LƯỢC SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM THEO DÒNG TRUYỀN THÔNG THẾ GIỚI – THINH QUANG

LƯỢC SỬ

                             BÁO CHÍ VIỆT NAM

THEO DÒNG TRUYỀN THÔNG THẾ GIỚI

THINH QUANG

Trong thời chiến hay thời bình, truyền thông bao giờ cũng được xem là điều quan trọng. Báo chí là một vũ khí sắc bén bất cứ quốc gia hay tổ chức nào cũng phải cần đến.

Không phải đợi đến các thế kỷ gần đây giới truyền thông mới xuất hiện, thật ra nó đã hiện diện từ lâu rồi, chẳng riêng gì các quốc gia phương Tây mà ngay cả Ðông phương cũng đã biết đến điều này. Thời đại nhà Hán, hàng năm đều có một vài lần triều đình gửi các thông điệp phổ biến các đường lối chủ trương của nhà vua xuống tận các châu quận. Thông điệp này được gọi là“Hán triều đế báo”…

Tại Ý vào thế kỷ thứ 16 có các bản thông tin loan truyền các dịch vụ thương mãi của tư nhân, dần dà thêm thắt các tin tức cần thiết trong mọi sinh hoạt không ngoài mục đích giúp cho dân chúng các vùng được liên lạc trao đổi tin tức cho nhau.. Về sau các thông điệp này trở thành một nhu cầu không thể thiếu được, từ đó những người muốn có bản tin để đọc phải trả bằng một đồng Venise – có tên “gazeta” –  cũng từ đó người đọc quen gọi  báo là Gazeta.

Truyền thông trở thành là một nhu cầu cho sự sống. Họ cảm thấy xã hội cần phải liên kết nhau trên mọi phương diện. Các giới  khảo cứu nhận thấy về truyền bá các tin tức đi khắp mọi nơi là điều không thể thiếu được trong xã hội về mặt kinh tế, và luôn cả mọi lĩnh vực trong thời chiến cũng như thời bình.

Trong hai cuộc chiến lần thứ nhất (1914 – 1918) và lần thứ hai(1939- 1945) vấn đề truyền thông được xem như là một loại vũ khí sắc bén có thể nói còn vượt hơn hẳn các loại vũ khí giết người ngoài trận mạc. Hàng vạn quả đại bác không bằng một làn sóng trên máy vô tuyến phát ra tràn ngập khắp nơi và dễ dàng cuốn hút kẻ thù bên kia giới tuyến…Trong cuộc chiến Quốc – Cộng tại Việt Nam xảy ra năm  1945-1975  thế kỷ 20 đã cho thấy rõ điều này.

Ngay từ năm 1945, dưới danh nghĩa  đánh Pháp đưổi Nhật giành lại nền độc lập, nhà cầm quyền Việt Nam Cộng sản đã công bố họ  dành trọn cả một nửa tài sản quốc gia cho bộ máy tuyên truyền trong cuộc chiến.

Do đó, người ta không còn xa lạ gì ngày nay các cao ốc xây cất nhiều tầng cao vút,dành cho các đài vô tuyến truyền thanh,truyền hình và cho  hàng trăm tờ báo ngày, báo tuần, tạp chí v.v… dưới danh nghĩa tư nhân, mà thực ra  hầu hết đều được tài trợ,để làm nhiệm vụ tuyên truyền cho nhà nước  và đánh bóng chế độ.

Theo tài liệu viết về “lịch sử báo chí”, năm 1915 tức năm thứ hai của cuộc Ðệ Nhất Thế Chiến bắt đầu xuất hiện một cơ quan vô tuyến của tư nhân phát đi các làn sóng  xuyên qua đại dương,và sau đó thế chiến thứ hai mục đích  quản bá ý thức hệ ra thế giới bên ngoài, nói lên sự cần thiết về cuộc chiến trên mọi lĩnh vực.

Thực sự, trong hai cuộc thế chiến  I & 2  lúc bấy giờ còn bị kiểm duyệt các tin tức loan ra từ giới truyền thông luôn cả vấn đề các ấn phẩm cũng bị kiểm duyệt gắt gao và cấm đoán,.

Dưới thời Ðệ Nhất Thế Chiến lại còn gay gắt hơn theo hồ sơ Associated Press đưa ra các chứng minh về sự hạn chế này.  Cuộc chiến thứ hai 1939-1945 tình hình vẫn không có sự thay đổi mấy.

Trong thời gian các nước Tây phương đang tiến đến nền văn minh khoa học, thì Trung Hoa vẫn còn bị xem là lạc hậu yếu kém, mặc dù họ đã có nền văn minh tối cổ từ thời nhà Chu  (1050 tr.CN) ở lưu vực sông Kinh Thủy và Vị Thủy, họ từng  sử dụng thông điệp để truyền bá cũng như thu thập tin tức của đối phương. Nhờ đó họ mang quân đội vượt sông Hoàng Hà tấn công kinh đô Triều Ca của nhà Thương, khiến  Trụ Vương nhà vua cuối cùng của triều đại này không chống nổi phải tự sát.

Vốn là một quốc gia có bốn phát minh cổ đại như thuật làm giấy, thuật in ấn,kim chỉ nam và cả thuốc nổ, có ảnh hưởng rất lớn đối với nền văn minh thế giới lúc bấy giờ. Trong bốn phát minh lớn của Trung Quốc, quan trọng nhất là thuật làm giấy đưa lại cho nhân loại sự lợi ích hiếm quí. Các nhà làm văn hóa in ấn sách,các văn thư rao giảng, truyền đạt các thông tin trong dân chúng – mặc dù chưa có danh từ báo chí,nhưng đó là hình thức truyền thông xuất hiện từ hàng ngàn năm về trước tại đất nước này. Thái Luân là viên quan hoạn đã có công phát minh về kỹ thuật làm giấy tinh vi mà mãi đến ngày nay vẫn còn lưu dụng.

Không phải chỉ mỗi một việc phát minh kỹ thuật làm giấy, Trung Quốc còn nắm giữ cả về kỹ thuật khắc chữ và đưa ra nguyên lý in trái để có thể đọc được. Tiếp theo là sự phát minh về mực in vào thời Tiên Tần v.v…Ðặc biệt là lối in ấn chia ra thành hai giai đoạn đó là giai đoạn in bản khắc và tiếp đến là in chữ rời. Sau khi Nam Hàn ,vào năm 1966 đã phát hiện bản kinh Dà la nê khắc bằng gỗ khoảng năm 704-751 Công nguyên được coi là ấn phẩm cổ đại nhất thế giới.  Theo các nhà khảo cổ thì kinh Dà la nê được khắc in tại Tây An từ thế kỷ thứ bảy.

Năm 1933 Trung Quốc đã phát hiện các loại giấy cổ Tây Hán ở La bố hạc tức Tân Cương. Tiếp theo sau đó là các năm 1957 tại Bá Kiều Tây An, 1973 ở Cư Diên Cam Túc cho thấy giấy đã xuất hiện kể từ thế kỷ 2 tr.CN…

Ðời nhà Chu chú trọng đưa văn hóa vào công cụ tuyên truyền. Lúc bấy giờ Khổng Tử và Lão Tử là hai học giả xuất sắc xuất hiện,tạo nên  phong trào truyền bá tư tưởng đi khắp mọi nơi. Có thể nói ngành truyền thông cổ đại của Trung Quốc dưới thời đại nhà Chu như vườn hoa đang trong thời rộ nở. Nhưng vốn thuộc về nền văn minh “tịnh”, họ cho sự hiểu biết được như vâïy đã đủ. Thuyết “tri túc” đươc chủ trương từ đó, không cần tiến xa hơn nữa…Với quan niệm này đã làm họ dậm chân tại chỗ,trong lúc nền văn minh Tây phương vốn hiếu động, cho rằng sự hiểu biết của con người quá ít ỏi, đứng trước cái bao la của vũ trụ chẳng khác nào như hạt cát bé nhỏ không thể nào thấu triệt được sự bí mật của trời đất . Nhận chân được điều nay họ tiếp tục tiến bước, ngày một pháttriển, bỏ lại đàng sau một đất nước Trung Hoa vốn tự hào có một nền văn minh tối cổ trở thành một đất nước lạc hậu!

Trong bài “Vài nét về lịch sử truyền thông”, Trần Nam Aân  đã ghi về lịch sử báo chí trên thế giới ra đời với sự khám phá ra kỹ thuật in ấn. Ở Trung Hoa cách đây cả nghìn năm người ta đã biết khắc chữ trên gỗ,phết mực và làm ra những ấn bản đầu tiên trên thế giới. Do dó tờTching Pao có thể được coi là tờ báo lâu đời nhất và sống lâu nhất vì nó xuất bản từ năm 400 sau Tây Lịch đến năm 1934. Tại châu Aâu sau khi ông Gutenberg,người Ðức khám phá ra kỹ thuật dùng “con chữ”  để in, và từ đó báo chí bắt đầu xuất hiện. Tại Ðức, tờ báo phát hành đầu tiên vào năm 1470 tại Kohn,tại Bỉ năm 1606, tại Thụy Sĩ năm 1610, tại Anh năm 1621;tại Thụy Ðiển năm 1624,tại Pháp,tuy đã có những bản tin đặc biệt vào cuối thế kỷ thứ 15,nhưng sự xuất hiện của một tờ báo đúng nghĩa của nó là vào 1631, tại Ý Ðại Lợi năm 1640, tại Tây Ban Nha năm 1641…”

Năm 1835 nhiều quốc gia Tây phương bắt đầu đặc biệt chú trọng về ngành truyền thông. Năm 1835 xuất hiện cơ quan truyền thông có đến 1.100 phóng viên cho mọi ngành, 150 nhiếp ảnh viên, 2000 biên tập viên chuyên viết bài vở và…có đến 6 vệ tinh dùng để thông tin.

Tính về thời gian các hãng thông tin xuất hiện như hãng thông tấn Reuter của Anh được thành lập từ năm 1851, một giàn phóng viên có đến 11.306 chuyên nghiệp trên 124 quốc gia trong đó có 1.377 phóng viên thường trực.

Riêng tại Mỹ hãng  thông tấn AP (Associated Press) thành lập 1884 đã có 3.374 nhân viên.

Hãng thông tấn Itar-Tass (Telegrafnoe Agentsuo Soviet-Kovosoiouza) của Nga, thành lập ngày 22/1/1992, tiếp nối hãng thông tấn Tass của Liên Xô cũ được thành lập năm 1917.

Hãng thông tấn UPI (United Press International) của Mỹ được thành lập năm 1958 do sự sáp nhập của hãng UPA (United Press Association ) thành lập năm 1907 và hãng International News Services,thành lập năm 1909.

Ngoại trừ hãng Itar-Tass của chính phủ Nga kế thừa của chế độ Cộng Sản Liên Xô cũ, và hãng AFP của Pháp do chính phủ  đứng ra chủ trương có quy chế tự trị , độc lập về quản lý; các hãng thông tấn Anh Mỹ đều thuộc tư nhân .

Từ năm 1872, các nhà khoa học Hoa Kỳ,Nga,Pháp và Anh đã thành công trong việc truyền đi được tiếng nói qua làn sóng điện. Năm 1900, đài phát thanh đầu tiên mang tính thương mại  đã được thiết lập tại Ðức Quốc. Sau đó, nhiều nước khác đã áp dụng phát minh này chẳng những trong vấn đề thông tin mà còn trong các lãnh vực quân sự,hàng hải.

Ngành vô tuyến truyền thanh ngày càng tiến bộ vượt bực. Người ta đã khám phá ra các tần số,các làn sóng ngắn,dài,trung bình và làn sóng FM. Ðể phát tuyến đi càng ngày càng xa, nhờ thiết lập các trạm tiếp sóng trên mặt đất cũng như trên không trung qua vệ tinh nhân tạo.

Trở lại về Vương Quốc Ai Cập kể từ năm 1567 – 1085 tr. CN có một thời nền văn minh đạt tận đỉnh cao, từng biết sử dụng phát tán ấn bản truyền tin như thông điệp của nhà Hạ Trung Hoa.

Thời kỳ cổ vương quốc ở Ai Cập phát triển nghệ thuật kiến trúc  thành tựu đến độ ngày nay khó lòng có quốc gia nào   sánh kịp. Họ dựng lên nhiều bảng đá điêu khắc những lời rao giảng  chỉ dẫn cho khách đường xa tìm đến các công trình kiến trúc vĩ đại của vương quốc Ai Cập mà họ hãnh diện có một nền văn minh tối cổ.  . Những tấm bảng đá này được đặt trên khắp các nẻo đường chẳng khác nào như những thông điệp đời nhà Chu bên Tàu hay là những tờ “gazeta” tại Ý…

Vào những năm 3000 – 1900 Tr.CN, thời kỳ nền văn minh lưu vực sông Aán (Indus) ở Bắc Aán phát triển được xem là thuộc hàng có trình độ cao cấp. Họ xây các thành phố của Harappa và Mohenjo, có bản chỉ dẫn, có những nơi tụ hội dùng để rao giảng, tuyên truyền, phân phát những tờ thông điệp cho quần chúng. Những việc làm này không ngoài mục đích quảng bá nhữõng tin tức quan trọng mà dân chúng cần biết đến.

Hoặc giả  khoảng 2800 Tr.CN, người đảo Crète của Hy Lạp khai sáng nền văn minh Minoan, có những bức thông điệp dán tường,chẳng khác như người đời Chu đã thực hiện như vậy được gọi là “bích báo”….

Từ đó bích báo rộ nở khắp nơi, vào thời kỳ người Aryan ở û Bắc Aán, tại đây tiếp thu văn hóa và kỹ thuật canh tác của người Dravidian làm tăng trưởng cho nền văn minh của họ. Chẳng những “báo tường” dán khắp mọi nẻo ngách ở phố phường mà còn phổ biến đến tận các châu quận. Nhờ vậy tin tức được dễ dàng phổ cập khắp mọi nơi trên khắp đất nước..

Cuộc chiến  trường kỳ giữa Hy Lạp – Troie xảy ra ác liệt suốt nhiều năm, dân chúng sống trong cảnh lầm than đói khát. Cuối cùng Hy Lạp chiến thắng. Nhà thơ Homère nổi tiếng của Hy Lạp diễn tả lại trong 2 tập trường ca Iliade và Odyssée này được xem như một thông điệp nhằm  khích lệ  tinh thần yêu nước.

Trước nhiều phương tiện truyền thông càng ngày càng tinh vi có thể cung ứng cấp thời mọi biến chuyển trên thế giới, nhưng không phải vì vậy mà  phương tiện vô tuyến truyền thanh bị lỗi thời mà vẫn được xem là một phương tiện hữu dụng khắp thế giới lúc nào cũng phải cần đến để đưa các tin tức nóng bỏng,các bài bình luận cũng như văn hóa đi đến khắp mọi nơi trên thế giới. Hiện nay đối với vấn đề truyền thông có đầy đủ mọi phương tiện phóng ra các phương tiện qua hàng hà sa số các làn sóng mang các tín hiệu và lời nói cần thiết cho toàn thể dân chúng trên địa cầu. Ðiều đặc biệt là thế giới truyền thông có những thỏa ước cùng chung sống và tôn trọng các cam kết không quấy rối các làn sóng hay tiếng nói của nhau.

” Thế giới đã phải có những quy định,những thỏa ước về việc sử dụng cũng như tôn trọng những làn sóng điện này. Các đài phát thanh tư nhân cũng như “tài tử” lần lượt xuất hiện các quốc gia có luật lệ về phân phối các làn sóng trong khuôn khổ tôn trọng quyền tự do ngôn luận của người dân.

Truyền Hình

Hiện nay truyền hình có hai dạng đó là “vô tuyến truyền hình” và truyền hình bằng dây quang dẫn. Ước vọng chuyển được hình ảnh sống động từ nơi này đến nơi khác của con người đã bắt đầu có thể trở thành hiện thực khi ông Jons Jacob Berzelius (`1779-1848) khám phá ra những đặc tính về quang lực của chất selenium, biến ánh sáng thành giòng điện vào nắm 1817. Nhưng phải sau gần thế kỷ khảo cứu của nhiều nhà bác học Tây Aâu và Hoa Kỳ, từ ngữ “truyền hình” (television) mới được chính thức ra đời vào năm 1900, trong cuộc triển lãm quốc tế tại Paris. Nhiều nhà khoa học trên thế giới tiếp tục những công trình nghiên cứu giúp cho hình ảnh và âm thanh ngày càng rõ hơn và ngày càng truyền được xa hơn,cho đến năm 1951,lần đầu tiên hình ảnh có màu sắc đã được thực hiện đầu tiên của đài CBS tại New York. Từ đó tại những quốc gia tân tiến,người ta đã thiết lập các trạm tiềp sóngđể hệ thống truyền hình có thể bao trùm trên toàn lãnh thổ. Mỗi nước thường có nhiều đài vô tuyến truyền hình, phần lớn là của tư nhân.

Hiện nay với những kỹ thuật mới và có việc tiếp liên từ vệ tinh,hình ảnh và âm thanh đã bao trùm toàn thế giới. Truyền hình quả là phương tiện lý tưởng để thông tin và phổ biến văn hóa của nhân loại.”

Có điều mà ngày nay tất cả nhân loại đều dược biết một cách rành rẽ về việc phát minh cơ cấu truyền tin giữa con người và con người từ đầu non đến góc biển biết được ý tưởng của mình. Ðó là “Ngành Thông Tin Ðiện Toán”. Sự tiện ích vô cùng quý giá này đã xuất hiện bằng máy điện toán từ vài thập niên nay. Ðây quả là một phương tiện vô cùng tân tiến. Từ đó danh từ “internet”, hay “web” xuất hiện. Thoạt đầu mới mẻ và gây mọi sự kinh ngạc cho hầu hết mọi người, nhưng ngày nay thì trong tầm tay của hàng bao nhiêu triệu con người trên hoàn vũ bắt đầu sử dụng, truyền đạt tư tưởng và sự hiểu biết cho nhau trên mọi lĩnh vực ”.

Hiện nay, nhiều người có báo trên khắp thế giới để đọc ngay trên máy của mình mà không cần phải xê dịch ra khỏi nhà. Hoặc giả, muốn có các tác phẩm mới, hoặc muốn xem các phim hay trên khắp thế giới chỉ cần bấm nhẹ nhàng vào chiếc máy điện toán là hình ảnh nơi nào mình cần đến hiện ngay ra trước mắt.

Ðúng là ngành truyền thông ở thế kỷ này đã thu nhỏ địa cầu lại, cho con người luôn sống cận bên nhau..

LƯỢC SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM

Trong lúc ngành truyền thông rộ nở trên khắp các quốc gia trên thế giới, thì Việt Nam vẫn còn chưa hề hay biết.Mọi sự cần thiết quảng bá sắc chỉ của nhà vua cũng như các hịch rao truyền hội họp, lễ lạc cúng tế Thần Hoàng v.v… đều được phổ cập bởi hệ thống mõ làng. Ðến đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn mới truyền lệnh cho các quan Ðại thần nhờ các tàu buôn trong nước mỗi chuyến  hàng  mang sang bán tại Hương Cảng, mua các báo Anh ngữ  và cả các báo Hoa văn mang về nước, riêng về nhật báo Anh ngữ triều đình nhờ các nhà truyền giáo phương Tây chuyển dịch ra Việt ngữ (lúc bấy giờ đã có chữ Quốc Ngữ  do các nhà truyền giáo phát minh), đệ trình lên nhà vua tìm hiểu về tình hình  trên thế giới.

Vào năm 1831 có loạn Lê Văn Khôi vua Minh Mạng cho binh lính tiến quân tái chiếm thành Phiên An thuộc tỉnh Gia Ðịnh và đóng quân trấn thủ tại 6 tỉnh Miền Nam. Lê Văn Khôi quyết tử thủ, khiến cuộc chiến dằn dai kéo dài nhiều tháng cho mãi đến năm 1833 Lê Văn Khôi bị bạo bệnh chết, song  cuộc chiến vẫn tiếp tục cho mãi đến tháng 7 năm 1835 quân lính Minh Mạng mới tái chiếm được thành Phiên An.

Trong cuộc chiến này vua Minh Mạng bắt được 1831 tù binh và ra lệnh chôn tập thể dưới cái hố khá sâu rộng vào một nơi được chỉ định gọi là Mả Ngụy.

Trong số bị giết có một người Hoa, có biệt danh Việt gọi là Bốn Bang ( Bốn Bang đây chỉ về Bốn Bang Hội của người Trung Hoa). Trước khi bị giết Bốn Bang có soạn bài thơ “lục bát”  kể lại cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi theo thể truyện dài bằng thơ gồm 308 câu có nhan đề “Bốn Bang thư” bằng tiếng Việt rất hào hùng thống thiết.

Chuyện chôn sống ngót 2.000 tù binh do lệnh của vua Minh Mạng bị tiết lộ ra bên ngoài, hầu hết các báo chí Hương Cảng đều loan tin làm rúng động nhiều quốc gia trên thế giới.  Các tờ báo này  đến tay vua Minh Mạng và từ đó triều đình nhà Nguyễn mới biết sự lợi hại của báo chí và sức mạnh vô địch của giới truyền thông như thế nào.

Cuối năm 1872 nước Pháp đưa một tay thương lái tên là Jean Dupuis mượn đường của dòng sông Hồng Hà chở hàng sang bán ở Vân Nam (thật ra là chở súng đạn). Jean Dupuis nhờ hai thương gia người Hoa sinh sống tại Phố Hàng Buồm Hà Nội mua gạo và muối để làm lương thực mang theo đi đường. Chuyện bị bại lộ hai Hoa thương này bị bắt. Nhân đó Pháp lấy cớ kéo quân  đến đánh chiếm Vịnh Bắc Kỳ vào năm 1873.

Thời kỳ này chỉ có báo chí Hoa văn được người Hoa mua của các thương thuyền từ Hương Cảng mang về,đọc tin tức thời sự, tìm hiểu tình hình kinh tế hầu lợi dụng cơ hội để kinh doanh buôn bán. Lúc bấy giờ triều đình đều biết sự an nguy của đất nước càng ngày càng bị hăm dọa nhưng hầu hết dân chúng trong nước không hề hay biết đến. Nếu có cũng chỉ biết một cách mơ hồ,còn triều đình  thì ếm nhẹm.

Ðến năm 1859- 1862 Pháp đánh chiếm ba tỉnh Miền Ðông Nam Kỳ tức là ba tỉnh Biên Hòa,Gia Ðịnh,Mỹ Tho và luôn cả Côn Lôn. Sức kháng cự của binh lính triều đình có phần quyết liệt nhưng cũng chỉ là sự chiến đấu trong thế thủ.

Còn tại Miền Ðông thì triều đình giao cho đạo quân Ngũ Quảng tức Quảng Bình,Quảng Trị,Quảng Ðức(?) tức Thừa Thiên sau này – Quảng Nam và Quảng Ngãi có điều quân lính thì tuyển chọn trong số cư dân người Minh Hương đảm trách.

Khi quân Pháp tiến chiếm ba tỉnh Miền Tây Nam Kỳ chỉ trong vòng 5 ngày tức kể từ ngày 20 đến 24-6-1867 không mấy khó khăn. Tin quân  Pháp chiến thắng được báùo chí nước ngoài  nhanh chóng loan tin, trong lúc hung tin thất bại này của Việt Nam còn chưa  được báo cáo về triều đình Huế.

*

Bắt đầu từ năm 1895 học giả Paulus Huỳnh Tịnh Của cho ra đời quyển “Ðại Nam Quốc Aâm Tự Vị”, sau khi đã xuất bản hai quyển Tự Ðiển song ngữ của Trương Vĩnh Ký và Génibriel. Hai quyển tự điển có dụng ý tác động cho nhau và đều được Thống Ðốc Nam Kỳ lúc bấy giờ yểm trợ về mặt tài chính để in ấn.

Giá trị của hai quyển tự điển khác nhau. Bộ Ðại Nam Quốc Aâm TựÏ Vị chứa rất nhiều từ ngữ xưa, rât hữu ích đối với thế kỷ 19 nhưng đến thế kỷ XX  nó trở thành những từ ngữ cổ điển chỉ để nghiên cứu và dùng đối chiếu khi có nhu cầu cần thiết.

Theo ông Nguyễn Văn Y tự vị của tác giả Huỳnh Tịnh Của là một kho tư liệu quý giá cho sự nghiên cứu về lịch sử đất nước, chưa kể trong Ðại Nam Quốc Aâm Tự Vị còn được xem là một kho tàng thành ngữ, tục ngữ,ca dao và phong dao của hàng bao nhiêu thế kỷ lưu truyền lại.

Ðặc biệt trong Ðại Nam QuốcÂm Tự có ghi một số lớn danh từ tiếng Miên,tiếng Hán Nho, tiếng Pháp…lúc đầu có tính vay mượn song lâu dần trở thành tiếng Việt, có nghĩa một số lớn danh từ vay mượn đã bị Việt Hóa. Trong số bị Việt hóa nhiều nhất là Hán Nho, thứ đến là tiếng Miên và Pháp…

Năm 1865 Pháp chiếm Nam Kỳ. Cùng năm này kể riêng báo viết bằng tiếng Việt là tờ Gia Ðịnh Báo.  Dân chúng thì rất vui mừng đón nhận và cho rằng người dân Việt từ nay đã bắt đầu có tiếng nói để trình bày tư tưởng của mình, chống lại mọi bức hiếp và nỗi oan khúc của dân chúng trước sự bức hiếp của nhà cầm quyền thực dân Pháp.

Thật ra thì giới cai trị của Pháp không muốn có sự hiện diện của báo chí tại Việt Nam, mà chỉ muốn đó là một thông điệp dùng để thông báo các nghị định của chính phủ như tờ Gazeta ở Aâu Châu vào thế kỷ thứ XVI. Vì vậy mà tờ Gia Ðịnh Báo biến thành hình thức của một tờ công báo ra mỗi tháng một hay hai số tùy nhu cầu.  Dần dà về sau được cho nới lỏng ra một số ít tin tức vô thưởng vô phạt, một bài bình luận có lợi cho chính phủ thực dân,một số văn thơ,các bài lịch sử, không ngoài mục đích dành cho trường học dùng làm tài liệu cho các học đường…

Kể từ ngày có báo Việt ngữ đầu tiên xuất hiện, đành rằng  chưa xứng đáng ở vị trí của một tờ báo, song nó được dân chúng trong nước cho là một bước tiến đáng kể trên phương diện canh tân xứ sở. Kể từ đó việc dùng chữ “Quốc Ngữ” dần dà thay thế cho Hán tự hay chử Nôm – một dạng chữ gần giống như chữ Hán. .

Tờ Phan Yên báo tại Nam Kỳ do Diệp Văn Cương là du học sinh tại quốc gia Alger phụ trách . Tờ báo này xuất bản năm 1868 tức khoảng 3 năm sau khi tờ Gia Ðịnh Báo ra đời. Nhưng không bao lâu tờ Phan Yên Báo bị đóng cửa.

Tiếp theo sau đó,làng báo Việt Nam bắt đầu rộ nở tại Nam Kỳ như tờ Nam Kỳ Báo– 1883),  và Nam Kỳ Ðịa Phận – là tờ báo của Công giáo, tờ Miscellannées – 1888 là tờø báo đặc biệt đăng tải nhiều chuyện cổ kim của đông tây… được mọi giới độc giả đón nhận. Tiếp đến tờ Nông Cổ Mín Ðàm ra đời góp mặt trong làng báo chuyên đề về nền nông nghiệp, cũng như vấn đề thị trường thương mãi…

Ðặc biệt là tờ Lục Tỉnh Tân Văn, do Trần Chánh Chiêu đứng làm chủ bút. Tờ báo xu hướng canh tân, khuyến khích  đề cao vấn đề văn hóa và khoa học. Oâng cũng cổ động làm cho đất nước có bộ mặt xã hội mới, bỏ hủ tục, đả kích các nhà thủ cựu, hô hào chống mê tín,dị đoan…Oâng có công ủng hộ phong trào Ðông Du của cụ Phan Bội Châu…Cuối cùng ông Chiêu bị nhà cầm quyền Pháp bắt. Tuy bị bắt giữ, nhưng tờ Lục Tỉnh Tân Văn vẫn tiếp tục phát hành, do một người khác đứng tên thay vào vị trí của người tiền nhiệm.

Kể từ khi cuộc thế chiến thứ nhấât 1914-1918 chấm dứt trong vòng 10 năm nền kinh tế thế giới trở lại phồn thịnh. Nhưng chẳng bao lâu  tình hình kinh tế lại bắt đầu có những dấu hiệu không được ổn định, các cơ sở kinh doanh của người Pháp bị thua lỗ chẳng những ở Sài Gòn mà luôn cả ở Tourane – Ðà Nẵng – ngày nay và Thu Xà – một tiểu nhượng địa nằm trong tỉnh Quảng Ngãi . Các thương gia  Pháp tại Sài Gòn vì ganh tị sự tăng trưởng về kinh tế của giới Hoa Kiều nên xúi dục người bản xứ nổi lên chống đối.

Tiếp đến các năm 1925-1926 lo sợ dân chúng Sài Gòn làm loạn   người Pháp tìm cớ đàn áp, khiến cho tình hình kinh tế  lại càng bi thảm hơn. Phần sóng gió chính trị bùng phát, phần nền kinh tế trong nước không còn sum suê như trước, hầu hết người dân từ đô thị đến đồng quê lâm cảnh túng thiếu nghèo đói.

Người dân bị chụp đủ mọi thứ mũ. Hầu hết dân chúng trong nước đều ưu tư cho số phận mình,chẳng biết rồi sẽ ra sao?

Thời kỳ Việt Nam chưa có báo, việc giá cả về thực phẩm nơi nào biết nơi ấy, không có sự ấn định rõ ràng.lên xuống tùy thuộc theo nhu cầu hàng ngày của riêng từng địa phương. Cho mãi đến khi có sự xuất hiện của tờ “Nhật Trình” đầu tiên– sau này gọi là “Báo” – mới có sự  quảng bá chung về giá cả trên thị trường chợ búa,nhưng cũng chỉ quanh quẩn trong các đô thị . Dân chúng trong nước ở vùng nào biết tình hình vùng nấy, tỉnh,quận,huyện nào tự lượng định giá cả sinh hoạt của chính địa phương mình cư ngụ..

Trong năm 1935-1936 đồng “Franc” bị phá giá chỉ vì chính phủ L.Blum bị giới làm kinh tế gây sức ép. Tiền lương trả cho từ các công nhân bàn giấy đến giới lao động tay chân liên tiếp giảm sút khiến người dân lâm vào tình trạng nghèo đói.

Phong trào chống đối nỗ bùng lên khắp mọi nơi.Các cuộc bãi công hay lãng công diễn ra hầu hết tại các công ty khiến nhà đương cuộc Pháp bối rối không ít.

Từ ngày làng báo xuât hiện dân chúng trong nước mới biết giá cả các nhu yếu phẩm của từng miền.  Tuy nhiên mãi đến năm 1936 mới có sự cân bằng về giá cả tùy thuộc vào địa lý,nhân văn và sự bành trướng về kinh tế của từng địa phương.

TẠI SÀI GÒN

Các giá cả của năm 1936 cho thấy:

Giá gạo từ 0.6 xu một lít tăng 50% tức 0.9 xu.

Thịt heo 1 ký 30 xu tăng lên 40 xu.

Trứng gà 1 trứng 0$01 xu tăng lên 3 xu hai quả.

Một tô phở Bắc 0.2 xu.

Gà mái tơ 25 xu.

Gà trống thiến 45 hay 50 xu.

Gạo từ một tạ 100 kg kể từ ngày 23 tháng 12 giá  6$57 tăng lên 8$09 xu. Chỉ 3 ngày sau tăng 8.$17 xu.

Ðậu Tây 100 gr từ 6 xu tăng lên 15 xu.

THỊ  TRƯỜNG

TOURANE

Thị trường ở Tourane (tức Ðà Nẵng ngày nay) cũng bị ảnh hưởng bởi nhu cầu về kinh tế.  Cũng như ở Sài Gòn giá sinh hoạt tăng vọt  tại đất nhượng địa này.

Nhật báo Sài Gòn đã ghi lại sự bất công về sự chênh lệch của hai giới giàu nghèo như sau:

“Tiền lương thì quá thấp. Bốn năm về trước đất nước này đâu  gặp phải cảnh đói kém như ngày nay! Các nhà phú hào điền chủ thì tiêu tiền như nước, sắm sửa xe hơi, đua nhau xây cất nhà lầu,biệt thự, thành phố đầy dẫy các cao lâu tửu quán…dành cho giới thượng lưu. Trong lúc đó thì dân chúng thắt lưng buộc bụng. Aên không đủ no. Mặc không đủ ấm. Ðồng lương mỗi lúc mỗi co cụm…Nạn thất nghiệp đầy ngay. Hành khất tràn lan trên mọi nẻo đường. Các báo Việt ngữ thi nhau làm phóng sự, phản ảnh đời sống cơ cực của người dân, không ngoài gióng lên tiếng trống để cảnh tỉnh nhà cầm quyền thuộc địa đưa ra đường lối giải quyết hầu mong giảm bớt sự  đau khổ cho dân chúng.

Chẳng những báo Việt lên tiếng mà cả báo Pháp như L’Avant Garde – tờ báo ủng hộ sự nổi lên chống Ðế Quốc Nhật xâm lăng Trung Quốc khiến nạn đói bùng lên như chuỗi mắt xích kéo từ Bắc vào Trung và Nam Kỳ. Tờ Le Peuple cũng đồng thanh lên tiếng, kêu gọi chính phủ thuộc địa cứu vãn tình hình đang hồi nguy kịch của dân chúng Việt Nam.  Ngoài ra còn có các tờ báo Việt ngữ khác như báo Mai, báo Việt Nam và luôn cả tờ Ðuốc Nhà Nam, đây là những tờ báo tư nhân cùng lên tiếng hưởng ứng…gây tiếng vang trên khắp nước làm áp lực chính phủ thuộc địa và cả chính phủ Nam triều tại Trung Kỳ…

Lúc bấy giờ giá thị trường các loại thực phẩm:

1 trứng gà 1.5 xu.

1 ký thịt heo 40 xu

1 lon gạo (đo lường bằng lon sữa bò)ø giá 1 xu.

20 lon là một ang tức là 1 đấu: 18 xu.

5 ang (đấu) gạo qui ra là một gánh thóc

2 bó rau muống 1 xu.

1 trái bí đao 1 xu.

1 trái bí rợ 1 xu.

1 con gà mái tơ 20 xu.

1 con gà trống thiến 40 xu.

1 con vịt tơ 25 xu.

1 con ngỗng tơ 50 xu,

1` tô phở Bắc 2 xu

1 con lợn 5 ký 1 đồng. 10 kí  8 đồng.

Các tỉnh lân cận ở phía Bắc Tourane như:

Huế, Quảng Trị trở ra Thanh Hóa…thẳng ra Bắc Kỳ cũng như các tỉnh miền Nam Tourane từ Quảng Ngãi trở vào Phan Thiết giá cả lên xuống không đáng kể.  Nhưng vật giá càng ngày càng đắt đỏ, tiền bạc dân chúng làm ra không đủ để nuôi sống qua ngày.

Một cuộc nổi dậy đấu tranh đòi hỏi quyền làm báo cho quốc gia Việt Nam được chính phủ Pháp chấp nhận cho hưởng quy chế như chế độ Cộng Hòa Pháp. Cuộc đòi hỏi này gây tiếng vang lớn, lập tức báo chí Việt Nam được phép áp dụng theo  đạo luật 1881 của Pháp ban hành. Có nghĩa theo đạo luật Pháp báo chí kể cả báo Việt ngữ xuất bản không cần phải xin phép chính phủ thuộc địa mà chỉ cần đăng ký tại văn phòng Biện lý và 48 giờ sau có quyền hiện diện trên thị trường báo chí.

Nhờ vậy mà ở Sài Gòn nhiều tư nhân yêu nghề báo hay các thương gia muốn trục lợi và ngay cả người Pháp đứng tên sở hữu cho người bản xứ thuê “Mân Sết”… Có thể chỉ trong vòng 20 năm giữa hai cuộc chiến Ðệ Nhất và Ðệ Nhị thế chiến kể luôn cả từ năm 1865 đến năm 1965 gom lại có thể lên đến hàng mấy ngàn tờ báo đủ loại từ hàng ngày,hàng tuần, đến hàng tháng,tạp chí v.v…

Ðiều kiện Sài Gòn ra báo nhiều nhờ các chủ báo xuất thân từ giới giàu có, điền chủ, tư bản…sẵn sàng tiền bạc, chỉ cần đến Biện lý đăng ký là trong vòng vài ngày sau báo đã hiện diện trên các sạp bán báo, chưa kể gửi từng kiện báo đi các tỉnh trong khắp nước…

Báo chí xuất bản tùy xu hướng hoặc văn học, hoặc kinh tế,xã hội, hay chính trị theo khuynh hướng của mình…Có  không ít các tờ báo chủ trương bàn về kinh tế hay  xã hội trong đời sống hàng ngày. Cũng có tờ chủ trương lạm bàn  về chính trị. Ðối với một vài báo theo xu hướng này kén người đọc, có thể vì sợ bị tai bay họa gửi, hoặc không thích bởi khác chính kiến, hoặc cũng có kẻ tò mò muốn đọc để biết điều gì đang hoặc sẽ xảy ra cho đất nước song lúc bấy giờ nhiều người còn dè dặt ï cho rằng lắm rủi ro dễ chuốc họa vào thân v.v… ngoại trừ môt số không ít trong giới phu xe, khuân vác v.v.. thường tìm báo có khuynh hướng bảo vệ người lao động mua đọc vào giờ ngơi nghỉ, bỏ ba xu mua tờ báo bảo vệ quyền lợi mình!

Các giới lao động khác như lao động bàn giấy,hàng ngày khi giờ tan sở ra về đều tạt ngang qua các sạp báo mua về cùng đọc với vợ con.

Ða phần các độc giả thích đọc tin thời sự, các nhà trí thức thường mua báo bàn về văn chương như Văn Học Tuần San, Sài Gòn Tiểu Thuyết, Nghệ Thuật v.v…Ngoài ra còn có giới  độc giả yêu thích kịch nghệ tìm đọc Nghệ Thuật Thứ Bảy, báo Ðua Ngựa để các tay đổ bác mua về nghiên cứu, báo Thần Bí  Tạp Chí (Mystériosa), báo Aûo Thuật cho những độc giả thích chuyện “magic” huyền bí…Ðó là chưa kể các báo phục vụ giới Công-Nông-Thương, hay báo dành cho giới phụ nữ đọc như Ðàn Bà Mới,Nữ Lưu,Nữ Công Tạp Chí, Phụ Nữ Tân Văn, Nữ Giới Chung…Thanh niên, báo Mới,Lao Ðộng …Kể cả báo Y Học Tân Thanh, dành cho những người chuyên ngành Y, Luật thì có những tờ Pháp Luật Cố Vấn…

Tôn giáo như Phật giáo có Từ Bi Aâm, Niết Bàn Tạp Chí,Pháp Aâm Phật Học, Phật Hóa Tân Thanh Niên, Thiên Chúa giáo thì có báo Công Giáo Tiến Hành, Cao Ðài có Ðông Dương Báo,Cao Ðài Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ – báo này của Tiên Thiên do Thiên Bồng Nguyên Soái Lê Kim Ty chủ trương… Các báo được đọc nhiều nhất lúc bấy giờ như báo Sài Thành, báo Sài Gòn,CoÂng Luận,Ðiện Tín…

Báo chí rầm rộ ra đời tạo bầu không khí phấn khởi cho dân chúng Việt Nam cùng niềm tự hào ngoài việc đấu tranh cho đời sống cơm áo, người Việt còn nói lên sự quyết tâm đầu tư cho kiến thức của mình trên mọi lĩnh vực, ngày một tiến bộ hơn. Phong trào này chẳng những nam giới dốc lòng thực hiện mà còn luôn cả nữ giới cũng được khuyến khích thi hành triệt để. Tờ Phụ Nữ  Tân Văn ra đời đã nói lên điều này. Các trí thức trong nước đều đồng nhất ý kiến yểm trợ triệt để cho giới quần thoa nhiệt liệt đem tâm sức thực hành  mọi mặt cho gia đình đặc biệt chú trọng về văn hóa và xã hội.

Báo ngày,báo tuần, tạp chí được phát hành rất nhiều, tuy nhiên giới trí thức,khoa bản đều tìm đọc Nam Phong Tạp Chí. Tờ Nam Phong do Phạm Quỳnh Chủ nhiệm kiêm chủ bút phát hành ở Bắc Kỳ. Sau đó không bao lâu  Toàn quyền Nam Kỳ là Albert Sarraut cũng cho ra đời  tờ Tribune Indigène.

Tạp chí Nam Phong xuất bản số ra mắt vào tháng 7 năm 1917 chủ trương thuần túy văn học và khoa học. Học giả Phạm Quỳnh là một trong các cây bút xuất sắc của tờ Ðông Dương Tạp Chí – do Scheneider sáng lập lúc bấy giờ và Nguyễn Văn Vĩnh đứng làm chủ bút. Và sau đó

trong suốt 15 năm kể từ năm 1917 Phạm Quỳnh đứng làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong Tạp Chí dưới sự bảo trợ của ông Louis Marty –  trưởng phòng chính trị của phủ Toàn Quyền Pháp ở Hà Nội. Cho mãi đến năm 1934 thì báo đình bản. Tính ra suốt 17 năm hoạt động Nam Phong Tạp Chí xuất bản tổng cọng 210 số.

Tờ Phụ Nữ Tân Văn trong liên tiếp 14 số báo đầu tiên đăng tải các bài phỏng vấn từ các chính khách,danh nhân trong nước như cụ Phan Bội Châu, cụ Huỳnh Thúc Kháng,,,đưa ra các lời lẽ đóng góp kinh nghiệm, khuyên nhủ sự chịu đựng góp phần xây dựng cho quốc gia dân tộc.

Và họ – những người chủ trương tờ Phụ Nữ Tân Văn thực sự cầm bút xông xáo đòi hỏi cải cách  xã hội… Oâng Tú Khôi đã khuyên các chị em quần thoa hãy thoát ly ra khỏi cái vòng lẫn quẩn Lý,Ðỗ – bên Tàu – và luôn cả Nguyễn Du nữa.

Lúc bấy giờ có cô Nguyễn Thị Kiêm tức Manh Manh chủ trương bỏ đi lối làm thơ cũ mà đổi sang thể thơ mới.  Trong một buồi diễn thuyết ở hội Khuyến Học Sài Gòn cô đã ứng khẩu đề ra vấn đề cải tiến của làng thơ gần cả hai tiếng đồng hồ. Chính chủ trương của cô về vấn đề thơ mới đã tạo ra làn sóng bút chiến trong giới thi văn trong làng báo…

Theo bài viết được đăng tải trong tập lịch sử báo chí Việt Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hòa thì các cuộc tranh luận  giữa phái cổ động cho “thơ mới” và phái của những nhà thơ thủ cựu đến độ trở thành một cuộc bút chiến không khoan nhượng giữa hai phái thủø cựu và canh tân trong làng thơ lúc bấy giờ. Chuyện đến tai cụ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu – được tôn vinh như là thi bá – nghe được, cụ không tranh luận mà chỉ mỉm cười viết ra một giai thoại  mục đích để trêu đùa bằng lời lẽ chế giễu đứng ra ngoài cuộc chiến đăng tải trên số báo xuân năm 1934.  Nguyên văn giai thoại này như sau:

“Từ khi Lý Bạch chết,thiên hạ không chuộng thơ mà thơ kém hay. Bởi thế mới có Phan tiên sinh ra đời.

Từ khi Bá Nha chết,thiên hạ không chuộng đờn,mà đờn kém hay. Bởi thế mà có Quách tiên sinh ra đời.

Phan tiên sinh cải lương vềnghềthơ, ở đời chưa gặp  ai là tri kỷ.

Quách tiên sinh cải lương về nghề đàn,ở đời chưa gặp ai là tri âm.

Một hôm kỳ ngộ duyên may,hai tiên sinh gặp gỡ.

Trong một nhà ở phố Khâm Thiên,Phan đang nằm hút trên gác,bỗng nghe có tiếng đàn khảy,nhận lâu thấy rất khác thường: tiếng đàn thực hay mà như không có cung bậc. Do bụng hoài nghi, Phan tiên sinh bước xuống bực thang ngó thử coi,thấy người khảy đàn đó chừng cũng là một du tử,mà coi ra có vẻ cao nhân;nhân thể bước xuống thang,làm quen nói chuyện chơi. Người đó là ai? Tức là Quách tiên sinh vậy.

Rồi đó, Quách tiên sinh nói chuyện đàn,Phan tiên sinh nói chuyện thơ.

Rồi Quách tiên sinh đờn một chặp, Phan tiên sinh thơ một hồi.

Rồi Quách lại đàn,Phan lại thơ.

Rồi Phan, Quách lại chuyện thơ,chuyện đàn.

Cái thú gặp tri kỷ, khó bút mực nào vẽ cho hết.

Chị lái đò nguyên là một tay tài tình,văn thơ âm nhạc đều có hiểu qua,nhân bàng quan một cuộc cầm thi,cũng cảm tác một bài “thơ mới”.

Ðàn là đàn

Thơ là thơ

Thơ thời có chữ,đàn có tơ

Nếu không phá cách vứt điệu luật

Khó cho thiên hạ đến bao giờ!

Bá Nha xa

Lý Bạch khuất

Thơ có họ Phan,đàn có Quách

Thơ có chữ

Ðàn có tơ

Ðàn thời ngơ ngẩn,thơ vẩn vơ

Tài tử văn nhân thường rứa rứa

Bút huê ngao ngán bận đề thơ”

Tản Ðà

Phong trào đòi cải cách cho được “thơ mới” càng lúc càng lan rộng thêm lên. Không phải chỉ riêng giới làm thơ văn, mà luôn cả giới trí thức, giới nhà giáo, giới chỉ biết đọc thơ mà chưa hề dệt lên được vần thơ nào cũng nhao nhao ầm ĩ. Nhóm đòi cải cách cho rằng giới bảo thủ thuộc vào loại cổ lổ xỉ, là tảng đá cản trở sự tiến hóa của nền văn hóa đất Việt. Nhóm bảo thủ thì cho rằng làm thơ phải có qui luật, không phải làm thơ kiểu con cóc trong hang nhảy ra…

Thầy giáo Nguyễn Văn Hạnh ở Sài Gòn là người công kích sự cải đổi thơ mới được xem là mạnh mẽ nhất. Thầy viết nhiều thư gửi đến các nhà báo dùng những danh từ :”lạ quá”, “chướng tai,gai mắt quá”. Rất nhiều bài thơ bênh vực thơ mới được đăng tải, trong đó có bài của nhà thơ Hồ Văn Hảo đăng trên Phụ Nữ Tân Văn số 208 ngày 20-7-1933 được nhiều người ủng hộ cũng như chê bai gây nên trận chiến gay go nhất.”

( Trước khi đăng bài thơ của nhà thơ Hồ Văn Hảo xin trích một giai thoại của hàng hậu bối thuộc thế hệ thứ hai chế giễu về sự bảo thủ)

Về sau, vào khoảng Tết năm 1941 trên căn gác có các nhà báo lão thành gồm Diệp Văn Kỳ – cây bút cừ khôi của Sài Gòn Mới của bà Bút Trà và Viên Hoành – nhà báo kỳ cựu Biên Tập Viên tờ Dân Báo của cụ Trần Văn Hanh – Tổng Giám Ðốc nhà xuất bảøn Tín Ðức Thư Xã tại đường Sabourain Sài Gòn – đang mừng xuân mới bằng cuộc đi mây về gió. Hôm ấy nhân cùng đi xông đất có cả nhà báo Jean Baptist Ðồng cùng nhà thơ Mộng Ðài, Ðiển Võ và Hoa Ðường đến chúc đầu năm. Nhân nói về phong trào thơ mới,thơ cũ năm xưa, cụ Diệp Văn Kỳ bèn “tếu ngày xuân” bằng câu chuyện bài thơ Con Cóc:

“Con cóc trong hang

Con cóc nhảy ra.

Con cóc nhảy ra

Con cóc đứng đó…

Con cóc đứng đó…

Ðến đây cụ Diệp Văn Kỳ dừng lại lên tiếng hỏi chung chung:

– Rồi sao nữa, các chú biết không?

Cụ Viên Hoành vừa kéo xong một nồi, bèn gác cái ống vố kê lên bóng đèn hình Kim Tự Tháp đoạn ngáp dài một tiếng dí dỏm đáp :

– Con cóc đứng đó

Rồi con cóc nhảy đi…”

– Thế rồi sao nữa chú Ðồng? – Cụ Viên Hoành vừa cười vừa lên tiếng hỏi:

Jean Baptist Ðồng cười dài:

–         Thưa đại ca “Rồi con cóc nhảy lại vào hang, trở thành

“ Con cóc trong hang

Con cóc nhảy ra… “

Thế là cả các lão bối Kỳ,Hoành, Ðồng,Ðường luôn cả nhà thơ Mộng Ðài cùng cất cao giọng ngâm vang lên chuyện con cóc cứ lẩn quẩn trong hang… con cóc nhảy ra, con cóc nhảy ra, con cóc đứng đó…con cóc đứng đó, con cóc nhảy đi,  rồi con cóc lại trở vào hang. Cứ thế khiến “con cóc” vẫn trong cái vòng lẫn quẩn… nhảy mãi mà không thể ra thoát khỏi cái hang…cóc của mình.”

Giờ xin trở lại chuyện cũ –  thời gian Hồ Văn Hảo đã có công đem lại sự thành công trong phong trào cải đổi thơ mới…

“ Vào dịp thời gian từ năm 1932 – 33 Sài Gòn sống trong cảnh kinh tế khủng hoảng,nạn thất nghiệp tràn lan khắp ngỏ ngách nhiều người nằm lê lết nơi đầu đường xó chợ. Hồ văn Hảo thấy các báo lo bút chiến lẫn nhau chỉ vì chuyện thơ mới thơ cũ, mà quên hẳn cảnh đói rách của dân chúng bèn vẽ lại cảnh đau khổ trong bức tranh thơ mới, do chính ông sáng tác. Bức tranh  diễn tả cảnh một đứa bé nằm trên giường bệnh không một viên thuốc, mà cũng chẳng có lấy một chút hồ cháo cầm hơi, chỉ vì người cha thất nghiệp đăng trên tờ Phụ Nữ Tân Văn:

“Ngọn đèn leo  lét

Xác xơ một mái nhà tranh

Trên chiếu tan tành,

Một trẻ thơ nằm im xanh mét

………………………………………………………….

Ngoài trời mưa xào xạc

Gió tạt

Vào vách thưa

Mấy hạt mưa

Mảnh mùng tơi tác

………………………………………

Lạnh lùng đứa bé

Cựa mình cất tiếng ho ran

Người mẹ vội vàng

Vuốt ve rằng: nín đi con nhé

……………………………………………………….

Cha con gần về tới.

Cha nó đi đâu mà gần về tới? Cha nó túng quá,liều đi ăn trộm,nhưng không rành nghề,mới chun vào nhà,chủ nhà đã hô ăn trộm!  Nếu không mau chân thì đã bị bắt rồi!

“Thôi bây giờ tiền đâu mua thuốc

Cho con. Chết nỗi đi trời

Túng quá mới ra nghề nhơ nhuốc

Chắc mai đây nhịn đói lắm,mình ơi!

Hồi làm cu li

Ðến mua,tiệm còn bán chịu

Nay sở đã đuổi ra,thì

Một đồng điếu

Họ cũng bảo đi!

Lắc đầu,buồn bã:

“Ngoài vẫn mưa xào xạc

Trong đứa nhỏ họ ran

Ngọn đèn tàn

Hết dầu nên lưu lạc”.

Bài thơ mới mãi đến ngày nay vẫn còn cho là xuất sắc, người đọc không tránh khỏi mủi lòng xúc động. Hình ảnh cảnh gia đình thất nghiệp. Ðứa con thơ nằm trên giường ho sù sụ. Cơm không,áo chẳng.

Ðọc bài thơ mới của Hồ Văn Hảo những người bảo thủ bảo là

“thất nghiệp đâu phải là thơ”? “Nghèo đói đâu phải là hình ảnh thơ mộng”? Với họthơ phải là thơ mộng, phải có niêm có luật. Thơ phải ra thơ mà văn thì phải ra văn…đâu có phải thơ thẩn như thế này! ”

Cuối cùng bức tranh thơ mới vẽ lên được hình ảnh của một gia đình đói khổ chỉ vì lâm cảnh thất nghiệp được làng thơ chấp nhận. Nhờ vậy, làng báo Việt Nam lúc bấy giờ như cả một rừng hoa rộ nở.

Năm 1930 : Cùng trong thời gian này tại Hà Nội cũng dấy lên phong trào bút chiến khác hẳn với làng báo ở Sài Gòn. Lúc bấy giờ một số trong giới trẻ gồm 15 người ở Hà Nội tổ chức một câu lạc bộ đặt tên bằng Pháp ngữ “Club des XV – tức Câu Lạc Bộ 15.  Trong số hội viên này có 7 sinh viên Pháp  và 8 du học sinh Việt toàn là con ông cháu cha thuộc giai cấp giàu có khét tiếng, thích chơi các trò chơi để được nổi tiếng chứ không phải là một tổ chức chính trị. Nhà cầm quyền thuộc địa tuy không thích song không muốn động chạm đến bề trên của nhóm trẻ này trong đó gồm  cả 7 ôngTây con và 8 công tử người Việt trong giới quan quyền giàu có khét tiếng ở Hà Nội lúc bấy giờ. Nhóm Câu Lạc Bộ 15 thường tụ họp tại  Tửu Quán Ðế Vương tức Taverne Royale kế cận với Crédit Foncier ngay trước mặt chợ hàng hoa ngang Hồ Hoàn Kiếm. Là một tổ chức toàn con cháu của các nhà trọc phú lại đầy quyền uy, nên được khách sạn Métropole và Câu Lạc Bộ Asia đặc biệt dành tiêng cho một căn phòng sang trọng và được xem như là thượng khách.

Linh hồn của nhóm Câu Lạc Bộ 15 là Chu Mậu. Người sinh viên này được sự hỗ trợ cùa nhóm bạn bè có thế lực bên Pháp khuyến khích đứng ra xuất bản tờ báo bằng tiếng Việt ngay tại Hà Nội. Tờ DÂN MỚI phát hành trong vòng một tuần lễ sau đo,ù cùng một lúc lấy tên DÂN MỚI đặt cho Câu Lạc Bộ đồng thời đặt tên DÂN MỚI Auberge tức Quán Aên DÂN MỚI, với mục đích để chiêu mộ quần hùng.

Tờ DÂN MỚI đầu tiên đã mở chiến dịch đả kích ngay tờ báo có tên P.T do nhóm quan lại chủ trương được xem là tờ báo có thế lực lúc bấy giờ.

Theo bản sưu tập báo chí ghi lại thì tờ PT của nhóm quan lại đã đáp lại bằng ngôn ngữ “kẻ chợ”ï gần đúng như danh từ các báo Sài Gòn sau này thường gọi là “Chợ Cầu Muối” – ở Hà Nội lúc bấy giờ gọi “ăn nói hồ đồ thuộc loại Chợ Ðồng Xuân”.

Cuộc bút chiến này kéo dài không bao lâu sau khi Chu Mậu được nhà văn Lãng Nhân Phùng Tất Ðắc là Biên Tập của tờ Dân Mới gửi một bức thư thách thức chủ nhiệm báo PT một cuộc “đấu kiếm” theo luật giang hồ như ở Phương Tây hầu giải quyết dứt khoát nội vụ đúng với tinh thần mã thượng. Chủ nhiệm báo PT không trả lời thư thách so kiếm của nhóm Dân Mới lặng lẽ rút lui vào bóng tối,cuối cùng tờ P.T đóng cửa, có thể là để tránh hậu họa có thể xảy ra cho họ từ nhóm Câu Lạc Bộ 15 này.

Lại thêm một tờ báo thứ hai nữa, cũng cùng năm 1930 tờ ARGUST ra đời mà Clémenti là chủ nhiệm. Nhưng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn bị toàn quyền Albert Sarraut phê phán về lập trường trong một bài xã luận có hại đến nhà cầm quyền của giới cai trị tại Ðông Dương.. Chủ báo Argust là Clémenti bị chạm tự ái liền gửi thư thách thức đấu kiếm nhưng toàn quyền Albert Sarraut từ chối với lý do “Toàn quyền Ðông Dương đại diện cho nước Pháp không được quyền đấu kiếm với bất cứ người nào!”

Trở lại số phận tờ  Dân Mới một thời gian sau đó cũng bị nhà cầm quyền tìm mọi cách đóng cửa để “rửa mặt” cho nhóm quan lại Bắc Hà.

Sau khi tờ Dân Mới bị đóng cửa, Chu Mậu liền họp bàn với nhóm Club des XV xuất bản một tờ báo bằng Pháp ngữ mục đích để các người bạn Pháp trong nhóm có thể viết bài biểu lộ tư tưởng của mình. Số vốn để phát hành tờ báo do các hội viên của Club đóng góp.

Thế là tờ báo của nhóm được ra đời mang tên LE CRI DE HANOI – có nghĩa tiếng kêu của người dân Hà Nội. Lần này Chu Mậu đứng tên Sáng lập viên còn Chủ nhiệm do Lãng Nhân Phùng Tất Ðắc kiêm luôn chức Chủ bút. (Có thể ông Mạc Kinh – chủ nhiệm tờ Dân Chúng sau này ở Sai Gon biết rõ qua cụ Lãng Nhân cùng tị nạn ở Luân Ðôn.)  Cri De Hanoi chủ trương trào phúng – đây cũng là tờ báo trào phúng đầu tiên trong làng báo tại Việt Nam. Khi tờ báo ra đời, độc giả Hà thành đã nhận thấy ngay đường lối  của Le Cri De Hanoi từ hình thưc đến nội dung y như bản sao chép của tờ CANARD ENCHAINÉ ở Pháp. Tờ Le Cri De Hanoi ngoài việc dám loan tải những tin tức mà nhiều báo lúc bấy giờ không dám đả động tới, cũng như đăng những bài phiếm luận Les Potins De La Commère – có nghĩa Những lời đồn đãi của con mẹ lắm mồm, nhờ vậy mà báo bán chạy đến nổi không đủ phân phối. Tuy nhiên, cuối cùng tờ Le Cri De Hanoi cũng bị đóng cửa.

Chuyện nực cười là cả sáng lập viên Chu Mậu lẫn cây bút trào phúng số 1 của con mẹ lắm mồm Nguyễn Bỉnh Nam đều quẵng bút không phải để theo việc kiếm cung mà …để cùng nhau cầm kéo và cầm thước dây đo may áo quần sang trọng cho thiên hạ giàu có tại thành phố có 36 phố phường… ở Bắc Hà.

Tưởng cũng nên biết cả Chu Mậu lẫn Nguyễn Bỉnh Nam đều là những nhà khoa bảng.  Họ đã từng sang Hong Kong du học , thi đậu bằng Tú Tài Anh, sang Paris tiếp tục vào đại học

Sorbonne, sau khi tốt nghiệp trở về Hà Nội tham gia nhóm Câu Lạc Bộ 15 tức Club Des XV. Nhà may này lấy tên Gris – Mauve.

Sau đó tại Hà Nội có nhiều báo ra đời đủ các loại gồm:

Nhật báo Ðông Pháp của Ngô Văn Phú

Trung Bắc Tân Văn

Tri Tân Tạp chí

Tiểu Thuyết Thứ Bảy

Tiểu Thuyết Thứ Năm

Phong Hóa Tuần Báo

Tuần Báo Ngày Nay (của  nhóm Tự Lực Văn Ðoàn)

Nhật Báo Tin Mới của Trần Văn Quý v.v…

Tại Sài Gòn:

Tờ Long Giang Nhật Báo ra đời đầu thập niên 30 của thế kỷ 20, đến năm 1934 thì đình bản.

Tiếp theo tờ Long Giang là Sài Thành Nhật Báo 1930-1931.

Cùng năm, tờ Nam Nữ Giới Chung phát hành đến năm 1932 tự ý đóng cửa.

Năm 1931: Năm này chỉ có mỗi tờ:

Ðông Dương báo, Nam Kỳ Thể Thao (chỉ 1 năm)

Tân Á Tạp Chí  (1931-35)

Năm 1932:

Tờ Từ Bi Aâm

Họa Báo (1932-33)

Sài Thành Nhật Báo

Năm 1933:

Tờ Sài Thành đổi lại tên Sài Gòn

Sài Thành Họa Báo 1933-35

Vận Ðộng Báo (1933-34)

Quảng Cáo Phan Bá Ðài (1933-34)

Niết Bàn Tạp Chí (1933-39)

Phòng Canh Nông Nam Kỳ Tạp Chí (1933-34)

Việt Dân (1933-37)

Dân Báo 1933

Ðế Thiên,Ðế Thích…(1933)

Hoàn Cầu Tân Văn (1933-1938)

Cùng Bạn (1933-35)

Năm 1934:

Văn Học Tuần San (1931-37)

Khoa Học Phổ Thông (1934-42)

Chấn Thanh (Revue Scolaire de Perfecttionnement) v.v..

Sau đó còn có rất nhiều nhật báo,tuần san.tạp chí thi nhau xuất hiện, đến năm 1935 thì tờ Ðiển Tín, tờ Sống, Sài Gòn Ngọ Báo, Tiếng Chuông,Dân Báo (1939), Ðuốc Nhà Nam v.v.

Trong thập niên 1930, tại Nam Kỳ về sinh hoạt trong làng báo càng ngày càng nhộn nhịp thêm.

QUẢNG CÁO : MẠCH SỐNG

CỦA BÁO CHÍ

Thoạt đầu các cơ sở thương mãi,kinh doanh, công kỹ nghệ

v.v…chưa quen vấn đề quảng cáo, nhưng chỉ trong thời gian không bao lâu thì nguồn sống quảng cáo bột phát. Mẫu quảng cáo đầu tiên trong làng báo Việt Nam là Hãng Kem Hynos (1) với hình ảnh người da màu Phi Châu có hàm răng trắng nuột. Tiếp đến hãng sữa Bông Trắng (Calbest),(2)Nhà in Sài Gòn Chase Manhattan (3) kể cả đăng tin hỹø sự (4)

chúc mừng ngày vui của bằng hữu. Người đầu tiên có sáng kiến đăng “Tin Vui” là ông Nguyễn Vỹ nhà báo nổi tiếng lúc bấy giỡ đăng mẫu chúc mừng nhà thơ Ðông Hồ và nữ sĩ Mộng Tuyết nhân ngày làm lễ Vu Qui cho trưởng nữ Yêm Yêm. Chính lối “Chúc Mừng” này mở đầu cho mẫu  quảng cáo độc đáo…trong làng báo Việt.

Từ đó các báo chí bắt đầu xuất hiện các tin vui lẫn tin buồn  được coi như là món hàng “thời trang”… chỉ trong vòng ba tháng, báo chí trở nên một thị trường ồn ào nhất… Từ nhà hàng ăn “Cabaret Arc-En-Ciel,(5) vừa là Bar Restaurant mà cũng là Bar Dancing… nơi nhộn nhịp nhất của đô thị Sài Gòn.

Các nhà in ấn nhịp nhàng tiến triển theo nhu cầu của sách báo trên thị trường,  Tính ra Sài Gòn lúc bấy giờ lần lượt xuất hiện đến 121 ấn quán và 133 nhà xuất bản.

Tại Trung Kỳ lúc bấy giờ có tờ Nhật Báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng đặt tòa soạn tại Tourane (tức Ðà Nẵng ngày nay) Chính cụ đứng tên Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút và ông Lạc Nhân Nguyễn Quý Hương anh rễ của nhà thơ Bích Khê làm Tổng Thư Ký Tòa Soạn.

Nhật báo Trường An ở Huế. Không nhớ rõ Chủ Nhiệm-Chủ Bút.

*

Các báo chí của Miền Nam Việt Nam trước ngày mất nước gồm có hàng trăm nhật báo,tuần báo,tap chí:

Riêng năm 1963 Sài Gòn có 44 tờ:

Ngôn Luận của Hồ Anh

Daily News Anh Ngữ của Nguyễn Lâu

Dân Chúng của Mặc Kinh Trần Thế Xương

Tiếng Dân (sau này) của Mặc Thu

Ðồng Nai của Huỳnh Thành Vị

Sai Gòn Mai của Ngô Quân

Tin Ðiện của Thanh Tùng

Tin Sớm của Nguyễn Ang Ca

Sài Gòn Mới của bà Bút Trà Nguyễn Ðức Nhuận

Tiếng Chuông của Ðinh Văn Khai

Chuông Mai của Huỳnh Hoài Lạc

Tư Do của Phạm Việt Tuyền

Dân Nguyện của Hà Thành Thọ

Việt Nam Press của Tôn Thất Thiện

Tuần Báo Vịt Vịt của Nguyễn Kim Sinh

Phổ Thông của Nguyễn Vỹ

Bến Nghé của Ðinh Văn Ngọc

Lập Trường

Sống của Chu Tử (ngoài Ban Biên Tập còn có Nguyễn Liệu – nhà hoạt động cách mạng tại Quảng Ngãi Miền Trung) dưới danh nghĩa cộng tác viên).

Sao Trắng của Quốc An

Tri Tân của Nguyễn Tường Phượng

Thế Giới của Nguyễn Văn Hợi

Nhật báo Tiền Tuyến người tiền nhiệm là Thiếu Tá Lê Ðình Thạch.

Nhật báo Tiền Tuyến nhiệm kỳ  tiếp  theo – Chủ nhiệmChủ bút Hà Thượng Nhân

Công Chúng của Vũ Bằng,. Chủ bút Tô Văn

Báo Trắng Ðen của Việt Ðịnh Phương

Thần Chung của Nam Ðình Nguyễn Thế Phương

Sài Gòn Mới của bà Bút Trà Tô Thị Thân

Buổi Sáng của Mai Lan Quế

Tiếng Dội của Trần Tấn Quốc

Tia Sáng của Ngô Văn Phú

Lẽ Sống của Ngô Công Minh

Aùnh Sáng của Lư Khê

Dân Ý (Lạc Nhân Nguyễn Quý Hương – Tổng Thư Ký)

Ðộc Lập của Hoàng Châu

Thời Cuộc của Huỳnh Hoài Lạc

Tin Ðiển của Lê Trung Cang

Dân Luận của Thinh Quang (Tổng thư ký Hoàng Thạch)

Tuần Báo Trường Sơn (Ðà Nẵng) của Thinh Quang v.v…

Tổ chức :”Làng Báo Thủ Ðức” xuất hiện đem lại những mái ấm cho các gia đình ký giả, chủ tịch sáng lập Thanh Thương Hoàng.

Năm 1975 năm đau buồn của đất nước mà cũng là năm làng báo Việt Nam như bầy chim rã đàn bay đi tứ tản khắp năm châu bốn bể , lần lượt như những vì sao rơi rụng giữa vòm trời đen tối

Họ như con hạc vàng của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc Lâu:

“Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản…”

Con hạc vàng đã vỗ cánh bay xa, không hẹn ngày trở lại !

THINH QUANG

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: