Đọc “TRONG LÂU ĐÀI KỶ NIỆM” của Dư Thị Diễm Buồn

Đọc “TRONG LÂU ĐÀI KỶ NIỆM” của

 

Dư Thị Diễm Buồn

 

Gần mười năm nay, độc giả hải ngoại chỉ biết đến Dư Thị Diễm Buồn qua thơ. Một nhà thơ tả chân rất bình dị, chi li đến độ không bỏ sót một chi tiết nhỏ nhặt nào. Mặc dù hầu hết những thi phẩm của chị đều là những mảnh hoài niệm một khung trời dĩ vãng, tạo nên những rung cảm dạt dào như tiếng lòng năm xưa trở về làm xôn xao hiện tại. Cho nên thơ vẫn diễn tả đầy đủ tính chất trang trọng của tâm cảnh quê hương, của chân trời dấu ái, và của lý tưởng muôn đời đa mang với vận nước nổi trôi, với thăng trầm thế cuộc. Nỗi đau vì mất mát, mà không riêng gì chị đã trải qua, đã vẽ lại trong chất ngất niềm thương hận. Trải dài những suy tư rất nhân bản, đầy tình người. Quê hương Việt nam trong lòng chị là hình ảnh oai hùng của những chiến sĩ QLVNCH đã hy sinh để bảo vệ Tổ quốc và Đồng bào. Quê hương Việt nam đã ôm ấp một dân tộc đầy hào hùng, đã thề chọn bảo vệ mảnh đất chữ S để dung thân. Nên bây giờ có đi xa ngoài vạn dặm, nhưng trong huyết quản của người Việt vẫn dung chứa hình bóng thân yêu nầy. Dù Quê hương đã khuất cách, nhưng lòng thủy chung vẫn còn ôm ấp một ngày về với thanh bình và tự do. Ước mơ nầy cũng không riêng gì những người đang cầm bút, không riêng gì những người đang nuôi chí phục quốc, không riêng gì những người đang cưu mang về vận nước… mà tất cả những người Việt trong và ngoài nước.

Mặc dù, tại hải ngoại họ đã có được một cuộc sống sung túc, con cháu thành đạt, và thấy không còn lo đến đời sống vật chất. Nhưng trong thâm tâm vẫn còn thiếu vắng một cái gì đã mất, một chút gì đã xa mà muốn tìm lại. Đó là Quê hương yêu dấu muôn đời.

Được sinh ra nơi mảnh đất trù phú của miền Nam nước Việt, nên tâm chị Dư Thị Diễm Buồn“Bát ngát phấn nội hương đồng” như Nhà văn Hồ Trường An giới thiệu trong “Lai Láng Dòng Phù Sa”.

Thơ là thể tài cô động bị gò bó trong từng câu từng khổ, nên khó nói hết tình ý của mình muốn diễn tả. Tuy thế, thơ của chị cũng đã vẽ lại nhiều hình ảnh của kỷ niệm rất sống động và nên thơ.  Nhất là những sinh hoạt về đồng quê, hay với tuổi học trò đẹp màu hoa bướm, chuổi ngày rong chơi với bạn bè thân thương, sống với gia đình đầm ấm hạnh phúc; hay kể lại những món ăn đậm đà với đặc sản của những nơi chốn khác nhau, mà chị đã đi qua.

Phải chăng văn hóa là phô diễn lại phong cảnh thiên nhiên, những hoạt cảnh liên hệ đến sinh lý, tâm lý và tình cảm của con người? thì Trong Lâu Đài Kỷ Niệm đều có đầy đủ những sinh hoạt ấy. Từ ngày mới sinh ra đời, đến tuổi bé thơ, học hành để có một nghề nghiệp bảo đảm cho đời sống. Lớn lên thì tìm ý trung nhân, lập gia đình, sinh con… đến tuổi về già lại lo cho con cháu những gì mà cha mẹ đả kiến tạo được.

Vì thế mà Trong Lâu Đài Kỷ Niệm có thể nói là một sinh hoạt toàn vẹn cho một kiếp nhân sinh. Qua hai thế hệ gắn bó, liên hệ như dòng chảy của một gia đình tiêu biểu, trong một xả hội của miền Nam nước Việt. Một gia đình có đến năm chị em gái, với sự liên hệ giữa người thân và bằng hữu, cũng như xóm giềng.

Thế mà chỉ cô đọng lại trong một truyện dài trên 300 trang giấy thì có thể chưa đầy đủ cho những chặng đường ấy chăng? Và, có thể thiếu tính cất phong phú của câu chuyện đi chăng? Điều nầy, chúng ta hãy đọc tác phẩm mới có thể tìm được câu trả lời thỏa đáng!

Nhưng theo nhận xét của Giáo sư Doãn Quốc Sỹ:

“Trong nghiệp sáng tác tiểu thuyết tôi vẫn thường nhủ thầm: Nam giới miêu tả tâm tình phụ nữ dù trân trọng đến đâu cũng vẫn là nữ giới qua lăng kính cảm nhận của nam giới mà thôi. Sức mấy mà lột hết được những u uẩn tinh tế nơi cùng thẳm tâm hồn phái đẹp! Bởi vậy khi đọc Trong Lâu Đài Kỷ Niệm do cây viết nữ- Dư Thị Diễm Buồn-kể chuyện về năm chị em trong gia đình ngũ long công chúa- cùng đám bạn gái quanh mình. Quả thực tôi đã được thỏa thuê ngao du trong một khu rừng ngút ngàn những tình cảm, những suy tư vô cùng tế nhị của nữ giới”.

Chúng ta hảy thưởng thức một cảnh đám cưới ở thôn quê miền Nam:

“Đám cưới chị Hai tôi có mặt đầy đủ họ hàng cùng láng giềng thân thiết ở địa phương và ở tỉnh thành về. Và gần như những người trong làng, những  làng lân cận quen thân với gia đình tôi, với ông bà ngoại đều được mời đến dự. Tiếng trầm trồ khen ngợi xa gần: “Đám cưới cháu ông cả Đê, con thầy giáo Năm lớn quá, đông người dự quá! Cả làng xả đến dự…” Mới bảy giờ sáng bốn chiếc ghe hầu, giăng hoa kết tuội cập bến. Nhà trai trên dưới hai mươi người, khăn áo chình tề, nghiêm trang và chậm rãi đi vào nhà, trong đó có ông bà ngoại, ba má chú rể. Bốn thanh niên và bốn thiếu nữ mặt mày sáng sủa tươi vui. Một thanh niên bưng khay trầu rượu. Một thiếu nữ bưng mâm nữ trang, những người còn lại thì bưng mâm quả lễ khác… Mỗi người bưng trên tay một mâm rượu, trà, bánh, trái. Họ đến trước cửa chánh thì dừng lại. Người đại diện nhà trai xin phép cho vào để trình lễ, và làm lễ rước dâu. Nhà gái cử đại diện ra tiếp đón mời họ đằng trai vào nhà.

Không khí trong nhà lúc bấy giờ thật trang trọng. Sau những lời hoa mỹ của ông mai bà mai cùng mấy ông mấy bà hai bên, họ nhà trai xin cho cô dâu ra làm lễ. Dì tôi dắt chị Tuyết Hồng ra. Chu choa ơi, chị tôi hôm nay đẹp như nàng tiên trong cổ tích… Bốn thiếu nữ bên nhà trai là người thành thị, nên họ ăn mặc và trang điểm đúng cách. Bốn cô phù dâu, tôi và chị Tuyết Loan không biết điệu bộ và ăn nói kiểu cách như hai chị kia. Có lẽ thấy chúng tôi là học trò, khờ khạo trong việc ăn nói, tiếp đón ở đám tiệc, nên má tôi mượn con gái út của ông xã trưởng, và con gái của ông chủ Năm. Hai người đẹp lụy anh hùng nầy ăn nói khôn khéo, nhưng không kém phần chanh chua, sắc mắc nhứt trong làng tôi. Những câu thăm hỏi, đối đáp của mấy chị làm tôi và chị Tuyết Loan không khỏi ngạc nhiên và thích thú, thí dụ như: …Xin lỗi chị năm nay bao nhiêu niên kỷ” Song than chị đã nhận nơi nào để chị nâng khăn sửa túi chưa? …Chúc bách niên gia lão! …Chúc loan phụng hòa mình/ Sắc cầm hão hiệp… Thật mấy chị lớn xí xọn và lanh lợi quá chừng chừng…”

Đây có thể là nét độc đáo nhất của những đám cưới miền quê? Vì người đời ai cũng thường hay “Làm mặt làm mày với thiên hạ” nhất là trong những cuộc lễ cưới hỏi. Một cơ hội cho các thanh niên thiếu nữ tha hồ trổ tài ăn nói, giao tiếp… chẳng những riêng các cô cậu, mà còn giúp cho gia đình hai họ có thêm một bầu không khí vui tươi và linh hoạt. Cho nên gia đình hai họ mới chú ý chọn các người phù dâu, phụ rể. Tập quán nầy đến nay người ta vẫn còn áp dụng triệt để.

Nếu trong suốt cuộc đời, những giai đoạn sẽ trải qua như cổ nhân thường nói: “Quan, Hôn, Tang, Tế”, thì việc quan trọng nhất là ngày thành lập hôn phối. Thế nên ai ai cũng rất chu đáo, cẩn trọng để lại cho con cháu một hình ảnh tràn đầy hạnh phúc, hầu nhắc nhỡ cho cô dâu chú rể hảy giữ lại mãi hình ảnh nầy, làm hành trang cho suốt chặng đường sẽ đi trong cuộc đời. Và cảnh sinh hoạt nầy, không phải chỉ riêng ở một miền nào, nét đặc trưng cho một địa phương nào, mà đã hòa chung và trải dài khắp cả ba miền đất nước thân yêu. Dần dà trở thành những cổ tục, một nền văn hóa dân gian mà xã hội đã mặc nhiên chấp nhận.

Bằng chứng như hiện tại qua những cuộc đám cưới ở hải ngoại, đồng hương chúng ta cũng mang theo ra những phong tục ấy. Có khác chăng chỉ khác về phong cảnh và nhà cửa, còn những sinh hoạt của người Việt thì không bỏ sót một chi tiết cổ xưa nào. Thế mới biết Ông Bà chúng ta cũng có nhiều sáng kiến tuyệt diệu, nên bây giờ con cháu dù có bị ảnh hưởng văn minh khoa học chi phối, nhưng không đành lòng vứt bỏ những tục lệ ngày xưa! Hay tấm lòng của những bà mẹ quê thật là bao la từ ái. Nỗi vui mừng lớn nhất vẫn là thấy con cháu mình được thành gia thất: ‘Ngày tôi thành hôn, người vui mừng nhất vẫn là bà ngoại, vì bà cứ sợ cô cháu gái ốm nhom, xấu xí, dữ dằn của bà sẽ chịu cảnh lỡ thời không ai thèm cưới. Nay, cô ta được anh chàng thầy giáo trung học hỏi cưới nên bà mừng lắm, moi của cải chắt chiu dành dụm giấu trong ruột ngựa móc ra tặng cho cháu…”

Và rồi đến bà nội cũng cùng hòa niềm vui ấy, như một đồng điệu qua những câu nói rất đặc thù. Như khi nghe bà nội khen ngợi cháu dâu, thì con cháu mình hỏi lại: “Cháu dâu của bà đã cho bà những thứ gì, mà bà thương con cháu dâu hơn cháu ruột vậy? Bà cười mắng cậu Ba: “Mồ tổ mầy, bà mừng cháu cưới được vợ tốt, nhỏ mà biết lễ nghĩa với họ hàng…”.

Đã diễn tả rất trung thực những tấm lòng tuy chơn chất nhưng rất thánh thiện ấy. Tấm lòng của những bà mẹ quê thật dễ thương ngần nào, quý bà đã thẳng lòng thẳng dạ bộc bạch không cần phải đắn đo suy nghĩ…

Hay trong đoạn văn diễn tả một cảnh đi thăm bệnh: “Anh Minh xách một bịch vừa chất lên bàn, sát đầu giường tôi vừa nói: “Bác nói Nhạn kén ăn, và thích ăn vặt nhiều hơn ăn thịt cá, nên ốm nhom. Những bánh kẹo nầy Nhạn thích nên bác mua đó… Tôi cười và nhăn mặt nhìn ba tôi: Ba à, sao ba nói xấu con gái mình trước kẻ lạ vậy? Ba tôi cũng cười hỏi lại: Cháu Minh bộ cũng lạ với con sao? Tôi ngập ngừng, trong khi Minh mỉm cười, mắt sáng long lanh chờ câu trả lời của tôi. Tôi nhỏ giọng:Dạ, cũng lạ! Minh như muốn nói điều gì, rồi lại thôi, mắt mơ màng nhìn cây phượng hoa nở hồng ngoài cửa sổ…”

Trên đây là một đoạn văn diễn tả một “hoạt cảnh” hạnh phúc của ba người: Một người bệnh và hai người đến thăm. Biểu hiện tính tình bao dung của một người cha qua câu hỏi: Cháu Minh bộ cũng lạ với con sao? Thể hiện tấm chân thành của một người bạn trai: Bác nói Nhạn kén ăn, và hay thích ăn vặt… Và sau cùng là diễn tả hết sức tế nhị và vô cùng sâu sắc tâm lý của phái nữ, với câu trả lời: Dạ, cũng lạ… Diễn đạt được tình cảm của người con gái trước ngưỡng cửa tình yêu. Vì đối với người Việt chúng ta thì tính ngại ngùng, e lệ là những món trang sức của phái nữ. Làm thăng hoa tình yêu và giữ gìn lòng chung thủy, và cũng chính là một thứ vũ khí để tự vệ. Như cụ Nguyễn Du cũng đã đề cập đến tâm lý ấy:- Tình trong như đã, mặt ngoài còn e. (Kiều), cũng có thể là chất liệu nuôi dưỡng sự bền bĩ và sắt son trong tình yêu lứa đôi.

Khi đã thành gia thất, thì chuyện tình cảm còn liên hệ đến các thế hệ trước và sau trong gia đình. Sự liên hệ nầy cũng là một thứ tình cảm thiêng liêng, được trải dài trong vô lượng kiếp của con người.

Như tâm sự bà Nội của Minh sau đây:- Ông bà nội thương yêu thằng cháu đích tôn còn hơn thằng trưởng nam của mình. Khi ba của thằng Minh bị Việt cộng ám sát, bà tưởng nửa cuộc đời còn lại của mình chôn theo con. May mà còn thằng cháu nầy bà mới sống vững tới bây giờ…

Mối liên hệ ấy vẫn cứ ràng buộc với nhau như bóng với hình. Một thứ tình cảm khó mà diễn tả một cách trung thực được. Thế nên khi về làm dâu, Nhạn vẫn một mực yêu thương bà cho đến ngày cuối đời:- … Tôi đã đem bài vị của bà nội Minh vào chùa Vĩnh Tràng để vong linh bà cụ được nghe kinh kệ sớm chiều, được hưởng lây hương thơm của nhang cúng Phật…

Việc chăm sóc của người con dâu đối với bà mẹ chồng, như thế là đã đạt đến thủy chung. Cùng biểu lộ tình cảm yêu kính chồng mình một cách tuyệt đối.

Đối với tôn giáo, cảnh đi chùa nầy cũng là một đặc điểm nữa:- Chúng tôi gặp sư Huệ Trí, bạn của Minh. Sư người dong dỏng cao, nước da ngăm, mặt mày hiền lành, ăn nói từ tốn. Sư dắt chúng tôi đi thăm nhiều nơi trong chùa. Tôi ngại ngùng không biết xưng hô thế nào với sư? Xưng bằng con thì tôi mắc cỡ miệng, vì sư còn trẻ. Xưng bằng tôi thì nghe phàm phu tục tử quá. Cho nên khi gặp sư tôi cúi đầu chào rồi đi theo sau Minh thôi…

Vì thời buổi nào cũng vậy, tuổi còn thiếu niên khi đi lễ nhà thờ hay đi chùa, cũng không nặng lòng về tôn giáo mấy. Đây cũng là tâm lý chung của các thế hệ trẻ đối với tôn giáo, được tác giả diễn lại rất trung thực. Tâm lý nầy, hiện bây giờ vẫn còn tồn tại như một tình cờ, mà người đời chưa có cơ hội để sửa đổi! Và, cũng một lẽ thường tình, vì cách giao tiếp hay xưng hô trong các tôn giáo (hay nói cách khác là nếp sống trong thiền môn) dĩ nhiên khác hẳn với ngoài đời. Do đó, khi bắt gặp những cảnh bình thường nhất, vẫn cảm thấy ngỡ ngàng mới thú vị và cảm tưởng vẫn còn ghi dấu.

Chương cuối diễn tả lại cảnh khủng hoảng tận cùng của tháng Tư đen! Một cảnh mà bây giờ, mỗi khi nhắc lại ai cũng cảm thấy bàng hoàng! Từ hình ảnh hớt hãi của những bà mẹ chạy đi tìm con, đến quang gánh của người người di tản…, tạo nên một cảnh hổn loạn, hãi hùng chưa từng thấy.

Và sau cùng, tác giả đề cập đến nếp sống hiện tại ở hải ngoại, cùng những nỗi nhớ nhung về kỷ niệm như những đợt sóng dấy lên bởi gió bão, rồi lặng yên, nhưng trong cái lặng yên ấy, vẫn còn ẩn khuất những đợt sóng ngầm.

Tựa  “Trong Lâu Đài Kỷ Niệm” người đọc có cảm tưởng như đây là “Thiên Hồi Ký” của tác giả, ghi lại một đoạn đường mà tác giả cùng những người liên hệ đã trải qua. Nhưng khi đọc xong, mới thấy thiên hồi ký được chuyển sang Truyện Dài, cũng như giọng văn đã dẫn dắt người đọc xóa tan những cảm tưởng ban đầu.

Cùng với kỷ thuật dựng truyện, có thể khẳng định một sự thành công của tác giả Dư Thị Diễm Buồn, từ một nhà thơ bước sang lãnh vực viết văn, song văn vẫn đầy đủ tình tiết hấp dẫn và truyền cảm dễ lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối. Hẳn nhiên, chứng tỏ một thiện chí và tài hoa. Nên đã xây dựng được tác phẩm có giá trị văn học, hầu đóng góp vào kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam.

 

ĐAN HÀ, Đức 2004

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: