Thôi anh về – Truyện ngắn Nguyễn Liệu

Thôi anh về 

Viết tặng Nguyễn Cự 

Người y tá đưa tay làm dấu gọi Chín vào phòng gặp bác sĩ. Vội vã bước vào, người y tá bước ra khép cửa, để hai người nói chuyện riêng.
– Ông ngồi, tôi có chuyện muốn nói. Người thầy thuốc nói nho nhỏ phải cố gắng lắm mới nghe được tiếng nói của ông. Chín ngồi xuống hồi họp vì đoán biết chuyện chẳng lành. Tiếng phone reo, người bác sĩ trả lời cho một người nào bên ngoài hỏi về phản ứng của thuốc . Bác sĩ nói nhỏ quá, và Chín đang hồi họp chờ nên gần như không nghe rõ tiếng trong phone của ông ta. Hạ phone xuống ông cầm miếng giấy lên xem và hỏi :
– Ông Bảy, Nguyễn Bảy bệnh nhân ở đây là thứ gì ông.
– Dạ anh ruột của tôi.

– Vậy tôi chỉ nói riêng với ông chứ tôi không cho bệnh nhân biết, anh của ông đang bị ung thư gan nặng lắm- Người thầy thuốc già,  cắn xuống môi dưới,  chăm chăm nhìn như dò đóan phản ứng tình cảm của Chín, hoặc ông sắp nói điều khó nói quá, nên phải ngừng lại, không thể nói tiếp được.
– Trời ơi, có cách gì cứu chữa cho anh tôi được không bác sĩ. Nước mắt Chín chảy ròng lên gò má, người nóng phừng phừng, chăm chăm nhìn vào người thầy thuốc già như đang lựa lời cho biết tiếp những điều Chín đã đoán biết.
– Hiện nay và nhất là ở nước mình,  không có đủ phương tiện, vả lại bịnh nặng quá đến giai đoạn cuối . Ngừng một lác bác sĩ nói tiếp, đến trường hợp này, khoa học hiện nay cũng đành bó tay chịu thua. Ông nên sắp xếp đưa ông anh về nhà sống thêm ít ngày nữa, tôi đã ký giấy xuất viện cho ông đưa bệnh nhân về nhà. Thành thật chia buồn ông. Bác sĩ đưa ông Chín miếng giấy in sẵn đã có chữ ký và con dấu đỏ. Chín cầm miếng giấy lặng lẽ bước ra khỏi phòng.

Vào phòng cầu bên cạnh Chín rửa mặt lấy lại vẻ bình tỉnh tự nhiên để gặp anh Bảy. Hai lần rửa mặt lau mặt, chậm chậm, hít thở thư giản để ra gặp người anh, nhưng vừa bước đến cửa cầu mở ra ngoài, thì nước mắt lại tuông chảy, Chín đành phải trở vào rửa mặt lại. Mấy lần như vậy. Chín bước mạnh vào phòng gượng cười nói lớn :
Anh Bảy, bịnh nhân đông quá,  bác sĩ cho anh về ăn Tết rồi trở lại, chứ hai người một giường bất tiện quá. Thôi anh chuẩn bị em đưa anh về. Mùi thuốc tây với mùi cồn làm em dị ứng hắc hơi mãi chảy nước mắt nước mũi y như khóc. Chín yên tâm đã ngụy trang được cái khóc của mình. Anh Bảy ngoài năm mươi, nhưng như một ông già sáu bảy mươi. Ốm, ốm quá, còn da bọc xương. Cặp mắt lờ đờ không còn hồn sắc, hai mi khép kín hoặc hi hí như sợ ánh sáng ban mai chói chang.
Người y tá bước vào :
– Ông đưa bịnh nhân về, hôm nhập viện có gửi gì không.
– Dạ không, chỉ có một bộ áo quần ông anh tôi để trên đầu giường. À mà cô,  tôi mới gặp bác sĩ, xin cô có quần áo thuốc men gì cho tôi xin cho anh tôi về nhà dưỡng bịnh . Không đợi hết câu hỏi của Chín, người y tá mau miệng đáp :
– Không có. Áo quần làm gì có . Nói riêng với ông, bịnh viện thiếu lắm, ngay quần áo người chết chúng tôi còn giặt lại cho người khác dùng. Còn thuốc tây thì phải có lệnh của bác sĩ, nhưng tôi biết chắc không có thuốc, chỉ ít thuốc của Trung quốc và thuốc Nam, nhưng cũng rất khan hiếm.
– Dạ thưa cô,… cho xin ít giấy lau, khăn lau để tôi..
– Xin ông biết cho, không có gì hết, ông vào nhà cầu thì biết ba cái vòi nước hư hết hai cái, không có tiền để thay cái mới, cái nào hư viết giấy ghiêm vào đó vòi hư, để khỏi mở ra mở vào mất công. Bây giờ khác hồi trước xa lắm ông ạ, xin ông thông cảm.

Nhìn lên cái bàn nhỏ trên đầu giường bịnh nhân, cái ly uống nước cô y tá lấy đi từ hồi nào để lại cái bàn trống trơn. Chín xách cái giỏ bằng lát trong đựng một bộ quần áo cũ của anh Bảy đem theo để thay trong những ngày mằm viện nhưng y tá chưa thay cho bịnh nhân, một tay dìu ông anh chầm chậm xuống cầu thang đi ra nơi gửi xe đạp dưới sân cỏ. Anh Bảy im lặng như một vật không còn cảm giác, đi theo Chín. Đặt anh Bảy ngồi trên cái yên sau chiếc xe đạp cũ kỹ, Chín dặn :
– Anh dựa vào lưng em, ôm chặt ruột em, và nhớ khi buồn ngủ thì báo cho em biết . Nhớ nghe anh Bảy. Một tay nắm chặt tay anh Bảy, một tay nắm ghi- đông xe chạy chầm chậm sát lề đường bên mặt. Chiếc xe đạp cọc cạch, lịnh quịnh qua lại một khúc đường, rồi đi thẳng. Chín yên tâm.

Đổi đời được năm năm. Năm 1980. Thành phố Sài Gòn đìu hiu. Người qua lại âm thầm bằng xe đạp. Rách nát. Những bao ni lông rách, cùi bắp, vỏ chuối, tàn thuốc ..trơ tráo trên mặt đường. Một luồn gió thổi, bụi bay đầy đường. Người ta tạt nước trước mặt nhà để cho bớt bụi bay vào nhà. Chín chầm chậm cẩn thận chở anh Bảy về nhà với niềm chua xót, chưa bao giờ anh thấy mình bất lực đến mức thê thảm như thế này. Nước mắt lại chảy ra, anh khóc, anh không còn dấu diếm nước mắt nữa, anh biết chắc rằng anh đang đưa một người anh ruột sắp chết về nhà.

Chín đông anh em. Người anh cả chạy ra được nước ngoài có lẽ làm ăn không ra gì nên không giúp đỡ gì cho cho cha mẹ ở quê nhà. Cha mẹ đều trên tám mươi, già yếu. Nhiều lúc nghĩ nếu ông bà qua đời trước khi đổi đời, thì khỏe cho ông bà biết bao, khỏi đói khổ, khỏi thấy một bầy con cháu đói khổ. Một người anh ở miền Trung bị bắt đưa lên núi cải tạo không biết chết sống như thế nào. Bầy con nhỏ và người vợ trẻ có nhan sắc không biết như thế nào. Năm năm rồi không tin tức. Đứa em gái ở Sài gòn,  chồng bỏ theo vợ bé, nuôi ba đứa con nhỏ, cả ngày không bao giờ có nụ cười, chẻ củi bán, củi văn gãy răng, chảy máu không cầm được, nhờ người hàng xóm dìu vào bịnh viện gần nhà, nếu không thì cũng ra nghĩa địa rồi. Một đứa em nữa, may vá suốt ngày nuôi mười đứa con sinh năm một, ngày qua tháng lại ăn toàn bo bo. Một đứa em trai ho lao không biết đến thời kỳ thứ mấy, cả ngày bị vợ chán chường đay nghiến , đứa con đầu trên mười tuổi cả ngày lặn lội dưới các đống rác sình lầy để dành dựt tìm tòi bao rác ni-lông . Còn vợ anh thì đã mấy năm rồi đau nằm một chỗ. Anh đạp xe từ từ nước mắt cứ chảy tự do vì hai tay anh đang bận giữ ông anh và điều khiển chiếc xe đạp. Con nhà địa chủ,  có bằng cử nhân, đi dạy học rồi đi sĩ quan, làm giáo sư trường võ bị Đà lạt, rồi có vợ cháu gái của một ông tổng thống. Bây giờ suốt ngày phải đóng vai ông già đầu tóc bạc phơ, râu dài sum suê, quần áo rách rưới dơ dáy. Bao giờ sân sấu hạ màn. Bao giờ chấm dứt vai tuồng.  Có lẽ màn kịch kéo dài suốt đời người. Nhiều lúc anh Chín nghĩ thà như anh mình bị nhốt cha nó trên núi, chết thì thôi, chứ sống mà phải sắm mãi vai tuồng này thì sao chịu nỗi, riết rồi không điên cũng hóa ra khùng. Anh lại mĩm cười nhưng nước mắt cứ chảy dài xuống thấm mặn mặn.

Xuống xe. Người vợ nằm buồng trong hỏi vọng ra :
– Anh Bảy khỏe không họ cho xuất viện rồi à.
– Đông quá, hai người một giường họ cho về ăn Tết rồi sẽ tính. Vừa trả lời cho vợ anh Chín dắt người anh vào nhà, để nằm trên chiếc tràng kỹ ở phòng ngoài:
– Anh nằm cho khoẻ em lấy nước cho anh uống.
Từ khi mẹ anh mệt mỏi hay chóng mặt, uống nước có pha chút đường thì khỏe hẳn Chín xem nước có pha ít đường như một vị thuốc cho người già,  nên anh pha nước vào ly nhỏ hòa chút đường đưa cho anh Bảy uống. Hớp mấy ngụm nước đường,  anh Bảy cảm thấy tươi tĩnh mở mắt và bắt đầu hỏi :
– Bác sĩ chê anh rồi hay sao lại cho anh về.
– Ổng nói bịnh anh phải chữa lâu dài từ từ nên cho về ăn Tết rồi sẽ vào chữa tiếp.
– Bác sĩ dở quá, chữa gì càng chữa càng mệt. Anh Bảy nói phì phèo như tiếng khóc.
Chín quyết định, cũng như bác sĩ, không trực tiếp nói cho bịnh nhân biết một sự thật mà chỉ nói cho người thân của bịnh nhân. Nếu có vợ con của anh Bảy ở đây thì anh Chín sẽ cho vợ con biết để họ lo liệu, và mình hết bổn phận như ông bác sĩ đã hết bổn phận. Chín âm thầm quyết định đưa anh Bảy về sum họp gia đình trong dịp Tết sắp tới. Ừ thì gặp vợ con.. rồi chết, đở tội nghiệp cho những người còn sống.

Chín quyết định, không cho vợ biết, gủi hết số tiền hơn tháng lương làm đồ nhom của một tổ hộp nhom gần nhà cho anh Bảy về ăn Tết, mà anh biết chắc là cái Tết cuối cùng . Chín gầy ốm nhưng phải lao động nặng nề,  vì chỉ có đi làm mới được ăn no. Bữa ăn trưa là bữa chính, Chín ăn no, rất no, để đỡ bữa cơm chiều mà Chín thường nói dối với vợ con mới ăn ở chỗ làm về, để dành cơm cho ba đứa con và người vợ bịnh. Bù vào chỗ yếu, Chín tích cực làm việc, gặp việc nặng nhào vô trước làm gương, đã vậy còn luôn mồm kể chuyện tiếu lâm, chuyện cười, có khi cả đoạn dài Tam quốc , chỗ nào quên thì anh phịa thêm vào cho hấp dẫn, cho nên trong nhóm rất mến, nhiều khi ông phụ tá lò nhom cũng tham dự há miệng nín thở nghe câu chuyện bịa quá lý thú của anh. Anh kể chuyện ông Trương Phi bị Tào Tháo đuổi suýt bị bắt. Ngựa Tào tháo khỏe quá phi nước đại gần sát đui ngựa Trương Phi. Quá nguy cấp, Trương Phi nhảy xuống ngựa, vác ngựa chạy xà lui, tay cầm xà mâu, hét lên làm rung chuyển núi rừng, cây hai bên đường như bị bảo tố ngã rụp chận đầy đường. Trương Phi chạy xà lui nhanh quá, Tào Tháo đuổi không kịp. Qua cây cầu bắt qua con sông lớn, Trương Phi hét thêm tiếng nữa, cá dưói sông bị sức ép chết nổi lềnh bềnh,  con kình ngư thần hoảng hốt giật mình quật cái đui làm cầu sụp. Trương Phi thoát chết. Tào Tháo bắt không được Trương Phi tức hộc máu mồm, tướng tá thuộc hạ thu binh,  đưa Tào Tháo về cứu chữa…” Anh còn thêm : câu chuyện phịa đó tôi tái bản hoài,  nhưng vẫn thu hút công nhân trong tổ hợp nhom. Nhưng rồi anh bị nghỉ việc, anh bị sa thải. Chín kể lại :
– Bởi vì tôi ăn nhiều quá, có lẽ nhìn cơ thể gầy yếu của tôi lại dễ thấy lộ “ đức ăn nhiều” của tôi. Tôi ngồi bên thúng cơm, bữa trưa nào cũng vậy, tôi chiếm chỗ ngồi độc đáo đó, anh biết không, những năm đó cơm quí hơn vàng, không cần đồ ăn, chỉ cần cơm. Người ta ăn ba bữa, tôi chỉ ăn một bữa bằng ba. Về nhà thấy vợ và các con tôi ăn cơm ghế ba phần củ, tôi ứa nước mắt, ước gì tôi dẫn vợ con tôi theo làm nhom để ăn được bữa cơm trưa không ghế. Vì vậy tôi gắng ăn no, thật no, ăn đứng không nổi, ăn toàn cơm chứ không dại gì ăn canh nó chiếm hết cái dạ dày của mình. Ăn xong, anh em hút thuốc uống nước, tôi ngồi, không thể uống nước, không thể uống nước được nữa, kể chuyện vui cho mọi người nghe, để dấu cái mệt mỏi quá no của tôi. Thế rồi một hôm, bà chủ lò nhom gặp tôi bà đưa tôi tiền lương, bà nói : “ Xin lỗi, ông lao động thì giỏi, không có khuyết điểm gì hết, nhưng theo anh em phản ảnh, thì… ông ăn quá nhiều.. trong khi tổ hợp bị lỗ lã lớn, nên cảm phiền ông nghỉ việc, và đây là tiền lương một tháng rưởi của ông.” Nói xong bà chủ bỏ đi. Tôi chưng hửng, cầm số tiền về nhà không cho vợ con biết lý do bị nghỉ việc.”

Chín bỏ số tiền vào cái túi quần đùi may kỹ không thể nào số tiền đó bị rớt ra ngoài hay bị bọn móc túi. Số tiền đó sẽ làm cho anh Bảy một cái Tết vui vẻ với vợ con. Bảo anh thay cái quần đùi và nhớ cái túi sau có tiền đã may kỹ,  về đưa cho chị Bảy lo Tết. Anh Bảy nở nụ cười héo hon. Lâu lắm rồi anh mới có nụ cười, Chín nghĩ như vậy.

Sáng hăm ba ngày đưa ông táo về trời, Chín đưa anh về quê. Tuy gần Tết nhưng Sài Gòn vẫn đìu hiu buồn bã. Người qua lại âm thầm. Một buổi sáng nặng nề. Ánh nắng chói chang trên các hàng me già sần sùi hai bên đường. Người ngồi ăn trên lề đường trước các gánh bán dạo. Các quán cà phê sang trọng vắng khách. Cũng một tay nắm chặt hai tay người anh trước ruột mình, một tay lái chiếc xe đạp chầm chậm sát lề đường. Chín định nói điều gì với anh Bảy nhưng nước mắt chảy làm nghèn nghẹn ở cổ họng.Câu nói của anh Bảy ra đi là câu nói cuối cùng đối với gia đình Chín:
“ Thôi anh về, các em các cháu ở lại ăn Tết vui vẻ..”

Tài xế chiếc xe đò là cháu rể trong họ của Chín vui vẻ nói :
– Chú yên tâm cháu đưa chú Bảy đến tận nhà. Cháu ra chuyến này rồi ở nhà ăn Tết ra giêng mới vào vì không có khách vào ngay bây giờ, nhân tiện chúc gia đình chú năm mới phát tài.
– Cháu chúc chú có cơm ăn no là tốt rồi, chú mới chúc cháu phát tài.
Chín đặt anh Bảy ngồi lên ghế sát ngay sau tài xế . Chín nói sát vào tai anh Bảy như không cho người bên cạnh nghe :
-Trong cái giỏ lát để dưới chân anh đây, trong đó bộ quần áo của anh, vợ em biếu chị bốn lon gạo trắng loại tốt nhất,  để trước cúng ông bà sau anh chị và các cháu ngon miệng, em mua một cái bánh bao cũng ở trong giỏ này,  khi đói bụng anh ăn, chai nước sôi để nguội có pha đường, anh thỉnh thoảng hớp miếng cho khỏe người. Cái bao ni lông đây nếu có mót tiểu anh tiểu đại vào, anh đừng lên xuống xe mệt, nguy hiểm. Thằng Đồng rể anh Xuân là tài xế,  em có dặn kỹ nó sẽ đưa anh đến tận nhà, anh yên tâm.
Không biết anh Bảy có nghe kỹ những lời dặn dò cẩn thận của Chín hay không chỉ thấy anh gục gục đầu, mắt nhắm kín như sợ chói nắng buổi sáng. Bến xe nhộn nhịp ồn ào người ta nôn nao về ăn Tết.
– Bà con cô bác lên xe. Đến giờ xe chạy. Lên xe, lên xe bà con cô bác lên xe..Tiếng réo của các tên lơ xe.
Máy xe nổ rồ lên rồi hạ xuống điều hòa, rồi rộ lên rồi êm dịu nhỏ đều dần..Chín biết giờ chót đã đến, giờ chót điểm rồi. Nước mắt tuông chảy nhuễ nhại trên mặt. Hình ảnh khách lên xuống mờ mờ. Chín lính quýnh không biết phải làm gì. Lần cuối cùng rồi, trời ơi, lần cuối cùng, không bao giờ, mãi mãi không bao giờ còn gặp người anh đau khổ này. Bổng Chín la lớn khóc òa :” Anh Bảy, anh Bảy…thôi anh về . Chín ôm choàng hôn lên khuôn mặt xương xẩu anh Bảy.”.Lần đầu tiên Chín hôn người anh và cũng lần cuối cùng Chín hôn người anh. Rất ngạc nhiên người tài xế nói :
– Qua Tết cháu chở ổng vào lại,  có gì mà chú khóc lóc vậy, thôi chú ở lại, cháu chạy”
Chín buông anh Bảy ra , ngơ ngác bước xuống xe,  đứng bên lề nhìn chiếc xe từ từ rời bến. Chín đưa cao tay vãy vãy vĩnh biệt “anh Bảy, anh Bảy !” nhưng anh Bảy nào có thấy, nước mắt anh cũng mờ mờ không nhìn rõ những người trong xe. Chín đứng như cây trụ vô tri,  mắt hướng về chiếc xe, nhưng xe chạy đã qua mấy con đường sắp ra khỏi thành phố rồi.

Chiếc xe Miền Trung chạy suốt một ngày một đêm đến quá trưa hôm sau đến ngã ba đường về anh Bảy. Xe dừng,  người tài xế lên tiếng : “ Nghỉ năm phút bà con ai có đi tiểu đi tiểu, xe ra Đà nẳng không ngừng nữa” Quanh lại anh Bảy : “ Thôi chú về ăn Tết vui vẻ ra giêng cháu đưa lại vào Sài gòn” người lơ xe xách xách lát dìu anh Bảy xuống xe đi trên con đường đất vào xóm. “Đưa ổng vào tận nhà rồi mày chạy ra gấp đi kẻo tối .” người tài xế nói lớn như ra lệnh. Anh lơ vội vã dẫn một ông già xiêu xiêu trong nắng chiều trên cánh đồng vắng, theo con đường ngoèn ngoèo dẫn vào xóm gần quốc lộ.

Chị Bảy người đàn bà trạc năm mưởi, đen ốm gầy xơ xác đang cuốc ở một góc vườn la lớn : “ Trời ơi, ông về hồi nào.!.” Chị chạy ùa ra ngõ đỡ anh Bãy từ tay người lơ xe. Người lơ xe vừa chào vừa quành chạy trở lại quốc lộ. Chị Bảy mừng rối rít : “ Mô Phật đêm hôm qua tôi thấy chiêm bao ông về ăn Tết, tôi nghĩ là vì nghĩ đến ông nhiều quá nên ngủ thấy vậy thôi, không ngờ chiều nay ông về đến nhà, Mô Phật linh thiêng thật” Tuy thở hổn hển nhưng anh Bảy mừng lộ ra nét mặt :
“ Gần năm năm không về nhớ nhà quá. Nhà có gì lạ không, bà và sắp trẻ cũng mạnh chứ.” Vừa hỏi vợ vừa nhìn cây rơm trước nhà , hàng keo xanh rì , cái giếng…vẫn như ngày nào, vẫn triều mến. Bổng dưng thấy yêu mái nhà khu vườn và cái xóm nhỏ của anh . Ba đứa con nhỏ ở nhà chạy ùa ra “ cha về ! cha về !”. Hai đứa nhỏ không quần không áo, đứa lớn mặc chiếc quần cụt vá đủ màu. Anh đưa tay định bế đứa nhỏ nhất, thằng bé thấy lạ chạy ra xa về cạnh chị Bảy. Anh vò vò đầu thằng lớn rồi cùng vào nhà. Chị Bảy vừa đi hỏi :
– Ở trỏng cha mẹ các anh chị đều bình an
– Đâu cũng vậy cũng đói khổ
– Cái gói gì trong xách này
– Mấy lon gạo vợ chồng chú Chín gửi đem về cúng ông bà. Chị Bảy tươi hẳn nét mặt.
– Tội nghiệp chú thím Chín chưa. Còn cái gì đây ?”
– Cái bánh bao, đi xe mệt tôi mới cắn mấy miếng, bà cho trẻ con nó ăn.
Chị xé cái bánh làm tư giữ lại một phần bảo để cho thằng Hai chiều nó về. Ba đứa nhỏ bỏ hết vào miệng nhai ngấu nghiến. Nhìn các con ăn ngon lành anh Bảy cảm thấy vui vui cười, nhưng nước mắt chảy mặn mặn.

Chị Bảy lấy lon đong lại số gạo đổ vào cái thùng bằng thiếc, vui mừng :
Đúng bốn lon dư một chút. Gạo trắng hột đều thơm quá. Người Sài gòn họ ăn gạo ngon thật, người ngoài mình ít khi thấy được hột gạo trắng thơm như thế này. Chị nhớ lại ba mươi Tết năm ngoái, chị chạy khắp xóm năn nỉ khó khăn lắm mới chia được hai sắc gạo trắng về nấu cúng ông bà chén cơm cho tinh khiết, còn ăn thì mình ăn gì cũng được. Năm nay có được mấy lon gạo ngon, tha hồ trước cúng sau ăn cho thỏa thích. Chị nuốt ực nước bọt, gạo thơm này nấu mấy mình ăn cũng không bao giờ no. Tết này đở lo rồi. Mấy năm nay Tết nào chị cũng bán một con gà trống thiến. Tháng sáu thiến gà, nuôi sáu tháng chị bán. Bán trong dịp Tết mới có giá, chị chờ khoảng hâm tám hâm chín Tết chị mới đem gà ra chợ bán. Thường thường người ta thích mua con gà thiến của người nhà quê hơn là mua gà nơi cơ sở nuôi gà người ta gọi là gà nuôi công nghệ, vì con gà người nhà quê không có thuốc hóa học nên thịt gà ăn ngon thơm và nhất là hiền, không độc. Chị vừa đặt con gà xuống nền chợ là có người tới dành mua liền. Năm nào cũng vậy. Nhưng chị phải để cận ngày Tết mới bán vì bán sớm thì sẵn tiền trong túi, mà tiền vô nhà khó như gió vô nhà trống, nhất là dịp Tết thấy cái gì cũng muốn mua. Chị phải bán trễ mới còn đồng tiền, mới dành dụm qua Tết lúc sớ lở trong nhà có đồng tiền. Nhưng năm nay có anh Bảy về, chị nhất định không bán con gà để lại làm thịt trước cúng ông bà sau cả nhà vui ba ngày Tết. Nghĩ đến sự sum họp của gia đình chị vui vui . Thời gian qua mau thật mới đây mà đúng ba mươi năm rồi, ừ nhĩ đúng tròn ba mươi năm. Cái năm còn kháng chiến mà vui thật. Năm ấy mình mười tám, làm trưởng đoàn thanh nữ trong làng, anh Bảy vừa thôi học đang công tác trong ủy ban hành chánh xã làng trên. Anh Bảy con nhà điạ chủ mình cũng con nhà địa chủ. Trong các cuộc cắm trại chung của liên hai làng vì người ta nhập hai làng làm một, anh Bảy lớn hơn mình hai tuổi, anh lại hay chọc ghẹo mình, bây giờ nghĩ lại còn mắc cở muốn chết. Thế mà nay mình được bốn con. Tuy nheo nhóc nhưng thật dễ thương. Ăn Tết xong nhất định không để anh đi Sài gòn nữa, ở nhà có vợ có chồng, ăn mắm ăn muối cũng đầm ấm vui vẻ, chứ nghề đàn ông dù đi trong, làm ăn có tiền, nhưng rồi buồn bã sinh uống rượu, cờ bạc, thì cũng sạch tay. Hơn nữa, anh Bảy ốm yếu và già rồi, ngày trước cuộc đời lính tráng anh lưu lạc đâu đâu bỏ bê gia đình, bây giờ nhất định mẹ con mình phải buộc anh lại cho có vợ có chồng, có cha có con, ăn hột muối ăn cái củ cũng ngon. 

-Còn sớm bà đưa tôi đi một vòng xem vườn mình thử . Anh Bảy nói nhè nhẹ phì phào như đang cơn suyển. Ông uống thêm miếng nước đường trong chai của ông còn lại tôi mới hâm nóng rồi tôi đưa ông đi xem cho hoảng huợt. Mấy ngày đường trên xe không ăn uống, trong dịp Tết tài xế lại chạy ẩu, người khỏe cũng ngất ngư huống chi người đang bị cảm, vài ngày quen khí hậu,  rồi ông khoẻ lại bình thường, rồi đi thăm bà con xóm giềng, ai ai cũng hỏi thăm ông khi gặp tôi. Tội nghiệp, nói đổi đời thì nói vậy, chứ tình xóm làng lúc nào cũng vậy ông ạ. Mẹ con tôi muốn lần này ông ở nhà để mẹ con tôi lo cho ông, cây kim sợi chỉ vá cho ông tấm áo tấm quần, nấu cho ông miếng cháo khi trở trời, ngày giỗ ngày chạp có ông thắp cây nhang, còn tôi đàn bà có biết cúng kiếng gì đâu. Còn trẻ con có cha có mẹ nó vui hơn. Thằng lớn năm nay mười sáu rồi, nó lớn nhổ giò rồi mình còn tính chuyện sui gia nữa chứ. Ông ở nhà ông dạy tụi nó, tôi là mẹ nó có sợ đâu, nói nó có khi nó cãi lại làm tôi buồn. Anh Bảy vừa đi vừa rên nhè nhẹ như thưởng thức sự triều mến của người vợ đang ôm sát người dìu anh đi xem phía sau vườn. Vẫn cái giếng năm xưa. Anh dòm xuống nước trong xanh như thấy cát trắng dưới đáy. Chị bảo : hai mẹ con tôi vọt trồng rau khắp vườn nói dấu gì ông, không đủ tiền ăn gạo nhưng thừa tiền mắm muối. Và cứ độn rau thế gạo cũng đỡ lắm ông ạ. Mấy mẹ con tôi trồng lan tỉa bắp đỡ lắm ông ạ, nếu không thì làm sao chịu nỗi năm năm nay.
Ông nhớ cây vã này không, thế mà cũng hai chục năm rồi đấy. Ông xin ông xã Sáu về trồng tôi không chịu, tôi thì ưng trồng cây mít thiết thực, còn ông bảo trái vã ăn mắm ruốc ngon, tôi bảo bày tốn mắm chứ ích gì, tiền mua mắm ruốc có khi mắc hơn tiền mua gạo. Cải qua cải lại rốt cuộc cây vã sum suê, đến mùa trái bán đắc như tôm tươi. Thì ra trái vã nấu canh nêm hột muối ăn cũng ngọt nước lắm ông ạ. Ngồi dựa vào gốc cây vã nhìn bao quát khu vườn, anh Bảy thấy vợ con tội nghiệp quá, thì ra trong lúc vắng anh, vợ con anh cố gắng hết sức để duy trì cuộc sống ở đồng ruộng. Anh hối tiếc tại sao lúc trước vì đời lính tráng phải xa vợ con nhưng tới ngày hết chiến tranh mình tự đày đọa thân mình trong năm năm nay để sống cuộc sống xa nhà. Bây giờ thân tàn ma dại mang về nhà báo đời vợ con. Trễ còn hơn không, lần này anh nhất định nghe lời vợ ở nhà không đi xa, cuộc sống dù thiếu thốn nhưng có vợ có chồng sum họp, miếng cơm manh áo có nhau, và chắc chắn không ai thương mình bằng vợ mình. Nghĩ đến đó anh thấy âm ấm trong lòng. Anh mĩm cười :
“ Thôi mình đưa tôi vào nhà, chiều hơi lạnh.” Lâu lắm thật lâu, anh Bảy mới thốt chữ ‘mình’ như lúc còn thật trẻ, lúc mới cưới. Chiều xuống, mặt trời còn chừng non con sào. Ánh nắng yếu ớt buổi chiều mùa Đông phớt nhẹ trên hàng rào cây xanh phía sau vườn.

Vào nhà, cơm đã dọn sẵn chờ cha mẹ. Một nồi cơm ghế đầy khoai lan đặt giữa cái nong để giữa nhà. Một rỗ rau bí luộc. Một bát nước mắm đầy xác ớt chín đỏ. Đứa nhỏ nhất đơm chén cơm đầy định ăn trước,  bị anh nó la nên ngồi bù sụ,  tay cầm đũa sẵn sàng chờ cha mẹ vào. Nhìn thấy con đang chờ cơm anh nói lớn :
“ Các con ăn đi, cha ăn cháo mà, ăn đi !” Tức khắc mỗi đứa một cái chén đôi đũa xúc cơm đầy chén gắp rau chấm mắm lui ra ngoài ăn. Không có tiếng nói, chỉ có tiếng đũa chén tiếng nhai cơm dòn dã. Chị buột miệng : “ Con mình đang tuổi ăn tuổi ngủ, lo cho sắp nhỏ này đầy cái bao tử cũng ná thở đá anh ạ.” Từ chiều giờ chị Bảy mới vui miệng dùng chữ ‘ anh’ thay chữ ông. Đã lâu lắm rồi chị không dùng từ này với anh Bảy. Chị thấy thích thích,… chiều nay tình nghĩa đầm ấm vợ chồng.
Anh Bảy ngồi nhìn năm đứa con ăn nước mắt chảy, anh thấy thương quá. Ước gì có thịt cá cho bọn nó ăn một bữa. Ừ năm ngày nữa Tết đến nhất định có. Anh nhớ đến cái quần đùi đang mặc mà chú Chín dặn đi dặn lại mấy lần nhớ về báo cho vợ anh biết ngay . Thế mà từ chiều giờ anh quên mất. Chị Bảy gọn gàng múc từng muỗng cháo đưa vào miệng cho anh ăn. Anh có thể cầm muỗng ăn được, nhưng để chị đút cho ăn, nhìn đàn con ăn ào ào, thật lý thú. Chưa bao giờ anh được có những phút lý thú như thế này. Chưa bao giờ anh cảm thấy cái lý thú của tình vợ chồng, tình gia đình êm đềm như thế này. Anh nói nho nhỏ :
– Chú Chín có gửi cho mình số tiền để ăn Tết, tánh chú cẩn thận bỏ vào túi quần lót may kín sợ rớt, mình lấy cái kéo cắt đường chỉ lấy số tiền.
Chị như bị run, há hốc miệng ú ớ : “ Trời ơi, tiền gì, ông nói lại , có thật không.” Anh Bảy mỉm cười, bàn tay xương xẫu vổ vổ vào túi quần lót “ tiền đây tiền đây”. Như cái lò xo tung mạnh, chị chạy lấy cái kéo. Chị run quá, không mở được các lớp bao nilông chú Chín gói cẩn thận quá.

Trời mùa đông ở nhà quê người ta đi ngủ sớm. Chị ngồi cạnh giường bóp nhẹ nhẹ hai chân của anh, nghĩ đến cảnh rồi đây vợ chồng chị con cái chị hãy cố vươn lên từ ngôi nhà từ mảnh vườn này. Anh Bảy thở nhè nhẹ đi vào giấc ngủ. Chị biết chồng chị suốt mấy ngày đường mệt cần giấc ngủ. Ngày mai tươi tỉnh lại sẽ bắt đầu lo một cái Tết thật vô cùng vui vẻ, ấm cúng. Để cho chồng yên giấc chị lặng lẽ nhẹ nhàng nằm ngang dưới chân anh. Chị thu người nhỏ lại sợ đụng chân anh làm lỡ giấc ngủ của anh. 

Bãi biển trong một đêm trăng vắng vẻ ở quê nhà anh. Người ta gọi là biển ngang, không có người qua lại, không có ghe đánh cá . Trên bờ cát trắng rừng thông xanh đen bạt ngàng. Tiếng sóng rì rào nhè nhẹ hoà với tiếng thông reo. Anh Bảy đi đi mãi trên bờ cát trắng trong rừng thông .Anh đi cho hết rừng thông nhưng rừng thông không hết, vẫn tiếng sóng rì rào, vẫn màu xanh đậm trải dài vô tận trước mặt anh. Anh khuất dần, khuất dần trong bóng thông như bóng đêm dày đặc.

Mệt mỏi chị ngủ thiếp đi hồi nào không hay, khi tỉnh dậy chị giật mình biết đang nằm ngang trên giường dưới chân anh Bảy. Anh ngủ yên lặng. Sáng nay chị dậy hơi trể vội vàng xuống bếp nấu nước sôi pha trà cho anh Bảy. “ Dậy mình, tôi pha trà đường cho mình uống đây, dậy mình, rồi trưa ngủ lại, dậy mình.” Chị đặt ly trà xuống cạnh giường lay mạnh anh Bảy, chị hoảng hốt, người anh lạnh quá, lạnh như nước đá. Chị lay mạnh anh vẫn bất động, mồm hơi há mắt nhắm nghiền toàn thân lạnh toát chị hoảng hốt la lớn ; “ Trời ơi anh Bảy sao như thế này, trời ơi anh Bảy ! anh Bảy !anh Bảy chết rồi trời ơi ! Chị la lớn,  con chị hoảng hốt tỉnh giấc. Bọn chúng khóc rống, la lớn cha chết rồi bà con ơi . Nhà bên cạnh đốt đèn chạy qua, họ mới hay anh Bảy đã chết rồi. Thì ra anh Bảy đã qua đời trong đêm chị nằm ngang dưới chân anh nhưng chị cũng không hay biết gì.

Đúng mười lăm ngày sau. Khoảng 4 giờ chiều, Chín đội cái nón lợp lá cói, như cái nón các ông cố đạo ngày xưa, khoát chiếc áo lính cũ ra đi đạp ciclo. Mất nghề làm nhom rồi, Chín chuyển sang đạp xi clo. Từ 6 gìờ sáng đến 4 giờ chiều phiên xe của người em rể, từ 4 giờ trở đi phiên của Chín. Đạp cyclo là nghề còn tồi tệ hơn nghề tay trái của Chín vì thấy anh ốm yếu quá người ta không dám kêu, khó tin tưởng anh đạp đến nơi đến chốn.
Chín khóa cửa trước ra đi thì gặp người đưa thơ đưa cho một phong bì. Nhìn thấy thơ từ miền Trung do chị Bảy gửi, anh hoảng hốt, hồi họp, bối rối, mừng mừng lo lo. Đạp chiếc ciclo sát gốc cây me bên lề đường, anh ngồi lên xe bóc ra xem.

….Tôi báo tin buồn cho chú thiếm hay anh Bảy đã mãn phần vào ngay đêm mới về nhà, đêm 24 Tết. Anh ra đi nhẹ nhàng yên lặng như người ngủ. Nhờ số tiền chú thím cho chúng tôi chôn cất anh Bảy đàng hoàng có mướn người làm bia. Hôm nay mở cửa mã xong tôi viết thơ báo cho chú thím biết để chú thím tin cho cha mẹ và anh chị em bà con trong đó biết. Mẹ con tôi xin cảm ơn chú thím lâu nay đã giúp đỡ nhiều cho anh Bảy. Xin chúc chú thím và mấy cháu mọi sự như ý….
Chị Bảy.
Tuy đã nghe bác sĩ báo trước, tiển người anh ra đi là vĩnh biệt, hôn anh lần cuối….thế mà được thư chị Bảy,… Chín hoang mang, toàn thân như ngừng mọi hoạt động. Ngồi thừ dưới gốc cây.. Chín khóc…

Nguyễn Liệu

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: