VIỄN – Truyện ngắn Nguyễn Liệu

              VIỄN

Nhớ đến anh Nguyễn Hoán và Cự

“ Cái Tết này nữa là bốn cái Tết rồi. Thằng Viễn không về. không biết nó ra sao. Khi hôm tôi thấy chiêm bao tôi sợ quá . Không biết phải làm sao bây giờ.” Bà Cận nói rầm rì như khóc, trong lúc ông Cận đang lúi húi tra lại cái cuốc . Ông im lặng như không để ý lời phàn nàn lo lắng của vợ, nhưng những điều bà nói ra cũng y như những điều những ngày gần đây ông thường nghĩ đến thằng con trai thứ hai biệt tăm biệt tích này. Ông có hai con trai, đứa lớn vừa đúng mười tám tuổi tên là Cận,  do đó người ta gọi vợ chồng ông là ông Cận bà Cận.
Người con trai thứ hai tên Viễn, mười sáu tuổi, hiện đang sống nhờ sự giúp đỡ của người bà con giàu có đang làm thầu khoán xây cất ở Đà lạt. Ông Cận người nghèo khổ nhất trong họ hàng. Mẹ ông mới qua đời vừa giáp năm. Suốt đời bà đi ở cho ba gia đình giàu có trong họ. Bà thường nói “ giúp cho chú nó một thời gian” Cái lối nói của bà già, của ông Cận như cố ý tránh tiếng “ ở mướn” nghe có vẻ thê thảm, mất phẩm cách quá. Năm nay tôi giúp cho chú Ba, mới năm ngoái giúp chú Sáu, sang năm chắc là đến phiên chú Cửu. Bà nuôi người bịnh, người già, nuôi đẻ ( giúp đỡ người mới sinh con).Cũng có khi ở nhà bà thường đi tát cá hoặc mùa nóng bà đi chặt cá. Trời nóng nước ruộng cạn, canh trưa, bà cầm con dao dài cán, rình đi trên bờ ruộng, để chặt những con cá đang núp dưới gốc lúa. Đi cả canh trưa, may lắm chặt được vài con cá phần nhiều đi không về không. Hằng ngày vợ chồng ông Cận thường sang bên kia con sông Vệ để giúp việc cho chú Cửu. Hai vợ chồng quanh năm suốt tháng quanh quẩn trong cái vườn rộng của chú Cửu làm đủ mọi thứ, cuốc cỏ, trồng cây, chặt củi v…v…công việc nhẹ vừa sức yếu của ông. Tướng người ốm yếu toàn da bọc xương,  thỉnh thoảng sưng phù thũng hai chân,  nhưng ông vẫn nhẫn nại cầm cây cuốc nhẹ men moi làm ngoài vườn. Làm việc để ăn ba bữa cơm no, chiều về được vài lon gạo. Hai Cận, đứa con trai đầu lòng ở chăn trâu cho chú Sáu. Chú Sáu chú Cửu là những niềm tự hào dòng họ của ông về giàu có và về chữ nghĩa học hành. Nhiều lúc ông cũng cảm thấy trong dòng máu mình vẫn có giàu sang chữ nghĩa, nhưng số mình trời không cho, thế thôi, chứ không phải là dòng dõi dốt nát bạch đinh ăn mày ăn xin gì đâu. Nhưng rất ít được cái phút làm cho ông tự hào như vậy, vì cái kham khổ đói rách làm cho ông thường ngó mặt xuống đất để tránh thấy cảnh đi lên của người chung quanh ông. Mẹ ông thường bảo không ai khó ba đời,  nhưng đã mấy đời rồi bà vẫn còn đi giúp việc cho bà con để nuôi miệng.

Nhà ông Cận nghèo thật nghèo. Mái lợp tranh, đúng ra là tủ rạ, tủ rơm. Ông thường đi lượm rơm rạ sót ngoài đồng ruộng đem lấp những chỗ bị mưa dột trên mái nhà. Bởi vậy bên ngoài nhìn như một đống rạ lôi thôi chứ không phải mái nhà. Nhà nhỏ, mỗi bề chừng hơn 4 thước tây. Phòng trước đặt một cái giường. Bốn chân giường chôn chặt xuống đất, trên giường trải chiếc chiếu manh. Trên vách ngăn giữa nhà đặt cái trang để thờ bằng những mảnh tre đập dập sơ sài. Trên trang,  cái lư nhang bằng đất với vài cây nhang cháy lở dở. Ngăn trong cũng một cái giường cũ,  bên cạnh là bếp bằng ba viên gạch chụm đầu. Trên bếp một cái ấm đất. Bếp tro tàn vắng lạnh. Cạnh bếp một vò nước, một cái gáo dừa cán dài úp ngang miệng vò.

Ngày mồng Một tết nguyên đán , trên trang thờ ông bà có cây bánh tét nhỏ đặt trên cái dĩa bằng gỗ. Vì ngày đầu năm nên vợ chồng ông Cận ở nhà không sang sông đến nhà ông Cửu vì kiên cử sợ xông đất mang đến điềm xấu, chờ đến chiều mới sang mừng tuổi gia đình ông Cửu và chú Sáu.
Bà Cận nhớ con càm ràm:
“ Tại ông ham cho con đi trong ( dân làng gọi đi trong là đi Đà lạt) bây giờ nó chết sống như thế nào biết đâu mà rờ”
– Cái gì bà cũng đổ cho tui, nó thấy ở nhà khổ quá bà nội đói rách, cha mẹ đói rách, anh em nó đói rách, cả nhà đói rách,  nên nó năn nỉ chú Bốn dẫn nó đi trong.
– Ông đàn ông ông biết, tôi đàn bà ăn tro mò trấu mà biết gì,  mà sao ông không la rầy dạy bảo nó để nó đi hoang đàng theo chú Bốn.
– Bà nói ngang như cua, chính bà qua thím Cửu năn nỉ mượn mấy chục bạc lo tiền xe cho nó đi,  mà bà nói cái gì. Đầu năm đầu tháng mà bà khóc lóc than thở thì suốt năm ngóc đầu không nổi. Bà cứ trù ẽo mãi thì làm sao mà có ngày no ấm được.
Nghe chồng nhắc tới ngày đầu năm bà Cận giật mình thì là ngày mùng một Tết bà vội lấy tay áo lau nước mắt, đứng dậy xuống bếp nấu ấm nước chè tươi cúng ông bà. Bà Cận đặt hai bát nước chè tươi lên trang, nói lớn tiếng cho ông Cận đang sửa cán cuốc ngoài sân nghe :
– Ông vào thay đồ cúng ông bà.
Ông Cận vội vã vào thay quần dài, rửa mặt rửa tay,  thắp nhang khấn vái trước trang thờ. Mùi nhang mùi nước chè tươi thoang thoảng làm cho ông cảm thấy dễ chịu khoan khoái : “ Có nghèo cũng ba ngày Tết,  có hết cũng ba ngày mùa” Lẩm nhẩm câu tục ngữ đó ông cảm thấy nhẹ người như đỡ lo lắng. Trời mùa Xuân trong vắt. Gió Xuân hiu hiu mát. Ngồi trên giường ăn bánh tét uống nước chè tươi. Ông cắn nhè nhẹ miếng bánh,  chầm chậm nhai,  như để hưởng hết cái hương vị ngon lành của nếp nấu chín, với nhân đậu xanh với hương vị mỡ hành. Rất ít có cái dịp hai ông bà ngồi cùng giừơng ăn uống một cách thong dong. Ngày giỗ mẹ ngày giỗ cha vẫn đi làm,  về đêm chỉ cúng bình bông chén nước. Vợ chồng ông xem gia đình chú Cửu như gia đình của chính mình. Ngày ba mươi Tết ông không cuốc vườn, phụ giúp làm heo, chùi rữa đánh bóng bộ lư đồng để chuẩn bị cúng tất niên. Chiều ba mươi Tết bà Cửu cho ông ít bánh về cúng rước ông bà. Hai mươi năm qua đều đều như vậy.


Ông Cận chưa đến tuổi già nhưng đã yếu lắm rồi, nhiều khi ông cầm cây cuốc ra vườn nhưng đành ngồi thở, nhưng gia đình ông Cửu vẫn thương vẫn dùng ông để ông được những bữa cơm no. Ông Cửu không quên được khi phong trào đấu tố địa chủ, chánh quyền xã bảo ông Cận chuẩn bị đứng ra tố cáo,  nhưng ông một mực chối từ vì không thể làm điều thất đức đi nói xấu người mà gia đình ông cha mẹ ông nhờ đỡ suốt đời. Ông Cửu thường nói “ nước rặt mới biết mặt cá tôm” nên luôn luôn giúp đỡ gia đình ông Cận. Lúc trường trung học Lê Khiết bị bom cháy, học trò chết, ông Cận vội vã băng đồng chạy lên tìm hai con ông Cửu đang hoảng hốt trong số đông học trò.

Mùa Xuân năm 1960 thằng Cận cùng 9 tân binh bị tử nạn trong quân trường Phú Yên vì Việt cộng pháo kích. Được tin con chết một cách tức tưởi bà Cận ngất xỉu than khóc thảm thiết. Ông Cận không khóc,  nhưng im lặng như bị cấm khẩu. Hai vợ chồng vẫn sang sông cuốc vườn. Bịnh phù thũng của ông Cận lần này có phần nặng, nhưng như thường lệ ông vẫn cầm cuốc làm việc, không nói một lời.
Vào quảng nửa buổi sáng, trời trong, nắng rực rỡ, tiếng chim ríu rít trên cây ổi cây mận trong vuờn. Ông Cận cảm thấy hơi chóng mặt khó chịu. Quấn điếu thuốc hít vài hơi, mùi thuốc hơi lạt, đắng và khó chịu, ông liền ném điếu thuốc. Trường hợp này cũng hiếm có đối với ông, lần đầu tiên ông phí phạm. Ông nói với vợ:
“ Bà ở lại làm,  chiều lấy gạo về, tui nay hơi mệt về sớm một bữa”. Ông chầm chậm đi những bước nặng nề về nhà. Chiều hôm đó bà Cận bợ nón gạo lủi thủi về,  thấy ông Cận nằm bất động trên giường, thì ra ông đã tắt thở từ hồi nào. 

Bà Cận vẫn sáng đi chiều về,  sang sông làm những việc lặt vặt trong vườn chú Cửu. Tang chồng tang con làm cho bà già xụm thấy rõ. Bà ít nói,  vẻ mặt buồn, nặng nề. Đội chiếc nón lá rách đầu cuối xuống đất, ngồi lếch, hai tay nhổ cỏ. Động tác như thế kéo dài suốt gần mười năm tại vườn chú Cửu. Nhiều khi bà Cửu bảo :
“ Nhà Cận không heo gà gì thì tối ở lại đây cho đỡ mệt, năm ba ngày hãy về thăm nhà.”
Bà Cận buồn buồn trả lời :
– Dạ cháu về thắp cho ổng cây nhang tội nghiệp !

Năm Mậu thân 1968 dân chúng bỏ ruộng vườn về thành thị vì chiến tranh lan rộng. Rồi tới lúc bà Cận tìm lên nhà chú Cửu chật chội ở ven thị xã xin tá túc. Bà mới sáu mươi nhưng như một bà già, mắt mờ, lưng khòm, tay chân run không còn làm việc được. Bà khóc thưa với chú thím Cửu :
“ Thưa chú thím “ bé cậy cha già cậy con” cháu cảm thấy yếu lắm rồi, xin chú thím giúp cho cháu vào thăm thằng Viễn may ra nhờ cậy nó trong những ngày gần đất xa trời”. Chú Cửu cảm động ứa nước mắt :
“Được, chú sẽ giúp cho cháu đi tìm con, may ra về già có đỡ khổ chút nào không, chứ suốt đời bọn bay cực quá, có con mà chẳng nhờ gì con, về già cô độc đói khổ ai lo.” 

Vì đường sá bị phá nên phải mất gần một tuần lễ chiếc xe đò mới đến Đà Lạt. Theo lời dặn của chú Cửu, xuống xe đưa miếng giấy cho cảnh sát ở bến xe nhờ họ gọi cho chiếc cyclo đến nhà bà Xu. Ngôi nhà lầu hai tầng đồ sộ ở đường Yersin. Nhờ có thư của chú Cửu nên bà Xu cho vào nhà. Đọc xong thư bà Xu mới biết bà già ốm yếu này là mẹ thằng Viễn, và cũng bà con gần trong họ. Uống chưa xong chén nước, bà Cận thưa trong tiếng khóc :
“ Xin cô cho tôi đi gặp thằng Viễn con tôi, nó có khoẻ có vợ con gì chưa cô ?”
Bà Xu vừa đọc thư vừa trả lời :
– Chị bình tĩnh nghỉ ở đây, rồi tôi sẽ nói chuyện sau.
– Dạ nhưng mà nó có khỏe không, lâu quá tôi nhớ nó quá. Bà khóc lớn làm bà Xu bối rối không biết phải mở đầu câu chuyện như thế nào.
– Chị xách đồ vào tạm ở đây,  tắm rửa đỡ mệt,  rồi tôi sẽ nói chuyện sau,  bây giờ tôi đang bận có khách đang chờ ở phòng khách kia. Bà Xu vừa nói vừa chỉ tay vào phòng khách. Bà gọi bà quản gia đưa tạm vào phòng cạnh nhà bếp ở chung với người đàn bà lo nấu ăn cho gia đình.  Bà quản gia chỉ chỗ tắm,  nhưng lạnh quá bà không dám đụng tới nước. Bà lấy chiếc áo ấm đã cũ mòn rách vai của bà Cửu cho, bảo đem theo mặc, nghe nói ở Đà lạt lạnh quanh năm. Nghe tiếng nói oang oang phía trước bà quản gia nói nho nhỏ :
– Ông chủ về đấy, bà cứ ngồi trên giường, không sao. Bà quản gia lăn xăn thu dọn áo quần trong phòng đẩy vào một góc cho gọn, bà cầm chỗi đót định quét lẹ nền phòng thì ông bà Xu vừa đến. Bà quản gia cuối đầu lễ phép bước ra khỏi phòng. Ông Xu người cao gầy da trắng,  trạc độ năm mưởi có vẻ khỏe mạnh lanh lẹ.Tay cầm tờ thư của chú Cữu ông hỏi tiếng lớn oang oang :
– Chị Cận là chị, bà con mà tôi chưa gặp bao giờ. Ngoài mình chú thím Cửu đều bình an, bà con đều bình an. Đường đi nghe nói khó khăn lắm bọn Việt cộng chận đường phá đường, chị đến được là may lắm. Ông Xu hỏi liên tục gần như không cần câu trả lời của bà Cận. Bà Xu nói với chồng :
– Hồi nãy mình chưa về,  chị Cận có hỏi về thằng Viễn,  nhưng có khách thành ra chưa nói cho chị biết. Ông Xu nghiêm nét mặt có vẻ bực bội :
– Nhắc tới thằng yêu đó nữa,  nó làm phiền cho tôi quá nhiều. Nhờ quen biết nhiều với toà thị trưởng,  nếu không tôi cũng bị liên lụy. Bà Cận sửng sốt,  há hốc miệng,  đăm đăm nhìn không chớp mắt ông Xu : “ Trời ơi, cái gì trời ơi !”
– Trời gì, thằng Viễn con chị nó theo bọn Việt cộng mấy năm nay rồi. Vì nó ở nhà tôi, cùng quê quán của tôi, nên công an họ nghi ngờ tôi có nhúng tay vào các tổ chức của bọn chúng. Tôi mà không thân thế thì cũng lảnh đũ. Bà Cận nghe nói khóc oà thành tiếng :
– Trời ơi ! khổ cho tôi, xa con mười mấy năm nay mới biết nó theo cộng sản. Gia đình chúng tôi đói chịu đói, khổ chịu khổ,  có bao giờ theo cộng sản đâu. Cha nó qua đời, anh nó đi lính chết, bây giờ nó theo cộng sản, trời ơi là trời.
Ông Xu định nói gì thêm nhưng lại thôi, hai ông bà trở lên nhà trên. Bà Cận nằm trên giường khóc lóc một hồi mệt mõi quá sức thiếp đi hồi nào không hay. 

Người đàn bà nấu ăn vỗ nhè nhẹ vào vai bà :
“ Bà tỉnh dậy ăn miếng cháo nóng kẻo bà đói lũi”. Bà Cận tỉnh giấc định thần không biết ở đâu : “ Tôi ở đâu sao như thế này ?”
– Bà đang ở nhà bà Xu ở Đà lạt.
Bà Cận cặp mắt đờ đẫn hoang dại : “ Tôi đến đây lâu chưa ?”
– Bà lau mặt cho tỉnh rồi ăn miếng cháo kẻo nguội. Chị nấu ăn đưa cái khăn nhúng nước nóng cho bà. Hơi ấm làm cho bà tỉnh lại,  và nhớ bà mới đến khi chiều,  và câu chuyện ông Xu nói với bà. Nước mắt bà lại chảy trên gò má xuống miệng nghe mặn mặn.
Mấy ngày sau bà quản gia sắp xếp công việc hàng ngày cho bà Cận : “ Công việc ở nhà bếp này chị làm được cái gì cứ làm,  chỉ cần cẩn thận đừng làm bể bình ly chén dĩa …dần rồi cũng quen đi thôi.” Bà Cận phụ bếp và giặt quần áo. Nhưng một thời gian bà không được giặt nữa vì tay yếu bà vò không sạch. Bà quản gia kể cho bà nghe chuyện thằng Viễn :
“ Cách đây cũng trên mười mấy năm rồi, khi đó chưa có chị Năm nấu ăn ở đây. Tôi vừa nấu ăn vừa trông coi việc nhà. Thằng Viễn đâu từ miệt Trung vào. Nó ốm yếu mảnh khảnh quá,  tôi nghĩ con nhà nghèo mà như thế này làm sao sống được. Nhưng thằng nhỏ rất lễ phép. Tôi thú thật,  khen gia đình nó biết dạy con ăn ở có đạo đức,  biết kính trên nhường dưới,  biết chào thưa đàng hoàng. Tôi coi nó như con và chỉ công việc cho nó làm. Cũng những việc lặt vặt trong bếp. Một hôm nó nhờ tôi xin bà chủ cho nó đi học kiếm ít chữ. Tôi mới mở miệng ra,  bị ông chủ quạt :
“ Học cái gì,  lớn già rồi mà học cái gì, phải có dòng dõi mới học được ai cũng học được hay sao. Tôi sẽ cho nó có nghề ngổng đàng hoàng để có thể tự sống như người ta”. Thế mà cũng gần một năm nó mới ra khỏi cái nhà bếp này,  đến trại gạch của ông chủ ở Trại hầm cách thành phố xa lắm. Tôi chưa đến đó bao giờ,  nhưng sáu người làm ở đó thằng Viễn nữa là bảy,  hàng tháng thay phiên về đây nhận gạo mắm muối đem về lò gạch. Tôi thấy nó hơi đen có vẻ khỏe mạnh hơn hồi mới tới. Tôi hỏi cuộc sống ở đó ra sao, nó cho biết ở đó buồn lắm,  nhưng ăn no, công việc làm gạch bằng tay rất nặng nề. Tôi hỏi có được tin tức gì cha mẹ ở miền Trung không,  nó rớm rớm nước mắt trả lời từ ngày ra đi không được tin tức gì hết,  bây giờ lên trại Hầm lại càng xa lạ khó có tin gì.
Sau đó một thời gian rất lâu tôi cũng không nhớ là bao lâu,  đang đêm vừa ăn tối xong, tôi chưa rửa chén,  bổng lính tráng cảnh sát ồ ạt tràn vào nhà . Chúng tôi không biết trời trăng gì ráo. Lính ra lệnh cho chúng tôi, những người làm việc nhà, vào ngay phòng này và ngồi im bất động. Ông bà chủ cùng các cô cậu bắt buộc vào phòng khách ngồi im. Lính họ lục xét không chừa một chỗ nào. Thùng rác họ cũng đổ ra khám xét. Đồ đạt trong nhà tùm lum,  họ soát mấy tiếng đồng hồ,  rồi họ mời ông chủ lên xe đi. Mãi tới gần sáng ông chủ mới về cho biết bảy người dưới trại gạch bỏ trốn theo Việt cộng ba ngày nay rồi. Mãi tới khi xe vào chở gạch mới hay,  không còn ai ở đó,  và truyền đơn của Việt cộng rải đầy trong sân lò gạch. Từ đó lò gạch đóng cửa không ai dám xuống nữa. Hai năm sau trong cái bar lính Mỹ tụ tập uống rượu, tìm gái chơi bời, một quả lựu đạn nổ không ai bị thương,  nhưng một tên phá hoại bị lính bắn chết. Sáng ngày nhìn mặt, công an xác nhận tên đó là người làm ở lò gạch của ông Xu. Lại thêm một phen ông chủ bị công an kêu lên kêu xuống, nhưng nhờ ( bà đưa hai ngón tay làm động tác đếm bạc ) nên ông không bị khó khăn. Mọi việc rồi êm xuôi. Từ đó ông chủ bà chủ đâm ra ghét người ngoài quê,  vì nghe nói những người làm gạch đó đều là người ngoài quê của ông vào xin làm.” Bà Cận nghẹn ngào :
– Rồi sau đó bà có biết thằng Viễn chết sống như thế nào không ?
– Không, tôi không nghe tin gì nữa. Tôi vái trời Phật cho nó còn sống tội nghiệp, tôi đã nói với bà,  tôi thương nó như con tôi mà.
Cặp mắt bà Cận mờ dần. Bà quản gia có trình lên bà chủ cho bà Cận đi khám mắt nhưng không thấy bà chủ đả động đến vấn đề này.

Từ ngày tỉnh Ban mê thuộc bị cộng sản chiếm đóng, thành phố Đà lạt gần như không còn an toàn nữa. Những nhà giàu có bắt đầu di tản xuống Sài gòn. Sắp sửa lên xe đi Sai gòn bà Xu mới xuống nhà bếp chào bà Cận từ biệt :
“ Thôi chị ở lại,  tôi đi,  rồi khi bình yên chị em mình gặp lại..” Bà Xu còn muốn nói gì nữa nhưng nước mắt rơm rớm nên bà không nói được. Chưa đầy mười ngày thành phố Đà lạt vắng vẻ,  các tiệm buôn,  các quán cà phê,  các nhà hàng ăn uống,  đều đóng cửa. Chỉ còn những người lính súng hằm hằm trên tay đi tuần trên đường phố. Chị nấu ăn vui mừng nói với bà Cận :
“ Hôm nay cháu mới dám nói với bà,  quân cách mạng sắp giải phóng Đà lạt,  và chắc chắn cậu con trai của bà sẽ về gặp bà. Chồng cháu cũng sẽ về gặp cháu. Chồng cháu bỏ đi trên mười năm rồi.” Bà Cận chưa hiểu chị Năm nấu ăn nói gì,  bà hỏi vu vơ :
“ Sao chồng chị lại bỏ đi đâu và con tôi đi đâu mà về ?’
– Cũng như con trai của bà chồng cháu đi theo quân giải phóng làm cách mạng
– Mô Phật thiệt không cô Năm, nói thiệt cho tôi mừng.
– Nay mai thôi, chậm lắm là một tuần nữa, chúng ta được giải phóng.
– Trời Phật ơi, nếu cho tôi được thấy mặt thằng con út của tôi rồi sau đó tôi có chết, tôi cũng vui lòng.
– Bà tin tôi đi, nay mai quân giải phóng vào. Trưa nay bọn lính Sài gòn nó rút hết. Không còn xe lên xuống Sài gòn nữa . Quân giải phóng đã chận cắt ngang đèo Chuối rồi.

Mấy hôm nay nhà ông Xu chỉ còn bà Cận và người nấu ăn,  nhưng hai người vẫn ở nhà bếp. Cả toà nhà mênh mông vắng lạnh như khu nhà ma. Tối nay chị Năm nấu ăn nói với bà Cận :
“ Bà ngủ đi nhé,  tối nay có thể cháu về khuya. Nếu cháu không về thì ít hôm nữa cháu đến đây tìm bà. Nói xong chị ra ngõ sau,  khuất trong bóng tối. Đêm đó bà nôn nao lo sợ. Biết đâu bà sẽ gặp lại con trai bà. Đêm nay tiếng người qua lại, thành phố ồn ào quá. Bà không ngủ được,  trông mau trời sáng. Bà nghe tiếng xe hơi, tiếng người chạy qua lại ngoài đường, kể cả cái hẽm heo hút phía sau nhà, hình như cũng có người đi rộn rịp..Tiếng loa quân đội giải phóng đã trở về …..bà run run,  chắp hai bàn tay ngữa mặt lên trời “ Xin Trời Phật phù hộ cho tôi được gặp con tôi.”

Gần tháng nay,  một bà già mù, điên,  chống gậy đi bên lề đường khóc thảm thiết : “ Viễn con đâu, sao không về gặp mẹ !” Người đi đường phần lớn quân đội giải phóng qua lại không để ý đến bà già điên này. Bà gào thét kêu tên con khóc thảm thiết. Không còn đi được nữa, bà ngồi bên lề đường “ Viễn ơi, sao con không về, con đâu, bỏ mẹ một mình, Viễn ơi,  sao con không về .!”

Một buổi sớm toán tuần tiểu bắt gặp một xác chết của một bà già,  ngồi co quắp bên trụ đèn điện .

Nguyễn Liệu

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: