốt nát không hiểu thời và thế. Thời của chúng đã cáo chung. Thế của chúng đã mất mát. Vậy mà chúng còn muối mặt xưng tước vị cũ, phong cho nhau tước vị mới, tranh giành lãnh đạo, cách chức lẫn nhau, mặc quần áo mới, quấn khăn rằn, trơ trẽn diễn tuồng kháng chiến cứu nước! Chúng lêu bêu xứ người, bất tài vô tướng, làm thầy hay làm thợ cũng chẳng xong, do đó, chúng tương tư quyền bính và phát động cuộc chiến đấu phục hồi dĩ vãng – phục hồi quyền bính của dĩ vãng. Chúng huyền hoặc người nhẹ dạ, khỏa lấp dư luận, dọa nạt người công chính, bôi bác người đối lập. Chúng là lãnh tụ độc quyền giải phóng quê hương, là bầy tướng tá Quảng Lạc diễn chèo, là bọn mà Nguyễn Khuyến đã mỉa mai:> Thứ đến là bọn trí thức bất lương, tình nguyện làm đám > chạy cờ cho lãnh tụ Quảng Lạc để được chia tiền lạc quyên, xổ số. Bọn này lãnh nhiệm vụ bao vây, ngăn cản những người tài năng vàng mười dám nói sự thật. Những người tài năng dám nói sự thật đều là những người đã quằn quại trong ngục tù cộng sản, thừa thải kinh nghiệm đánh cộng sản và chưa hề làm đày tớ Mỹ. Những người này đã nổi tiếng ở Việt Nam, chúng sợ lưu vong sẽ nổi tiếng hơn, sẽ > hết quyền lãnh đạo của chúng. Và chúng tạo dựng nhiều chuyện khả ố: Chuyện khiếp nhược không dám chống đối các cai tù chăn trâu cắt cỏ, chuyện làm tay sai cho cộng sản trong tù bị chọc thủng mắt, bị liệng xuống giếng, chuyện vượt biên bị liệng xuống biển, chuyện cộng sản gài vượt biên để dễ hoạt động cho cộng sản, vân vân… Bọn trí thức nửa mùa và bất lương này lập hàng rào cô lập người công chính. Chúng sợ người công chính đến với tuổi trẻ thì chúng hóa thành giả hình và nhỡ bị lột quần áo, mọi người sẽ thấy rõ tác phẩm ghẻ lở, què quặt, cóp nhặt của chúng. Và chúng hết nhí nhố. Tội nghiệp chưa? Sau hết là bọn sống ở Pháp ròng rã 30 năm, dài hơn cuộc chiến Việt Nam khốn khổ, chẳng hiểu đất nước mình ra sao mà cứ thích chất vấn những nạn nhân cộng sản. Chúng không chịu sáng tạo, thấy người ta sáng tạo thì chúng ghen ghét, hạch hỏi:>! Và cũng chỉ đến biết vỗ tay hoan hô tướng tá Quảng Lạc. Đó, những hạng vừa kể trên, dẫu có sống thêm chín kiếp cũng không dám đi đến tận cùng của đời sống để xóa bỏ tất cả oan khiên cho mọi người. Chúng chỉ giỏi bịa đặt, chỉ dám núp trong xó tối phì nọc rắn. Tội nặng nhất của chúng và công ty là lừa gạt niềm tin của mọi người, làm cản trở sự nghiệp tiêu diệt cộng sản giải thoát dân tộc. Chúng làm gì có lý tưỏng. Chúng chỉ có cái miệng lưỡi của >

Lý tưởng đi đến tận cùng đời sống để xóa bỏ oan khiên cho dân tộc, giải phóng tổ quốc, tạo dựng hạnh phúc cho giống nòi là lý tưởng của tuổi trẻ hôm naỵ Tuổi trẻ hôm nay, tuổi trẻ thế hệ sau 30 tháng 4 năm 1975, có dĩ vãng vằng vặc trăng sao, có hiện tại hừng hực mặt trời. Họ chưa hề thụ hưởng gì của dĩ vãng. Họ cũng chẳng hề có quyền bính gì trong dĩ vãng. Họ chưa hề làm tôi mọi cho một thứ quyền lực quốc tế nào, tư bản hay cộng sản, Mỹ hay Liên xộ Nói cho đúng, tuổi trẻ đã là nạn nhân thảm thương của dĩ vãng, của những quyền lực thao túng quê hương Việt Nam từ 1945. Từ chiêu bài quyến rũ > đến cách mạng què cụt 1-11 > mấy thế hệ tuổi trẻ đã bị lừa bịp, đã chết không một nấm mồ, đã mang thương tích u mê vì tham vọng của chủ nghĩa và sự khờ khạo của lãng tử quốc gia. Những người tuổi trẻ của Hà Nội 1946 hồn ở đâu bây giờ? Những người tuổi trẻ tuyệt diệu đó, những sinh viên tự vệ thành dũng cảm đem thân mình ngăn xe tăng của thực dân Pháp, còn ai nhớ chiến tích của họ, còn ai tưởng niệm họ? Những người tuổi trẻ lãng mạn cách mạng trong trung đoàn Ký Con, trung đoàn Thủ Đô còn lại ai? Họ đã bị cộng sản trá hình Việt Minh đẩy lên tuyến đầu chết thay cho họ cả rồi. Đến cuối 1950, lịch sử và Đảng sử chỉ ghi chép sự hy sinh cho tổ quốc và nhân dân của những người lính nông dân. > Ôi, những người tuổi trẻ thế hệ 1945, những người mà nhà văn Nguyễn Mạnh Côn gọi là những người > những người đã lo ngại Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc trong mơ ước của mình, Nguyễn Ái Quốc là tên cộng sản xảo quyệt, là thứ Lê Chiêu Thống chủ nghĩa phi nhân. Nhiệt tình và lòng tự chủ của tuổi trẻ Việt Nam thế hệ 1945 đã bị cộng sản nướng khét bằng lửa mác xít. Bị nướng ròng rã 10 năm cho một nền độc lập cắt đôi tổ quốc; cho triền miên đói rách, ngu dốt, thanh toán, thủ tiêu, đấu tố, tù đày. Khi có những biến động trong lịch sử, những kẻ tiền phong dấy động là tuổi trẻ và những kẻ bị khai thác tận tình, bị lợi dụng tội nghiệp vẫn chỉ là tuổi trẻ. Bạn còn nhớ những người tuổi trẻ Sàigòn 1955 khởi sự công cuộc chống cộng sản không? Họ đã dấn thân tích cực. Họ đòi > Họ muốn > Họ truy lùng Văn Tiến Dũng giữa Sàigòn. Họ đốt > Họ khai phóng một phong trào. Họ lay động bọn khiếp nhược, tiêu cực. Họ làm sinh động đời sống. Trong họ, nhiều người bị bỏ tù, bị đánh đập, bị bắn mù mắt. Chế độ vững vàng nhờ tinh thần sư tử của họ. Và chế độ bắt bớ, đàn áp họ. Chế độ chỉ ban phát ân huệ cho bọn > Bọn cai thầu trứng mới lớn của ông Ngô Đình Nhụ Bọn cai thầu đang có mặt ở Paris. Bạn muốn biết chúng nó là ai không? Có đứa nhờ thầu tuổi trẻ mà vinh hiển suốt đời. Có đứa mon men mãi cũng leo lên chức Bộ Trưởng. Kinh nghiệm đấu thầu tuổi trẻ của chúng nó là cẩm nang của bọn thầu khoán tuổi trẻ quốc ngoại hôm naỵ Kinh nghiệm của cai thầu tuổi trẻ, buồn thay, chỉ là thương đau của dân tộc, là xoáy mòn niềm tin của tuổi trẻ, là phôi pha nhiệt tình, là ngờ vực, là lừng khừng với đời sống. Sau hết , là bọn bon chen trên đường khoa bảng giá áo túi cơm và nổi loạn vô duyên cớ và tích lũy thù hận đàn anh. Chúng thù hận có dịp bung ra, đó là cơ hội rách nát lịch sử. Tuổi trẻ Việt Nam bị trúng một phát tên độc ngóc đầu lên không nổi: Mũi tên USẠ Người Mỹ xách động tuổi trẻ tiêu diệt chế độ Ngô Đình Diệm để được suy tôn > Tôn Thất Đính, Đỗ Mậu, Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn! Bọn phản nghịch dốt nát biến thành thần tượng của tuổi trẻ. Mỉa mai quá. Sự mỉa mai thấm vào tim phổi tuổi trẻ, sự nổi loạn có duyên cớ khai sinh. Và hậu quả của thức tỉnh là tuổi trẻ triền miên hưởng phi tiển, dùi cui, lựu đạn cay và ngục tù của đám bảo vệ chế độ, đám công an, cảnh sát, đám cò cơm vô liêm sĩ.

Đám ngoài hay đàng trong, tuổi trẻ đã là công cụ của các thứ chế độ, của lãnh tụ đảng phái, của bọn thầu khoán bất lương. Ba mươi năm, tuổi trẻ bị đày ra chiến trường cho những tham vọng khốn kiếp của cộng sản và tư bản và bầy tôi mọi của chúng. Mấy triệu thanh niên đã chết dọc đường mòn Hồ Chí Minh, khe núi Trường Sơn, rừng già Pleime, biển cát Hạ Lào. Trường Chinh, Phạm Văn Đồng vẫn sống. Bọn tướng lãnh Sàigòn vẫn sống. Trong nước, phù thủy gian ác cộng sản lại huyền hoặc tuổi trẻ bằng chiêu bài mới > để lứa tuổi trẻ phơi xác ở Kampuchia > lừa tuổi trẻ vào nơi khỉ ho cò gáy để làm, > đi tải đạn ra chiến trường, lừa tuổi trẻ vào ngục tù, trại tập trung để ngăn chặn phản kháng. Ngoài nước, đạo diễn mù lại vỗ về tuổi trẻ, vuốt ve nhiệt tình tuổi trẻ bằng chiêu bài kháng chiến chống cộng sản trình diễn. Ở không gian và thời gian nào thì tuổi trẻ cũng vẫn là những người nặng tình non nước, những người con xứng đáng được tổ quốc tin cậy, những người dám làm lịch sử và không mang công danh địa vị. Họ ví như cây ăn trái hứa hẹn những mùa màng tốt đẹp, vô hạn. Bọn lãnh tụ trá hình, bọn đào ngũ chạy trốn hèn mọn đã là những cây mục chờ ngày gục xuống vĩa đời. Chúng đã nắm quyền bính và vẫn thèm thuồng quyền bính để bảo vệ quyền lợi của chúng, để thao túng, để hống hách. Khi quyền bính bị tước đoạt, chúng nắm tương tư quyền bính. Vì ngu dốt, chúng không thể tạo nổi thứ quyền bính tự tạo nên chúng phải bấu víu lấy tước vị tôi mọi cũ trong cái thế nhân dân đã phủ nhận tước vị cũ của chúng. Và chúng diễn trò yêu nước một cách vụng về. Đứa mặc quần áo, quấn khăn rằn của kẻ thù, tự phong chủ tịch. Dựa trên cái quá khứ > vênh vang tự biến mình thành kẻ viết chủ thuyết cho phong trào!

Lịch sử hiện đại chỉ thấy bọn tướng lãnh thoán nghịch, bọn sĩ quan tá, úy làm đảo chính. Chưa hề thấy, trong nhân loại, bọn thú lại đi làm cách mạng. Thú lại là bọn giở chiêu nào nướng chiêu ấy, chế độ nào cũng tốt, cũng đang phục vụ miệng răng yên thân. Cũng chẳng thấy công an cảnh sát làm cách mạng bao giờ! Công an, cảnh sát là công cụ bảo vệ chế độ và lãnh tụ đắc lực và hữu hiệu nhất. Một phong trào, một đoàn thể, một lực lượng nào âm mưu lật đổ chế độ, dù là chế độ độc tài, công an sẽ đàn áp thẳng taỵ Tuổi trẻ Việt Nam từ 1963 đến 1975, ở Sàigòn, còn ấm áp những kỷ niệm đàn áp dã man của cảnh sát nổi, cảnh sát chìm, cảnh sát dã chiến. Người nữ sinh viên nào bị đốt núm vú ở Ty Cảnh sát Quận 1? Người nam sinh viên nào hưởng liên tiếp một tuần lễ đòn của thợ đánh người ở trong nha Cảnh sát? Cứ hỏi ông Phạm Văn Liễu, ông Trang Sĩ Tân, một là Tổng Giám đốc Cảnh sát, một là Giám đốc Nha Cảnh sát Đô Thành, sẽ biết rõ thủ đoạn đàn áp sinh viên học sinh Sàigòn xuống đường đòi hỏi tự do, dân chủ. Tuổi trẻ trong nước năm xưa bị nếm dùi cui, phi tiễn tàn bạo của cảnh sát. Một số người nông nổi vì quá căm phẩn đã bỏ vô mật khu theo cộng sản. Cảnh sát và tinh thần bảo vệ chế độ của họ đã dồn tuổi trẻ vào bước đường cùng, đã giết chết nhiệt tình của tuổi trẻ. Người tuổi trẻ Việt Nam du học lâu năm ở ngoại quốc chưa có kinh nghiệm cay đắng của những người thuộc thế hệ họ. Lòng yêu nước và niềm tin giải phóng dân tộc của họ bị ru ngủ bởi lũ cò mồi. Hình tượng một cậu bé ngây thơ, mặc quần áo Tết, cố len vào đám bầu cua cá cọp. Biết cậu bé ham ăn, cò mồi đánh đâu thắng đấy. Cậu bé móc túi, lôi ra những phong bao lì xì thơm tho, theo cò mồi liệng tiền xuống chiếu bạc. Và cậu bé cháy túi. Chủ sòng và cò mồi chia tiền nhau, chia những đồng tiền của cậu bé non nớt, ham vui!

Tuổi trẻ Việt Nam thường xuyên bị cò mồi chính trị dụ dỗ. Ở Mỹ Châu, ở Úc Châu, ở Âu Châu thiếu gì cò mồi kháng chiến. Ngay ở Paris cũng có thứ cò mồi gớm ghiếc đó. Nó in được bạc giả nên nó tiêu bạc giả vung vít. Nó dùng bạc giả nên nó khỏa lấp người công chính, vu khống người công chính và ngăn các người công chính tới gần tuổi trẻ. Nó giả hình văn nghệ. Nó vô liêm sĩ nhận mình là nhà văn để len lỏi vào cõi văn học nghệ thuật. Tất cả đều đáng bỏ qua, bởi vì, sẽ có ngày mọi người biết nó tiêu bạc giả. Nhưng một điều không thể tha thứ cho nó vì nó nhúng vào tội ác đối với dân tộc, đối với công cuộc kháng chiến giải phóng quê hương chân chính, đích thực là nó đã đưa tuổi trẻ Việt Nam ở Âu Châu vào tay tên trùm cảnh sát, tên trùm đã dày thành tích tra tấn, đàn áp, bỏ tù tuổi trẻ dám chống chế độ độc tài, tham nhũng. Thiếu tuổi trẻ và nhất là tuổi trẻ trí thức, bảng hiệu của Công ty của trùm cảnh sát và đồng bọn không thể làm ăn, chia chác được. Do đó, cò mồi đã xâm nhập tuổi trẻ, khuynh loát tuổi trẻ, biến tuổi trẻ thành những người đi lạc quyên và bán vé xổ số. Nghĩ cũng bẽ bàng khi tuổi trẻ hôm nay suy tôn một kẻ từng đàn áp không thương sót tuổi trẻ hôm qua! Có lẽ người ta muốn tạo dựng một chế độ cảnh sát mới ở Việt Nam mai này?

Đó, chàng đã suy nghiệm thân phận tuổi trẻ Việt Nam. Và, dưới hang sâu thăm thẳm, chàng vừa nhận ra một chân lý: Tuổi trẻ Việt Nam bị làm guốc cho các chế độ, các lãnh tụ thật và giả lâu quá rồi. Guốc mòn, vất đi. Một thế hệ rác rưởi. Thay guốc mới. Thêm một thế hệ mệt mỏi, lạc lỏng. Bây giờ là lúc tuổi trẻ Việt Nam phải làm mũ, nón tự đội lên chính đầu mình mà đi tìm hạnh phúc vinh quang cho dân tộc. Bởi vì, dĩ vãng của tuổi trẻ hôm nay là mặt trăng, hiện tại của tuổi trẻ hôm nay là mặt trời. Tuổi trẻ hôm nay không mảy may mặc cảm tội lỗi nào với dân tộc, với quê hương. Chàng sảng khoái và bất giác, chàng nói lớn: > Rồi chàng mỉm cười, lặp lại lời khuyên của người công an: > Người cộng sản tua tủa thủ đoạn. Họ sợ chàng tự tử và giả nhân giả nghĩa khuyên chàng đừng dại dột tự tử. Họ sợ chàng chết sẽ đem theo mọi bí ẩn xuống mồ. Người trung sĩ công an, không, chàng không tin y là trung sĩ. Trung sĩ chỉ là bí danh. Y phải là cán bộ trung cấp của Đảng. Chàng nghĩ thầm: > Và chàng nhắm mắt, ngủ một giấc ngon lành.

                                                                                                                                                                              ( Xem tiếp trang 3)

Duyên Anh

Một Người Tên Là Trần Văn Bá

Chương 3

Bữa cơm thứ hai giống hệt bữa cơm thứ nhất. Khác một chút thôi. Là Trung Sĩ được thay thế bằng một người khác.

– Anh cũng là Trung sĩ? Chàng hỏi.

– Không, Thượng sĩ. Người công an đáp.

– Bí danh hay quân hàm?

– Quân hàm.

– Tên khai sinh của anh là gì?

– Đứng dậy, tôi mở còng tay cho anh.

– Tôi gọi anh là Thượng Sĩ vậy.

Chàng vươn vai, nắm cổ tay, nói bâng quơ:

– Anh có thèm được tháo xích chân một lúc không?

Chàng nói:

– Anh nên hỏi xích, đừng hỏi tôi câu ấy.

– Tại sao phải hỏi xích?

– Vì nó thèm tháo.

– Tại sao anh biết xích thèm tháo?

– Vì tôi nghĩ rằng xích đau chứ chân tôi không đau.

– Anh muốn chân anh đau?

– Tôi muốn cả xích cũng không bị đau đớn.

– Tôi không nghe rõ xích rên la nên tôi không hỏi xích. Anh không thèm được tháo xích để chân thoải mái thì thôi. Anh tự do chọn lựa sự đau đớn.

– Phải, tôi đã tự do chọn lựa sự đau đớn.

– Vậy anh tiếp tục sự đau đớn vì sự chọn lựa mang đầy tính chất cường điệu của anh.

– Tôi luôn luôn bình thường.

– Anh muốn làm anh hùng? Nhớ kỹ điều này: Anh hùng của thời đại chúng ta chỉ tìm thấy ở những người cộng sản…

– Anh Thượng Sĩ – chàng cắt ngang câu tuyên truyền mòn vẹt của người công an – sau bữa cơm, tôi cần một cái xô, một cái hộp và vài tờ giấy.

– Nói là anh thèm đi!

– Vâng, tôi thèm.

– Để làm gì?

– Đi ỉa!

– Chưa có chỉ thị về điều anh yêu cầu.

– Về điều tôi thèm. Chàng nhấn mạnh.

– Về điều anh thèm. Thượng Sĩ nhắc lại.

– Thế thì tôi đi ỉa ở đâu?

– Ở ngay biệt giam này, chỗ nào anh khoái tự do chọn lựa.

– Anh không biết đau đớn à?

– Đau đớn cho anh?

– Không, đau đớn cho chế độ của anh, cho chủ nghĩa cộng sản của anh. Tưởng tượng một người tay còng, chân xích lết tới một góc phòng tối tăm, khó khăn tụt quần ngồi xuống ỉa, đái, dẫu có giấy chùi đít cũng khó khăn chùi nổi. Rồi, con người lại phải nằm, ăn, ngủ chung với cức, nước đái, còng, xích và nghe người khác luận về anh hùng thời đại, anh không đau đớn ư? Xích và còng của chế độ biết đau đớn đấy, anh Thượng Sĩ ạ!

– Anh đã tự do chọn lựa sự đau đớn, thắc mắc gì nữa?

– Thắc mắc cho anh thôi. Tôi tự do chọn lựa thêm nỗi đau đớn cho chủ nghĩa của anh.

– Đó là hình phạt cho sự chọn lựa dại dột của anh.

– Cũng là bản chất đạo đức giả của chủ nghĩa cộng sản. Các anh hằng rêu rao chủ nghĩa của các anh quý trọng con người, bảo vệ con người đích đáng. Các anh đánh bóng danh từ học tập, cải tạo. Thế giới u mê, nặng thành kiến và khiếp sợ tin các anh. Hãy hỏi chính anh đi, anh đang giáo dục tôi cái gì, các anh đã giáo dục tôi cái gì. Chỉ là đe dọa và đọa đày siêu đế quốc, siêu phát xít. Anh không còn là anh nữa, các anh không còn chất người nữa. Bây giờ tôi mới thấy rõ các anh ra và có một số sãnh sẹ khiến anh nổi giận.

– Anh cứ nói đi

– Chủ nghĩa của các anh như cái sàn cachot này, > Thượng Sĩ à! Và tôi đau đớn giùm chủ nghĩa ấy vì tôi phải ỉa, đái lên nó bởi hình phạt của lũ giáo điều. Anh còng tay tôi lại và mang cơm nước ra khỏi phòng đi. Tôi không ăn để khỏi phải ỉa lên chủ nghĩa cộng sản.

Người công an, bí danh Thượng Sĩ, không những không nổi giận mà còn ngọt ngào:

– Còn họ, lúc vừa bị vướng lưỡi, vùng vẫy, gầm thét, cứ ngỡ mình vẫn là chúa sơn lâm. Vùng vẫy gầm thét chán thì mệt mỏi và sợ hãi và biến thành con chó đói. Anh đang mang tâm trạng của con hổ sa lưới.

Chàng cười gằn:

– Tôi không phải là họ, đáng tiếc quá.

– Anh tự ví anh là gì?

– Chẳng ví gì cả, tôi là người. Tôi chấp nhận mọi ngược đãi vì tôi hiểu những kẻ đã hành hạ tôi không là người, không bao giờ có thể là người nổi. Tôi không tự ăn uống.

– Anh định tuyệt thực?

– Không tuyệt thực, tôi tự do chọn lựa ăn uống và ỉa đái. Các anh cần thiết ăn uống, tôi cần thiết ỉa đái. Luôn luôn tôi có tự do.

Người công an không > với chàng nữa. Y bước ra khỏi phòng biệt giam. Cánh cửa sắt mở rộng thêm. Y không mang dĩa cơm ra, cũng không còng tay chàng lại. Chàng ngồi xuống dựa lưng vào tường, bất động. Chàng biết, đôi mắt cú vọ của Thượng Sĩ và, có thể, của các đồng chí của y, đang chiếu những tia cực sáng theo dõi từng cử chỉ của chàng. Một hành động nào đó mà họ nghi rằng chàng muốn tự sát, họ sẽ can thiệp tức thời. Nhưng đời nào chàng dại dột tự sát. Chàng mong mỏi đi tới cuối đích đau khổ, đi xuống đáy đời hệ lụy để soi sáng lý tưởng chiến đấu của chàng. Người cộng sản muốn đo lường tư tưởng của chàng và chàng muốn đo lường phản ứng của họ. Do đó, chàng đã dùng những lời lẽ khiêu khích sự phẫn nộ của kẻ thù. Cộng sản thật điêu luyện trong nghệ thuật khai thác niềm bí ẩn của con người. Họ nhẫn nhịn, kiên trì và triệt để tuân hành chỉ thị. Nếu không vì trì chí, không hóa thành máy móc, Thưọng Sĩ đã đánh đập chàng cho bỏ ghét. Chàng đã hiểu kẻ thù sợ chàng tự tử, chàng vừa hiểu thêm, kẻ thù rất thèm chàng, rất cần chàng, rất khao khát chờ đợi những > của chàng để ra taỵ Chàng nhắm mắt, thấy ý nghĩ bay vút ra ngoài vùng trời rộng bao la.

Thượng Sĩ lại vào.

– Anh nhất định tuyệt thực?

Chàng mở mắt.

– Tôi cần giải quyết ỉa sau khi ăn.

– Ăn trước, yêu sách giải quyết sau.

– Tôi không yêu sách, yêu cầu, van xin.

– Muốn gì?

– Tôi muốn khỏi phải khinh bỉ các anh. Thù hận và khinh bỉ khác nhau.

– Đồng ý, tôi sẽ báo cáo lãnh đạo, nhưng anh ăn đi. Nhiệm vụ của tôi là mang cơm nước cho anh. Anh phải giúp tôi hoàn tất nhiệm vụ.

– Anh đổ cơm nước đi và báo cáo tôi đã ăn uống.

– Người cộng sản không biết gian dối.

– Vậy anh không phải là người cộng sản rồi!

– Đừng ngụy biện.

– Người cộng sản là người gian dối chuyên nghiệp. Anh thú nhận thế tôi mới tin anh là cộng sản và tôi sẽ ăn uống.

Thượng Sĩ nín thinh. Y còng tay chàng lại, mang dĩa cơm ra và quên luôn ca nước không đem vào mời chàng. Cánh cửa sắt đóng và khóa chặt. Bên ngoài chắc trời đã xế chiều. Bóng tối cachot mờ mờ, mông lung. Khi nó tối mờ, chàng đoán màn đêm đã trùm kín quê hương. Chàng bỗng đau bụng. > Thượng Sĩ, người của Đảng, đã bảo chàng thế, lúc chàng hỏi y chàng sẽ đại tiện ở đâu. Ở ngay biệt giam này, chàng đã tiểu tiện vung vít. Ở ngay biệt giam này, chàng sắp đại tiện. Biệt giam dành cho chàng và cho những người như chàng là nơi chốn của biểu tượng thiên đường mác xít. Cái nôi của nhân loại đấy. Sự ưu việt của chủ nghĩa đấy. Người ta đã nói nhiều, viết nhiều, la lối nhiều về chuồng cọp Côn Sơn dưới chế độ Sàigòn cũ. Chàng cũng đã thấy hình chuồng cọp in trên báo chí thế giới, nhất là báo chí Hoa Kỳ. Quả thật, chuồng cọp là chuồng cọp, những nơi có chắn song sắt thưa và đầy ánh sáng. Chuồng cọp chỉ giam những tù nhân nổi loạn trong tù, âm mưu vượt ngục, đánh giết tù nhân khác hoặc chống lại cai ngục. Chuồng cọp thoải mái hơn cả những cái chuồng mà phát xít Nhật nhốt lính Anh, lính Mỹ… Còn nơi chàng và bao nhiêu người Việt Nam, bao nhiêu người Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp khắc, Nga xô đang bị nhốt về tội yêu nước Việt Nam, nước Ba lan, nước Hung gia lợi, nước Tiệp khắc, nước Nga thì không phải cái chuồng, cái củi nữa. Đó là cái quan tài xi măng dựng đứng. Con người – con người của Thượng Đế tạo dựng – bị xích chắn, còng tay, bị nhốt trong đó, bị ngồi một kiểu, khó khăn tụt quần ỉa, đái và nao núng ăn uống, hít thở, thức ngủ và ước mợ Thế giới mù lòa đã không nhìn thấy cái quan tài, cái nỗi êm ái của chủ nghĩa này. Và họ cam đành câm điếc để được cộng sản phong cho hai tiếng tiến bộ. Bọn đồng lõa với tội ác xúm nhau lại suy tôn lũ đồ tể sát nhân và ngoảnh mặt trước mọi đau thương của con người trong thời đại chung. Chàng buồn nôn. Không, để cứt tả lòng khinh bỉ, phải dùng chữ mới, dẫu thô bỉ song vẫn trên cả sự thô bỉ của cộng sản và bọn đồng lõa: buồn ỉa!

Và chàng gắng đứng dậy, lết tới góc phòng, dùng hai tay còng chéo sau lưng, tụt quần, ngồi xuống mà ỉa. Chàng cảm giác sung sướng vì đã chọn lựa đau đớn để được ỉa lên câu chính nghĩa > của cộng sản và bọn phiêu lưu. Làm xong công việc đại tiện, chằng lại gắng gượng đứng dậy, kéo quần lên. Hạnh phúc cho chàng là, trước khi tống vào cachot, công an bảo vệ chính trị và chống gián điệp đã lột hết áo quần, giày vớ của chàng. Họ muốn khám phá trong quần áo, giày vớ của chàng có dấu phim ảnh, tài liệu gì không. Trên thân thể của chàng chỉ còn vỏn vẹn dính cái quần xà lỏn, cái áo thung ân huệ của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Được hưởng mảnh áo, tấm quần của cộng sản, thật bẽ bàng! Người ta mở còng, tháo xích, bảo chàng tự mặc lấy. Mắt chàng vẫn bị bịt chặt. Rồi người ta còng tay, xích chân rồi mới đây chàng vô cái quan tài xi măng. Chàng để nguyên cái lỗ đít còn dính cứt mà lết sát cửa sắt. Cộng sản rất khoan dung, đại lượng. Họ chỉ hẹp hòi giấy chùi đít cho tù nhân!

Chàng nằm nghiêng, úp một bên má lên sàn xi măng lởm chởm đá râm. Chúng mỏi ê, chàng phải lăn để đổi má bên kia. Người xưa nằm gai, nếm mật tưởng đã là phi thường, dẫu sự nằm gai nếm mật chỉ xảy ra trong khoảnh khắc trình diễn để nhớ thù hằn, nuôi thù hằn. Người nay, chàng đó, tay ôm còng, chân mang xích, chiếc quần xà lỏn, chiếc áo thung, nằm trên nước đái và cứt, nằm trên nỗi nhục nhằn của kiếp người hệ lụy mà suy tưởng thân phận dân tộc mình, thế hệ mình và ước mơ làm đẹp đất nước, làm rạng danh giống nòi. Chàng không nuôi thù hận. Chàng không chủ trương tiêu diệt con người. Con người cần tồn tại, cần tìm lại đúng phẩm cách và quyền sống. Con người, ở thời đại chàng, bị chủ nghĩa và những trò chơi khốn kiếp của chủ nghĩa biến thành công cụ của thù hận để lao vào đâm chém, tàn sát lẫn nhau. Cái đích tiến tới của chàng và bằng hữu chiến đấu là đánh nát chủ nghĩa và lãnh tụ. Để cứu vớt con người. Để con người gần gũi con người, chia sẽ, cảm thông và yêu thương. Một ý nghĩ mà chàng cho rằng đúng với chàng là, trong cô đơn và trực diện thống khổ, con người khôn lớn vượt bậc. Lòng thành khẩn ở đây, nỗi thiết tha ở đây, sự trang trải ở đây. Nó không bao giờ là thành tích để làm dáng sự nhiệp tranh đấu, để khoe khoang công lao. Nó thật. Nó hiện thực. Nó không chiêm bao. Nó đang nghe muỗi đói vi vụ Nó đang ngửi cứt và nước đái. Nó đang sống trong cái quan tài xi măng.

Tiếng chìa khóa tra vào ổ. Chàng vụt thức nhưng giả vờ nằm im. Cánh cửa đã mở. Người ta quét một tia đèn pin khắp cachot và lay chàng dậy. Không phải Thượng Sĩ. Ba bốn nhân vật mới lạ. Người ta bịt mắt chàng, dẫn chàng ra khỏi cachot. Hoàn toàn im lặng. Người ta bê chàng lên, bỏ chàng vào cái cần xé, ấn chàng ngồi xuống. Vẫn tay còng chéo sau lưng, chân đeo xích, chàng ngồi một thế ngồi, một lối ngồi, một kiểu ngồi lạ lùng nhất từ thuở con người biết hành hạ con người. Hai bàn tay phía sau chạm vào nan tre, hai bàn chân phía trước chạm vào nan tre, chàng không thể nhúc nhích. Chàng nhớ, đã đọc hồi nào, bài báo viết về nỗi chết hãi hùng của nhà văn Lan Khai và nhà văn Khái Hưng. Cả hai đều bị bỏ vào cái bao bố với tảng đá nặng thắt chặt miệng bao và liệng xuống sông. Chàng đợi chờ người ta kết thúc đời mình như người ta đã hủy diệt Lan Khai, Khái Hưng. Cảm giác sợ hãi chưa hoàn toàn tê liệt, chàng vẫn còn rờn rợn. Người ta biết cách kéo dài cảm giác sợ hãi của con người; người ta thừa thải nghệ thuật tăng cao độ nóng đe dọa và giảm thấp độ lạnh khủng bố tinh thần con người dẫu con người gần kề cái chết. Với cộng sản, nỗi chết không còn phải là sự giải thoát cuối cùng mà là sự chịu đựng miếng đau đớn cuối cùng.

Người ta ràng dây trên miệng cái cần xé và buộc xoắn chắc chắn. Chàng thử nhô đầu lên. Đau nhói. Cái gai của sợi giây theo chui xuống đụng da đầu chàng. A, người ta ràng bằng giây thép gai. Chàng ngồi bất động nghe tiếng giây thép gai xoắn chung quanh miệng cần xé. Mồ hôi chàng toát ra. Nước tiểu đã, tự nhiên, chảy ướt đẫm quanh chàng. Chàng lên cơn sốt, cơn sốt sợ hãi một lối chết ghê gớm, một lối chết có thể tính bằng nhịp đập của trái tim. Nhưng lạ lùng thay, một đốm lửa bỗng vụt thắp trong cơn sốt khiến chàng tỉnh táo, sáng suốt: Chẳng bao giờ công an của bất cứ một nước nào thủ tiêu một kẻ thù chính trị nguy hiểm mà không khai thác tận tình. Người ta muốn làm nhụt chí khí của chàng. Người ta muốn làm chàng khắc khoải. Mệt mỏi cho dễ dàng sự khai thác. Nếu thủ tiêu chàng, người ta đã thủ tiêu đêm quạ Chàng lại có thêm một kinh nghiệm với cộng sản. Và chàng cảm thấy tội nghiệp nước đái sợ hãi. Chàng muốn lên tiếng khiêu khích. Vô ích. Hãy lấy sự im lặng trả lại sự im lặng.

Người ta kéo cái cần xé xềnh xệch trên sàn nhà. Người ta kéo nó tụt xuống ba bậc tam cấp của > Chàng như con chó, con heo trong cái cần xé. Đó là định nghĩa chính xác của sự bảo vệ phẩm cách con người của cộng sản. Người ta tung chàng lên sàn xe – xe bít bùng, chàng đoán – đóng cửa, khóa lại, và cho chàng đi. Xe chạy nhanh, chạy chậm, quẹo cua… Chàng bị xô dật ngang, dọc. Người ta cố tình tạo cách lật ngược cái cần xé trên đường xe chạy. Đầu chàng dong ngược. Giây thép gai tua tủa đâm thẳng vào da đầu chàng. Đôi khi, cái cần xé nằm ngang, chàng xoay tròn như khúc gỗ. Chàng chịu đựng hình phạt của thù hận cho đến lúc chàng hết còn biết đau đớn thì chiếc xe quái ác chủ nghĩa dừng lại ở một địa điểm nào đó. Người ta trả chàng về chốn cũ, đúng là chốn cũ, vì chàng ngửi thấy mùi cứt và nước đái của mình. Chàng sung sướng hít thở mùi thơm của tủi nhục và chàng nghĩ rằng mùi nước đái và cứt của chàng thơm tho và giá trị hơn mùi của chủ nghĩa cộng sản.

                                                                                                                                 ( Xem tiếp chương 4)

Duyên Anh

Một Người Tên Là Trần Văn Bá

Chương 4

Người ta tháo còng tay, cởi xích chân và, sau hết, người ta gỡ miếng vải bịt kín mắt chàng. Chậm rãi, chàng mở mắt. Người ta bảo chàng ngồi xuống ghế. Rồi người ta biến đâu mất. Bây giờ, chỉ còn một mình chàng trong căn phòng sạch sẽ ngập đầy ánh sáng điện, trước một cái bàn nhỏ. Chàng nắn cổ tay, nắn cổ chân. Chàng vươn vai, duỗi chân. Rồi chàng đưa những ngón tay lên đầu, nhẹ nhàng rẽ tóc, rờ rẫm những vết thương. Máu ở những vết thương đã khô nhưng những vết thương còn đau nhức. Chàng, hai bàn tay sướt sát vì nan tre cần xé. Và chàng tự hỏi người ta dẫn chàng tới đây làm gì.

Một người xuất hiện. Chàng ngồi im và đợi mãi không quên quan sát người ấy. Ông ta đứng tuổi, mang kính cận, mặc quần áo dân sự đơn giản, chân đi giày da và vai đeo cái túi xà cột. Ông ta tới sát cái bàn, gỡ túi xà cột đặt trên mặt bàn, kéo ghế ngồi đối diện chàng.

– Mạnh khỏe chứ, anh Bá? Ông ta mở đầu.

– Vâng, chưa chết. Cám ơn ông. Chàng đáp.

Ông ta ngạc nhiên:

– Anh nói gì? Chết. Tại sao phải chết? Tôi không hiểu. Thành thật tôi không hiểu.

Chàng thản nhiên:

– Tôi chưa chết.

Ông ta mím môi giận dữ, rồi gọi lớn:

– Đồng chí bảo vệ!

Người công an bảo vệ mở một cánh cửa gần đó, bước ra:

– Chờ lệnh đồng chí lãnh Đạo.

Ông Lãnh Đạo – hay tạm hiểu vậy – hất hàm:

– Đồng chí báo cáo những sự việc đã xảy ra. Khẩn trương và vắn tắt!

Người công an bảo vệ đứng nghiêm:

– Báo cáo đồng chí lãnh đạo, chỉ thị của Sở là áp dụng hình thức kỷ luật cao đối với tên phản động nguy hiểm Hoàng Văn Bá.

Ông Lãnh Đạo đập bàn:

– Hiện tượng và hiện tượng! Các đồng chí vô trách nhiệm. Tôi yêu cầu các đồng chí làm tự kiểm rút kinh nghiệm sai lầm. Đây là anh Trần Văn Bá, không phải Hoàng Văn Bá gài mìn đánh sập cầu cống bậy bạ. Rõ chưa?

Người công an bảo vệ khúm núm:

– Rõ.

– Đồng chí hiểu những vấn đề cần thiết phải giải quyết ngay không?

– Tôi hiểu.

Người công an bảo vệ mời chàng theo ỵ Y dẫn chàng vào phòng tắm, bảo chàng tắm gội và thay quần áo mới. Chàng không từ chối. Người công an đứng canh chàng ở ngay trong phòng. Xà phòng thơm, khăn tắm đầy đủ. Chàng mở hoa sen. Những tia nước phun xuống đầu tóc chàng mát rượi khiến chàng quên nhức nhối vết thương. Chàng sát xà phòng, khe khẽ vò tóc. Chàng vò thật lâu cho máu khô quánh tan ra. Người công an bảo vệ thân mật hỏi chàng:

– Anh là Trần Văn Bá, hả?

– Phải.

– Anh… Tôi nhận khuyết điểm với anh vì tưởng anh là Hoàng Văn Bá.

– Rồi sao?

– Anh trong vụ Hoàng Văn Bá à?

– Không.

– Nó đã giết năm đồng chí của tôi. Tôi lầm anh với nó.

– Anh lầm thật hay lầm giả đó?

– Thật.

– Nhưng chỉ thị của lãnh đạo không lầm đâu nhỉ?

Người công an bảo vệ nín thinh. Chàng sát xà phòng khắp mình mẩy, tắm một trận thoải mái. Bỗng chàng thấy hố là đã nói một câu đang lẽ không nên nói với công an. Vặn cái hoa sen lại, chàng dùng khăn lau khô mình mẩy, chà nhẹ tóc và niềm nở nói:

– Ở đời, ai mà chẳng có khi lầm. Chỉ thị của lãnh đạo đúng nhưng cán bộ thực thi sai lầm. Lỗi do tôi trùng tên với tên Hoàng Văn Bá, phải không anh?

– Đúng thế. Người công an hồ hởi.

Người ta để sẵn cho chàng bộ quần áo tù xám đậm còn mới nguyên. Chàng mặc xong, soi gương chải tóc rồi theo người công an bảo vệ trở ra chỗ cũ. Chàng thấy, trên chiếc bàn nhỏ, đã bày hai ly cà phê đá và một gói thuốc lá Thủ Độ Và đứng gần đó, một người con gái cầm một chiếc hộp. Người công an bảo vệ đã hết nhiệm vụ Ở đây.

Ông Lãnh Đạo ân cần:

– Anh ngồi đi! Ngồi xuống để cô y tá săn sóc vết thương cho anh kẻo bị làm độc.

Cô y tá tới chỗ chàng ngồi, mở hộp đồ nghề, dùng bông thắm khô nước trên những vết thương ở đầu chàng, ở má chàng, ở trán chàng rồi bôi thuốc đỏ lên. Cô ta đưa chàng mấy viên thuốc kháng sinh. Chàng cảm ơn cô y tá. Cô ta mỉm cười, bước khỏi căn phòng. Bây giờ, chỉ còn ông Lãnh Đạo và chàng.

– Anh dùng nước kẻo đá tan mất.

Ông Lãnh Đạo mời chàng. Chàng nâng ly cà phê đá uống một ngụm rồi, tiện thể, uống luôn mấy viên thuốc. Ông Lãnh Đạo bóc gói thuốc lá, niềm nở.

– Anh hút thử sản phẩm hảo hạng của ta.

Chàng rút một điếu thuốc Thủ Đô:

– Cám ơn ông.

Ông Lãnh Đạo bật lửa. Chàng mồi thuốc. Hít một hơi đầy dạ, chàng nhả khói:

– Thuốc lá ngon lắm, thưa ông. Tôi mong ước, con người đối với con người sẽ thơm như khói thuốc.

– Mọi việc sẽ tốt đẹp. Vấn đề cần bàn là thiện chí của mọi con người.

Ông Lãnh Đạo nâng ly cà phê, uống một hơi dài.

– Những gì người của chúng tôi đối xử với anh tôi đã được báo cáo. Bắt đầu từ giây phút này, mọi sự việc sẽ thay đổi, thay đổi hẳn.

Chàng thấy không cần thiết phải xoáy vào sự > Hãy để mặc Lãnh Đạo diễn xuất trọn vẹn vai trò của ông ta trong vở kịch Nhân Nghĩa ngắn ngủi. Và hãy để mặc Lãnh Đạo tưởng rằng chàng là một khán giả ngây thơ, một cậu bé nghe ba kể chuyện cổ tích, thần thoại.

– Tôi đến đây để thăm sức khỏe của anh và mạn đàm thân mật.

– Cám ơn ông.

– Tôi sẽ còn đến đây nhiều lần. Anh có thể yêu cầu bất cứ điều gì, nếu trong khả năng của tôi, tôi giải quyết tức thời.

– Vâng, tôi yêu cầu ông một điều.

– Ang cứ đề xuất.

– Ông cho tôi biết nhà tù này tên là gì?

Ông Lãnh Đạo cười:

– Anh Bá, không có nhà tù bình thường cho anh đâu. Những nhà tù mà bọn chúng đã tới, đã ra, đã vượt biên để viết sách, viết báo láo lếu là Sở Công An Thành phố, đề lao Gia Định, khám Chí Hòa, nhà tù Đại Lợi,v.v… đều không phải là nơi chốn của anh. Cũng chẳng bao giờ anh được đi học tập lao cải, nơi chốn mà bọn phản động gọi là trại tập trung, đâu. Đây là một biệt thự. Anh muốn hiểu là nhà tù thì nó là nhà tù Biệt Thự. Một can phạm như anh, tôi tưởng anh đã hiểu mình sẽ ở thứ nhà tù nào chứ?

Chàng nói:

– Tôi tưởng mọi can phạm đều bình đẳng và tôi yêu cầu được nhốt chung với các can phạm khác.

Ông Lãnh Đạo vẫn giữ nguyên nụ cười:

– Một anh, chúng tôi đã thấm mệt, nhốt chung anh với bọn phản động trong nước để anh tuyên truyền à? Anh không hiểu nguyên tắc làm việc của công an hay anh giả vờ ngây thở Tôi nói thật với anh đấy, anh Bá: Anh sẽ trở về Pháp hoặc anh sẽ ở đây cho đến khi anh chết. Cả hai trường hợp, anh đều không gặp ai và chẳng ai biết tới anh. Ngoài người cộng sản, không ai được phép làm anh hùng.

Chàng hỏi:

– Tôi sẽ trở về Pháp?

Ông Lãnh Đạo gật đầu:

– Phải, anh sẽ về Pháp, sẽ về bằng máy bay của hãng Air Francẹ Điều này, tôi hiểu, anh sẽ phải phấn đấu với bản thân anh khá lâu đấy. Nói đơn giản đi, anh muốn về Pháp, bất cứ lúc nào, đều do anh cả. Mà thôi, chúng ta mạn đàm thân mật.

Ông ta chuyển đề:

– Anh lập gia đình chưa anh Bá?

Chàng đáp:

– Chưa.

– Muộn quá đấy nhé! Đáng lẽ phải có, ít nhất, hai cháu rồi. Bác gái sống ở Paris, hả?

– Mẹ tôi sống ở tỉnh nhỏ.

– Bên ấy làm ăn dễ dàng không, anh Bá?

– Dễ và khó. Tất cả đều phải làm việc chăm chỉ.

– Lao động là cái đích của loài người.

– Vâng lao động là vinh quang, vinh quang thật sự. Làm nhiều hưởng nhiều chứ không làm nhiều ăn ít hay làm nhiều nhịn đói.

– Anh thích đời sống bên Pháp?

– Không.

– Sao vậy?

– Ở đấy tôi cảm tưởng tôi không phải là tôi.

– Vì thế anh xin người ta đưa anh về Việt Nam?

– Ông quyết đoán vội vàng quá.

– Tôi nhận khuyết điểm…

Chàng thấy > của Lãnh Đạo đã chẳng thân mật tí nào. Ông ta hỏi han vớ vẫn rồi dẫn chàng vào quỹ đạo của ông ta.

– Anh cần bảo vệ sức khỏe, anh Bá ạ! Đấ t nước ta khan hiếm tài năng và những người có lòng như anh. Anh sẽ gặp các vị lãnh đạo của tôi. Tôi nhắc lại: Mọi việc sẽ tốt đẹp. Anh nên nghỉ ngơi. Sẽ gặp anh sau.

Ông Lãnh Đạo gọi người công an bảo vệ dẫn chàng về phòng. Chàng đã được chuyển phòng. Và căn phòng mới đúng nghĩa là căn phòng của ngôi biệt thự. Một chiếc giường có đệm trải drap trắng muốt. Một chiếc bàn viết. Một chiếc ghế. Một cái cầu tiêu giật nước. Một cái lavabọ Tiện nghi chỉ có thể, dành cho một can phạm đặc biệt. Cửa sổ đã bị xây kín mít. Cửa ra vào khoét một cái lỗ để bên ngoài dễ kiểm soát bên trong. Ngọn đèn tràn đủ ánh sáng và công tắc đã chuyển ra ngoài. Người công an bảo vệ dẫn chàng:

– Cần gì thì anh báo cáo.

– Báo cáo?

– Anh gọi tôi.

– Tên anh?

– Anh cứ hô > là tôi tới.

Y đóng cửa, khóa bên ngoài. Chàng không còn bị còng tay, xích chân nữa. Chàng gieo mình xuống đệm, lăn đi lăn lại rồi ngủ một giấc dài. Người công an bảo vệ mang cơm vào lúc nào chàng không haỵ Y đánh thức chàng dậy. Khay cơm đặt trên bàn. Chàng thấy có dĩa cơm sườn nướng và tô canh. Chàng nhẩn nha ăn một cách thích thú. Trái chuối tráng miệng và ly nước trà gây cho chàng nhiều cảm hứng. Người công an bảo vệ ngồi ở mép giường.

– Khẩu phần đền bù ha, cán bộ? Chàng hỏi.

– Tôi không nắm vững. Người công an đáp.

– Tôi sẽ hưởng khẩu phần này bao lâu?

– Tùy thuộc chỉ thị của lãnh đạo.

Cơm nước xong, người công an mời chàng điếu Thủ Độ Y mồi lửa cho chàng.

Tôi để lại cái ca nhựa cho anh uống nước khi khát. Nước ở vòi, cứ việc mở. Cần hút thuốc thì anh báo cáo. Diêm quẹt để trong phòng bất tiện.

Y bưng khay chén bát ra khỏi phòng, đóng cửa lại. Chàng đốt hết điếu thuốc, đứng dậy, đi quanh quẩn trong phòng một lát. Rồi nằm ngủ. Rồi thức. Chàng nhớ câu nói của Lãnh Đạo: > Câu nói khiến chàng suy nghĩ. Nó mở đường rồi nó bịt lối. Nó gợi tưởng một thua thiệt ghê gớm mà chàng mơ hồ cảm thấy. Cái ngọt ngào của cộng sản mới đáng khiếp sợ. Cái giường đệm, drap trắng này nguy hiểm hơn cái sàn xi măng lởm chởm đá râm.

Chàng giật mình, ngồi vụt dậy.

– Báo cáo cán bô…

Người công an bảo vệ xuất hiện vội vàng.

– Anh cần gì?

– Cần anh nói chuyện.

– Không có chỉ thị ấy.

– Vậy có những chỉ thị nào?

– Bảo vệ anh! Anh cần hút thuốc không? Uống trà nhé!

– Có tờ báo nào không?

– Không.

– Thời tiết bên ngoài ra sao?

– Trời đầy nắng.

– Anh có hay đi Vũng Tàu tắm biển không?

Không có tiếng trả lời. Chàng hiểu người công an bảo vệ đã tuân hành chỉ thị triệt để. Chàng đứng dậy, ra ghế ngồi, chống tay lên cằm nghĩ cách gợi chuyện để biết nơi chàng đang bị nhốt. Buổi chiều, người công an bảo vệ lại mang cơm nước cho chàng. Tuyệt nhiên, y không trả lời những câu hỏi của chàng nữa. Ăn xong, chàng nằm ngủ dưới ngọn đèn chàng bao giờ chịu tắt. Ngọn đèn đã biến thành công cụ của chủ nghĩa. Để canh chừng chàng vượt ngục. Để bên ngoài nhìn rõ mọi cử chỉ, hành động của chàng. Chàng đành nằm úp mặt tránh cái thứ ánh sáng soi mói. Rồi một đêm cũng trôi qua, một đêm của nghìn đêm cuộc đời. Sáng hôm sau, người công an bảo vệ dục chàng tắm gội. Cô y tá săn sóc những vết sướt sát trên đầu chàng. Nhờ mấy viên thuốc kháng sinh, những vết thương đã không làm mủ. Chàng uống thêm mấy viên thuốc nữa. Ông Lãnh Đạo giữ lời hứa đã tới thăm chàng và mời chàng dùng bữa điểm tâm, uống cà phê sữa nóng.

– Anh cảm thấy thế nào, anh Bá? Ông Lãnh Đạo hỏi.

– Bình thường. Cảm ơn ông. Chàng đáp.

– Anh có nhớ nhà không?

– Ở đây là nhà tôi rồi.

– Trong ý nghĩ của anh, ở đây là nhà tù mà?

– Nhà tù trên quê hương tôi. Thưa ông Lãnh Đạo, được sống ở nhà tù trên quê hương mình, được chia sẽ nổi đau khổ với dân tộc mình, tôi nghĩ, là hạnh phúc.

– Ý nghĩ của anh thành khẩn và đáng quý lắm. Anh nói điều này tôi tin anh. Người khác thì tôi cho là già đời. Rất tiếc là anh không có cơ hội sống chung với bọn bộ trưởng, tướng lãnh, chính khách xôi thịt. Nếu anh phải sống chung với chúng nó, anh sẽ được chia sẽ nỗi đau khổ với dân tộc anh bằng cung cách khác.

– Như thế nào, thưa ông Lãnh Đạo?

– Bằng lối về thênh thang. Anh xa quê hương lâu rồi, làm sao anh cảm nỗi nỗi khổ của dân tộc mà đòi chia sẽ? Ngay cả nỗi khổ của dân tộc Việt Nam cũng bị kẻ thù và bọn phản động quốc tế xuyên tạc một cách bỉ ổi. Anh yêu nước nhưng anh đã đi trên con đường vẽ láo của bọn phản động.

– Thưa ông, tôi hiểu về con đường tôi đi.

– Anh hiểu gì về dân tộc ta?

– Tôi là người Việt Nam.

– Anh đâu còn là người Việt Nam!

– Đó là cách suy diễn của ông thôi. Tôi không muốn làm mất lòng một người đã đối xử tốt với tôi nên xin miễn tranh luận.

– Thế anh hiểu gì về nỗi khổ của dân tộc ta?

– Nỗi khổ hôm qua, hôm nay; nỗi khổ dĩ vãng, nỗi khổ tương lai, nỗi khổ triền miên, ông muốn nghe về nỗi khổ nào?

Ông Lãnh Đạo cười nửa miệng:

– Sẽ có lần anh chỉ nói về nỗi khổ của bản thân anh. Tôi nhấn mạnh để anh suy nghĩ: Với cộng sản, anh không bao giờ là anh hùng cả. Và anh sẽ ân hận anh đã đánh mất cơ hội về quê hương qua một cửa rộng để chia sẻ nỗi khỗ với dân tộc anh.

Chàng tròn xoe mắt, giả bộ làm nai tơ:

– Tôi không hiểu cửa rộng mà ông nói.

– Cửa rộng mà những Việt kiều yêu nước đã về.

– Tôi thích qua cửa hẹp.

– Lạ nhỉ, sao lại cửa hẹp?

– Đâu có gì lạ. Thưa ông, ông có đọc Thánh kinh không?

– Sách phản động!

– Sách để suy gẫm. Karl Marx đã lấy cảm hứng từ sách phản động – theo ông- để viết chủ nghĩa mác xít đấy.

– Anh nói vô căn cứ.

– Tùy ông hiểu. Tôi cũng xin nhấn mạnh để ông suy nghĩ: >

– Anh tìm cái lối ấy?

– Vâng.

– Và lối ấy đưa anh vào tù.

– Không, lối ấy đưa tôi đến sự sống, đưa dân tộc tôi đến sự sống.

– Chúng tôi không cho anh sống.

– Các ông giết tôi là dẫn tôi đến sự sống.

– Chúng tôi không giết anh. Để tự anh chết dần chết mòn trên đường hẹp hòi, thiển cận và lạc hậu của anh.

Ông Lãnh Đạo đổi giọng:

– Anh Bá à, sự kiêu ngạo của anh không tạo điều kiện thuận lợi cho ngày trở lại nước Pháp của anh đâu. Sự kiêu ngạo không thể dẫn anh đến sự sống như anh mong muốn. Muốn đến sự sống, anh phải biết sống. Muốn biết sống anh phải tự hỏi anh đang ở đâu, phải truy nã thân phận hiện tại của anh. Giữa tôi và anh, chẳng cần gì phải dấu diếm kinh nghiệm tù đày của người cộng sản. Hồ chủ tịch đã không kiêu ngạo để chết rũ trong tù. Đồng chí Lê Duẩn đã không kiêu ngạo để chết rũ trong tù. Họ kiêu ngạo, lấy ai trở thành lãnh tụ, lấy ai đưa dân tộc đến sự sống? Những kẻ kiêu ngạo trong ngục tù để chết là những kẻ bất trí, Những liệt sĩ mù lòa, ngu xuẩn.

– Liệt sĩ của các ông?

– Đúng thế. Anh điểm mặt những liệt sĩ xem có thằng nào đủ khả năng làm lãnh tụ không. Chúng nó nên dại dột can đảm chết để chúng tôi sinh tồn. Còn anh, anh có khả năng trở thành lãnh tụ đấy, anh đừng dại dột tìm cái chết hèn mọn, mà rồi cũng chẳng ai biết tới anh mà phong anh làm liệt sĩ!

Chàng nhún vai:

– Tôi không thích làm lãnh tụ hay liệt sĩ hiểu theo ý của ông hoặc của bất cứ ai. Tôi là người, tôi cố sống đúng nghĩa một con người cả chết đúng nghĩa một con người.

– Tùy anh đấy, tôi chỉ gợi ý. Điều này không phải để răn đe, dọa nạt mà là sự thật: Sự kiên trì của người cộng sản đã chiến thắng tất cả. Chúng tôi đủ khả năng biến sự kiên trì thành át xít sói mòn sắt thép.

– Cám ơn ông. Ước mơ của tôi tránh nổi sự sói mòn của át xít.

– Anh kiêu ngạo quá.

– Thưa ông, nếu ông ở trong trường hợp tôi, ông sẽ kiêu ngạo hơn. Người cộng sản kiêu ngạo nhất thế giới. Tôi nghĩ, lúc này sự kiêu ngạo cần thiết hơn lúc nào. Vì, nhờ nó, tôi có thể bảo vệ được phẩm cách của tôi.

Ông Lãnh Đạo ngó đồng hồ:

– Anh về nghĩ ngợi nhé! Chiều nay, người ta sẽ cấp giấy bút cho anh để anh làm bản tự khai.

Chàng hỏi:

– Tự khai về cái gì?

Ông Lãnh Đạo đã đứng dậy:

– Một thủ tục thông thường cho bất cứ một can phạm nào. Sau tự khai, anh sẽ làm việc với các cấp lãnh đạo của tôi. Hãy nhớ kỹ: Anh là người đặc biệt và chúng tôi sẽ đối xử với anh thật đặc biệt.

Người công an bảo vệ đưa chàng về phòng.

                                                 ( Xem tiếp trang 5 )

Duyên Anh

Một Người Tên Là Trần Văn Bá

Chương 5

Nhưng buổi chiều không ai cấp giấy bút cho chàng làm bản tự khai. Chàng được gọi ra mạn đàm với một người khác. Ông này đứng tuổi và cung cách đối xử với chàng giống hệt Lãnh Đạo nên chàng tạm đặt bí danh cho ông ta là Lãnh Đạo 2. Người cộng sản không bao giờ nói tên thật của mình và đừng dại dột hỏi tên người cộng sản khi ta gặp họ trong nhà tù. Lãnh Đạo 2 mời chàng uống trà, hút thuốc lá Phù Đổng.

– Có ai đánh đập anh không, anh Bá?

– Chưa ai đánh đập, chửi bới tôi cả.

– Sẽ chẳng ai dám đánh đập, chửi bới anh.

– Có lẽ tại tôi là >

– Không phải. Tại vì chế độ ta tôn trọng con người, không xúc phạm đến thể xác con người.

Chàng muốn tranh luận với Lãnh Đạo 2 nhưng chợt nhớ lời Lãnh Đạo 1 > chàng cố nín. Kinh nghiệm > với Thượng Sĩ đã đưa chàng vào cái cần xé. Với Lãnh Đạo 2, chắc ghê gớm hơn, và rồi cũng chẳng giải quyết được gì. Muốn tiêu diệt chủ nghĩa, phải tiêu diệt lãnh tụ. Lãnh tụ đích thực của chủ nghĩa cộng sản đã chết hết. Bây giờ chỉ còn bọn người bị huyễn hoặc bởi chủ nghĩa bọn say thuốc phiện, xì ke chủ nghĩa, bọn máu mê lãnh tụ và tham vọng quyền bính. Muốn tiêu diệt họ, trước hết, cần lay động cái bóng tối đã phủ kín lương tri của họ. Sức mạnh làm lay động lương tri của họ là tư tưởng chiến đấu thật mới, thật sáng tạo, thật khai phóng nhân bản chỉ tìm thấy ở những người tuổi trẻ Việt Nam hôm naỵ Chiến đấu không tư tưởng là chiến đấu mù loà. Chiến đấu với cộng sản mà thiếu võ khí tư tưởng là chiến đấu vô vọng, là cuộc chiến đấu trong chiêm bao của đám lạc quyên, xổ số.

– Anh Bá, Lãnh Đạo 2 nói, một đồng chí của tôi đã báo cáo với lãnh đạo của chúng tôi rằng anh kiêu ngạo và ngoan cường. Anh có biết trong trường hợp nào con người cố tạo ra vẻ kiêu ngạo không?

– Thưa ông lãnh đạo, chàng nói, với tôi, nếu tôi đã kiêu ngạo như các ông nghĩ, thì nó là trường hợp đặc biệt, vì các ông coi tôi là người đặc biệt.

– Tôi cần anh giải thích thêm.

– Để làm gì?

– Để gần gũi và thông cảm.

– Tôi và ông thật khó gần gũi và thông cảm.

– Anh mâu thuẫn với anh rồi đấy. Theo bản báo cáo về anh, anh hay nói về con người. Con người khó gần gũi con người lắm sao, anh Bá?

– Con người và con người sinh ra để gần gũi và thương yêu. Nhưng từ khi có những thứ chủ nghĩa phi nhân xúi dục con người xa cách con người thì nhiều con người đã biến thành công cụ của chủ nghĩa, đã mất nhân tính. Như thế, sự mời gọi gần gũi của một kẻ mất tính người chỉ là cạm bẫy. Và con người nguyên vẹn tính người với kẻ mất tính người rất khó gần gũi.

– Anh ám chỉ ai?

– Tôi nói thẳng thắn, thưa ông. Những người được quyền tự xưng là con người ưu việt ở hành tinh này chỉ là con người cộng sản. Vậy thì tội nghiệp con người quá.

– Anh hãy tội nhiệp anh là đủ. Quả thật, anh đã xa rời tình tự dân tộc, anh chẳng hiểu thế nào là vinh quang của nòi giống. Anh chiến đấu chống chúng tôi với mục đích gì?

– Vinh quang của nòi giống.

– Giải thoát dân tộc khỏi ách nô lệ trăm năm của thực dân và mở nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là gì? Chiến thắng Điện Biên Phủ là gì? Đánh bại thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ và bành trướng Trung Quốc là gì?

– Các ông thường khoe là thành tích của Đảng. Và sau những thành tích ấy là gì, thưa ông?

– Xây dựng hạnh phúc cho dân tộc không phải là một ngày, một tháng hay một năm. Dân tộc ta vừa quét sạch bóng kẻ thù xâm lược ra khỏi đất nước là bị ngay bọn thù hận truyền kiếp phá hoại. Anh có hiểu tại sao đã có hòa bình rồi mà nhân dân ta vẫn phải ăn độn khoai, sắn không? Trung quốc nó đòi nợ ta, nó bắt ta phải trả nợ > cho nó gấp rút. Muốn tự chủ, ta đành trả hết nợ nần. Và nhân dân ta phải thắt lưng buộc bụng. Trả nợ nó rồi, nó vẫn chẳng chịu để dân tộc ta yên thân mà kiến thiết đất nước tan hoang vì chiến tranh, chia rẽ. Nó xúi dục, hà hơi tiếp sức cho bọn phản động Kampuchia gây chiến với ta ở biên giới. Nó xua quân xâm lăng chúng tạ Nó bao vây chúng ta mọi mặt. Bọn phản động quốc tế về hùa với nó, khiêu khích chúng ta, phá hoại chúng tạ Chúng ta có hàng ngàn vấn đề cấp bách cần đối phó, thế mà anh còn gây thêm khó khăn, tôi không hiểu các anh là hạng người nào!

– Tôi là người Việt Nam, người Việt Nam chân chính.

– Người Việt Nam chống phá người Việt Nam?

– Chống phá cộng sản. Bởi vì, tất cả mọi thảm hại mà ông vừa nói khiến tôi xúc động đều do chế độ của các ông gây ra.

– Anh ngoan cố.

– Nếu ông mất bình tĩnh thì tôi không > nữa và ông cho tôi về phòng có giường đệm hay về cachot ỉa đái, ăn uống, thức ngủ tại chỗ, tùy ý ông.

Lãnh Đạo 2 rót thêm trà vào ly của chàng.

– Anh thù ghét chúng tôi?

Chàng thản nhiên nói:

– Với ông, có gì để thù ghét.

– Thế anh thù ghét gì?

– Chủ nghĩa, chế độ và lãnh tụ của ông.

– Tại sao?

– Vì sự gian ác và tham vọng đê tiện.

Lãnh Đạo 2 cười:

– Trường hợp ngoan cường và kiêu ngạo của anh là trường hợp tuyệt vọng.

Chàng cười theo:

– Bên kia biên giới tuyệt vọng là gì? Thưa ông, là đỉnh ngọn hy vọng. Ông giết tôi rất dễ, giết ước mơ của tôi thì rất khó, có thể nói, các ông bất lực trong ý đồ hủy diệt ước mơ của tôi.

– Anh chết, ước mơ của anh chết theo anh.

– Tuổi trẻ Việt Nam không phải chỉ có một mình tôi.

– Tôi khẳng định với anh rằng, tuổi trẻ Việt Nam có một mình anh, một mình anh mà thôi.

– Ông đề cao tôi quá.

– Tôi nói sự thật. Anh bị bắt, anh nằm trong tay chúng tôi. Giết anh hay tha anh là quyền hành của chúng tôi, anh thừa hiểu rồi. Vậy những gì chúng tôi nói với anh, yêu cầu anh, đều phát xuất từ lòng chân thành, từ sự cảm mến thái độ can đảm của anh.

Chàng trầm ngâm, giả vờ thấm cái sự giả nhân giả nghĩa của Lãnh Đạo 2, cái thủ đoạn tinh vi của công an cộng sản. Họ đang giăng bẫy. Họ muốn chàng làm gì đây? Chàng bỗng nhớ một câu kinh nghiệm của một nhà văn sáu năm trong ngục tù cộng sản: > Nhưng chọc tức họ để họ hành hạ mình là điều vụng dại. > Chàng sẽ không chọc tức, khiêu khích Lãng Đạo 1, 2, 3 hay 4 nữa mà cố gắng tỉnh táo đo lường thái độ của họ để khỏi bị khuất phục dưới móng vuốt của lãnh đạo của họ.

– Anh hiểu tôi chứ, anh Bá?

– Cám ơn ông, nếu ông đã nói thật.

– Anh vẫn nghi ngờ thiện chí của tôi. Bây giờ, tôi nói với anh những điều tâm cảm, những điều mà anh không nỡ ngờ vực vì anh đã nhìn rõ, nghe rõ. Anh biết đám thằng Giao con Cư bướu và thằng Tiến chứ? A, chúng nó cũng tuối trẻ đấy, trí thức đấy. Một thằng thì chỉ yêu nước như con bọ gậy loăng quăng ở cái xó Paris. Thái độ của nó giống hệt lũ dán hôi, luôn luôn bầy tỏ thái độ chính trị trong bóng tối. Nó yêu nước làm dáng và thủ lợi. Chẳng bao giờ nó dám về quê hương để chia sẻ nỗi đau khổ với dân tộc nó sau 20 năm quằn quại trong chiến tranh và 10 năm xây dựng lại đất nước, dù nó về bằng máy bay Air France rồi sẽ trở lại Paris bằng máy bay Air Francẹ Một thằng thì phản phúc. Nó gian manh từ lúc nó tập làm > ở nội trú Đắc Lộ, luôn chống Ngô Đình Diệm rồi vác xác đi thi tham vụ ngoại giao, xoay sở sang Paris dung thân trốn đi lính cho chế độ Thiệu. Nó ngửi được Mỹ sắp cút, trở cờ đào nhiệm rồi tình nguyện đầu quân cho Tòa Đại Sứ tạ Biết nó là thằng sớm đầu tối đánh, ta vẫn cứ dùng. Để tuyên truyền. Nó là công giáo, ai tin nổi nó. Cái bọn công giáo là bọn chỉ đi theo kẻ mạnh thôi, chính quyền nào bọn nó cũng có chỗ dựa. Nó đã về nước bằng con đường Việt kiều yêu nước đấy. Nó phe phẩy tem phiếu mua đồ Imex, vàng, đô la và buôn tranh sơn mài, sơn dầu, áo dài thêu qua Pháp. Nó còn phe phẩy xuất cảnh, nhập cảnh. Mỗi lần nó về Sàigòn > là mỗi lần nó sửa nhà, tậu xe mới ở Paris. Ta biết chứ, biết và khinh bỉ, nhưng vẫn cứ dùng nó. Thứ thời cơ chủ nghĩa, sớm đầu tối đánh, người cộng sản tởm lắm. Anh hoàn toàn khác, anh Bá ạ! Nếu anh cho rằng con đường hẹp và cửa hẹp dẫn anh đến sự sống thì, đồng thời, nó cũng dẫn anh về với dân tộc. Chúng tôi cần anh.

– Cần tôi làm công việc của những kẻ các ông khinh bỉ?

– Anh hiểu lầm rồi. Chúng tôi cần thái độ can đảm của anh.

– Tôi đã chống các ông.

– Anh chống chúng tôi vô vị lợi, anh chống tự nguyện và vì anh chưa hiểu rõ chúng tôi. Anh còn nhiều thì giờ tìm hiểu. Khi anh hiểu chúng tôi , anh sẽ trở lại Paris.

– Tôi không muốn trở lại Paris nữa.

– Càng tốt. Đất nước cần anh. Anh là một biểu tượng rực rỡ của tuổi trẻ Việt Nam, của tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Với sự phản tỉnh của anh, anh sẽ là lãnh tụ của tuổi trẻ.

– Tôi đã nói tôi không có tham vọng lãnh tụ.

– Thì anh cứu quê hương anh. Anh dập tắt phá hoại tứ phiá. Anh có phải phấn đấu cam go gì đâu? Chỉ yêu cầu anh thành khẩn nhận mọi sai lầm của anh. Thế thôi. Rồi anh sẽ thăm Liên xô, sang tận nước Mỹ, qua Úc, Phi… Anh sẽ đi thăm mộ của thân phụ anh.

– Tôi đã thắp hương trên mộ phần của ba tôi rồi.

– Có hàng ngàn việc tổ quốc kêu gọi anh.

– Vâng, có hàng ngàn việc tổ quốc kêu gọi tôi. Và tôi đã về.

Lãnh Đạo 2 cho rằng liều thuốc của mình đã đủ > không cần thiết bắt con bệnh uống thêm, sợ biến chứng trong hiệu quả. Ông ta đưa cho chàng một gói nhỏ:

– Thuốc đánh răng và bàn chải của anh. Cán bộ vừa báo cáo là anh thiếu những món này.

Chàng đỡ gói quà:

– Cám ơn ông.

– Bất cứ điều gì anh cần, cứ báo cáo cán bộ bảo vệ anh.

– Tôi nhớ.

Lãnh Đạo 2 trầm ngâm giây lát rồi cầm gói Phù Đổng mời chàng. Rút thêm điếu nữa, chàng tự quẹt diêm mồi thuốc.

– Ở Paris anh quen biết nhiều lắm phải không, anh Bá?

– Cũng vừa vừa thôi.

– Chúng ta nói về Tổng Hội Sinh Viên của anh đi!

– Tổng Hội Sinh Viên không phải của tôi.

– Vậy của ai?

– Của sinh viên.

– Nhưng anh làm chủ tịch mà?

– Vâng, tôi đã được bầu làm chủ tịch. Hiện nay là người khác. Thưa ông, không bao giờ có chủ tịch muôn năm ở thế giới tự do, nhất là, ở những người tuổi trẻ. Khi một chủ nghĩa, một chế độ hay một lãnh tụ đòi hỏi cái muôn năm thì loài người bảo nó muôn năm rồi. Chẳng có cái gì vĩnh cửu tồn tại cả kể luôn trái đất. Mạnh và hung như phát xít thì cũng đã bị tận diệt.

– Cộng sản thì không thể bị tận diệt vì không ai đủ khả năng diệt cộng sản. Cộng sản là muôn năm.

– Nhưng Lénine, Staline, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh vẫn cứ chết. Cái lẽ của trời đất mới muôn năm. Nếu đừng đòi hỏi tuyệt đối thì hạnh phúc, muôn năm, tình yêu muôn năm, những thứ bất tử mới muôn năm, sự hy sinh cho lý tưởng cao cả, chẳng hạn.

Lãnh Đạo 2 khẽ gạt tàn thuốc lá:

– Theo báo cáo khẩn của bọn thằng Giao, thằng Tiến thì anh là người trầm lặng, ít nói. Tại sao, ở đây, anh ham tranh luận thế?

Chàng nhả khói thuốc:

– Tôi trả lời những câu hỏi của ông để khỏi mang tiếng > chữ của các ông, khỏi mang tiếng bất lịch sự, chữ thông thường. Tôi không ham tranh luận.

Lãnh Đạo 2 gật gù:

– Chúng tôi nắm hết tình hình sinh hoạt của các tổ chức phản động Việt Nam ở Paris.

Chàng cười:

– Dĩ nhiên rồi, các ông thừa thãi chó săn trong các > vớ vẩn. Ông muốn tôi kể hết tên tuổi, đia. chỉ của chúng nó ra không?

Lãnh Đạo 2 liếm mép:

– Nhiều thằng ngụy gian manh đã len lỏi vào Tổng Hội Sinh Viên, đã gây chia rẽ sinh viên, đã biến Tổng Hội của các anh thành nhiều khuynh hướng, anh biết chứ?

Chàng gật đầu:

– Tôi biết. Những thằng sâu bọ đó chỉ làm trò múa rối, bởi vì chúng nó bất tài vô tướng, làm sao lung lạc nổi anh em sinh viên! Ông muốn ám chỉ những thằng nào? Chủ tịch tự phong hay nhà văn tiêu bạc giả? Tướng cúi đầu nhận xuất cảnh của các ông nhờ váy vợ đầm hay tá đào ngũ đội lốt văn nghệ?

Lãnh Đạo 2 ngẩn ngợ Ông ta ngạc nhiên thấy chàng khinh bỉ những kẻ mà ông ta tưởng rằng đã và đang giật giây sinh viên ở Paris, ở nước Pháp. Đó là vấn đề gay gọ Lãnh Đạo 2 chuyển mục:

– Anh cần viết thư sang Pháp không?

– Không. Tôi không muốn làm phung phí những giọt nước mắt của mẹ tôi, em tôi, bằng hữu tôi. Và nữa, tôi biết chắc, thư của tôi sẽ nằm chặt trong hồ sơ > Và, có dịp, thư sẽ phổ biến trên báo chí. Đồng chí của ông đã nói với tôi: > Thế đó, thưa ông.

– Trong tự điển có hai tiếng du di, anh hiểu chứ?

– Nguyên tắc của các ông, chắc chắn, không có du di cho >

– Anh khước từ liên hệ gia đình đấy nhé, anh Bá!

– Vâng, tôi khước từ.

– Sau này, anh đừng trách chúng tôi xúc phạm tình cảm, đừng bảo chúng tôi không có tình cảm.

– Ông chu đáo quá.

Lãnh Đạo 2 gọi người công an bảo vệ. Chàng lại về phòng. Gói quà của Lãnh Đạo 2, người công an quản lý. Dễ hiểu thôi, bàn chải cũng có thể là võ khí tự sát

                                               ( Xem tiếp chương 6)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: