Hiếu Kinh – Diễn âm và Dịch nghĩa Phạm Huệ
Hiếu Kinh – Diễn âm và Dịch nghĩa Phạm Huệ
Diễn âm Thiên tử Chương đệ nhị
Tử viết :
Ái than giả bất cảm ố ư nhân, Kính than giả bất cảm mạn ư nhân. Ái kính tận ư sự than, nhĩ Đức Hiếu gia ư bách tính , hình ư tứ hải. Cái Thien tử chí Hiếu dã
Phụ hình vân :
Nhất nhân hữu khánh . Triệu dân lại chi
Dịch nghĩa :
Chương thứ nhì Vua Thiên tử giữ chữ Hiếu thế nào.
Đức Khổng Tử dạy rằng :
Khi mình yêu thương cha mẹ ông bà mình , mình đâu giám làm cho ai ghét bỏ cha mẹ mình. Khi mình kính trọng cha mẹ, ông bà mình, mình đâu dám làm cho ai khinh bỉ ông bà cha mẹ mình.
Phương cách thương yêu kính trọng như vậy thì là để mà dâng hiến cho ông bà cha mẹ mình. Đức hiếu sẽ chan hòa trong dân trong trăm họ sẽ thành khuôn thước cho bốn biển. Thì đó là chữ Hiếu của bậc Thiên tử
Thiên Phụ Hình trong kinh Thư rằng :
Một người có được mừng vui. Mà dân trăm họ cũng cười là ai.
Diễn âm : Chư Hầu Chương Đệ Tam
Tại Thượng, bất kiêu, Cao nhỉ bất nguy. Chế tiết cẩn độ. Mãn nhỉ bất Dật
Cao nhỉ bất Nguy, trường hữu quí dã. Mãn nhỉ bất Dật, trường thủ phú dã. Phú quý bất ly kỳ than, nhiên hận năng bảo kỳ xã tắc, nhi hòa cùng nhân dân Cái chư hầu chi Hiếu dã
Thi vân :
Chiến chiên căng căng. Như lâm thâm uyên, như lý lạc băng
Dịch nghĩa :
Chương thứ Tư Vưa chư hầu giữ Hiếu ra sao.
Ở nhằm điạ vị cao sang chớ để cho nó thành nghiêng đổ. Sống có chừng mực dẫu đầy đủ dư thừa chớ nên hoang phí.
Ở chỗ cao mà không làm cho trở thành nghiêng đổ thì giữ được sự tôn quí dài lâu. Vua chư hầu nào biết giữ phú và quí như vật bất ly than, thì ông có thể gìn giữ được xã tắc mà sống hoà bình cùng toàn dân. Thì đó là cái hiếu của vua chư hầu vậy
Kinh Thi có câu rằng :
Hãy gợm hãy gợm …vũng sâu trước mặt..băng mỏng dưới chân
( còn nữa )
Phạm Huệ