Đời người thời ngắn hạn, nghệ thuật mới lâu dài!
Đời người thời ngắn hạn, nghệ thuật mới lâu dài!
Tiểu luận viết về Nhà văn Thái Quốc Mưu
Tác giả Nhà văn Nguyễn Quang
***
Lời Giới Thiệu
Ars Longa, Vita Brevis – Đời người thời ngắn hạn, nghệ thuật mới lâu dài! Có lẽ đây là tiểu luận đầu tiên, hầu về sau với những công trình nghiên cứu đối với nhà thơ, nhà văn, nhà báo Thái Quốc Mưu từ những sáng tác trên 35 tác phẩm của tác giả gồm nhiều thể loại như truyện ngắn, truyện dài, thi họa…Đặc biệt Thái tiên sinh còn là một trong các nhà thơ Đường người Việt lưu vong tại Hải ngoại!
Hồi ký của một cá nhân, tiểu luận thường để tổng kết về một con người cũng đồng nghĩa với hình ảnh, chúng ta chuẩn bị làm công việc cuối cùng hạ tấm ván thứ sáu trong chiếc áo quan của nhân vật! Đó là sự thật.
Với triết gia, nhà văn, nhà thơ điều quan trọng không phải những gì quý vị đó đã viết và được ghi chép lưu truyền hay những gì họ đã làm, nhưng có lẽ chính yếu vẫn là những gì trong cách thế sống như trụ cột chống đỡ cho xã hội tạo nên ảnh hưởng tích cực cùng hệ lụy nếu là chuyên viên dỡ cột nhà dân tộc!
Nơi đất khách quê người, một tấm lòng son luôn tha thiết với quê hương, tác giả Thái Quốc Mưu đã khẳng định tính chính danh qua ngòi bút của tiên sinh:
Viết :
– Vì Tổ Quốc Việt Nam
Để:
– Tưởng nhớ hai đấng sinh thành
– Kỷ niệm một thời ly quốc
Dành cho:
– Những ngươì thân yêu
– Bằng hữu
– Tất cả người Việt Nam trong, ngoài nước
Và:
– Thế hệ mai sau biết nỗi đau chung của đất nước, về sự trăn trở, mặt thật, tình nghĩa đồng bào khi lưu vong trên đất khách quê người.
(Như Giọt Sương Sa – thơ Thái Quốc Mưu)
Nhưng tất cả vẫn chỉ là Logos – lý luận của Lời Nói! Tôi đã thấy và chứng kiến như điều tác giả viết: “Mỗi lần về nước, thay vì du hí ở Sài Gòn, tôi thường lui tới những nơi xa xôi, hẻo lánh, tìm những người khó nghèo để giúp đỡ bằng khả năng của mình. Có nơi tôi tặng hai, ba, năm, bảy và cũng có nơi tôi tặng hàng vài chục căn nhà…”
Thật vậy, nỗi đau của quê hương đồng bào cũng là sự trăn trở của nhà văn qua tham luận Nỗi Đau Của Người Cầm Bút. Tiên sinh viết: “…Người sáng tác là một nghệ sĩ trình diễn những suy tư, diễn đạt ý tưởng của mình trên trang giấy, để đưa ra, nói lên, gởi đến bạn đọc thấy, biết được tâm thức của mình.” Và: “Tôi chỉ mong bạn đọc khi cầm đứa con tinh thần của tác giả nào đó, lúc mở trang sách nên nhập cuộc, hóa thân làm tác giả rồi hãy đọc, như vậy mới cảm thông nỗi lòng người viết…”
Hóa thân trong đời thường với truyện ngắn Thằng Quách Hòe hầu như đọc giả trong và ngoài nước đều biết, nhất là qua giọng đọc của các xướng ngôn viên trên làn sóng vô tuyến truyền thanh, truyền hình lan tỏa khắp nơi! Tác giả đã hòa mình cùng nhân vật đến cái tận cùng của kiếp người trong ý nghĩa Thiện vá Ác “Cha mẹ nó nhờ bãi rác mà sống như nhiều người khác. Khi nó “lớn rồi” – theo nhận định của cha mẹ nó, nó cũng phải giúp cha mẹ nó “làm ăn” – cũng theo ý nghĩ của cha mẹ nó: Bươi rác!”
Trên tấm thân tàn tật của người con, Cha mẹ này bắt đầu ‘kinh doanh’ thân xác của cháu bé bất hạnh cùng mang về nhiều trẻ em khác để làm nghề ăn mày lòng trắc ẩn của đồng loại! Tiên sinh viết: “Đúng là “tư tưởng lớn gặp nhau”. Suy nghĩ của cha thằng Què sao mà giống tư duy của những nhà lãnh đạo kém tài, kém đức trên những đất nước nghèo nàn, chỉ mong quê hương họ bị thiên tai, hỏa hoạn để được nhận quà cứu trợ của những quốc gia tiên tiến, giàu mạnh trên thế giới!”
Đúng là có sự chạnh lòng nếu hành trình cùng tác giả:
Cất bước ta đi vạn nẻo đường
Thoắt qua, giờ tóc đã pha sương!
Bao phen sóng bủa, lay vần nguyệt
Lắm lúc mây mù, khuất ánh dương
Đất khách nghĩa tình – Cơn gió thoảng
Quê nhà huyết mạch – Vạn niềm thương
Trăm năm, ngoảnh lại, giờ đây đã…
Sáu chục. Trôi nhanh cuộc hí trường
Phút chạnh lòng- Thơ Đường Luật TQM, trang 69
Hãy đi về thôi Anh, dù tình bạn vong niên, giới cầm bút đều gọi nhau như vậy. Hãy về! Ta đi về ‘Nơi nào có Cha mẹ đó là Quê Hương’ và sẽ mãi mãi về chốn xa hơn, vì vốn ‘Chúng ta từ xa đến và mãi mãi đi xa!’
Ta đi bóng lẻ đường chiều
Ta về lối cũ lòng hiu hắt buồn
Con đường đất đỏ thân thương
Những đôi chân nhỏ xoi mòn lối đi
Ruộng xanh đồng lúa đương thì
Có đôi cò trắng bay về chốn nao?
Ven làng cao ngất hàng cau
Hàng dừa soi bóng bên ao nước đầy
Trái quằn trĩu nặng thân cây
Bà ngồi ru cháu bên ngoài mái hiên
Sân vườn ríu rít tiếng chim
Dây trầu quấn quít một thiên tình buồn
Ta đi chớp bể mưa nguồn
Ta về, về với nước non quê mình
Ta đi, non nước hữu tình
Không đâu bằng được quê mình, mình ơi!
Ta Đi Ta Về
Atlanta , Oct ,25 .2007
(Như Giọt Sương Sa, trang 48)
– Hãy đi và đừng tiếc nữa khi nhà thơ cũng là nhà biên dịch, đồng nghĩa với dịch là sáng tác lần thứ hai!
Đề Tích Kiến Xứ
Nguyên tác cuả Thôi Hiệu
Thái Quốc Mưu phỏng dịch .
Ngày này, năm ngoái ghé đây
Má hồng thôn nữ hây hây hoa đào
Hôm nay cô gái năm nào…
vắng tăm – Để cánh hoa đào giỡn đông!
Atlanta, August, 28, 2000
-Cuộc đời này thật tuyệt vời, cho dù ‘Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông!’
Nguyễn Quang
***
Nội dung khảo luận:
I. Lời giới thiệu
II. Nhận định và bình luận của các tác giả về Nhà văn Thái Quốc Mưu
II.1. Tiểu sử Nhà văn Thái Quốc Mưu qua bài viết của Nhà văn Chu Vương Miện
II.2. Đọc các tác phẩm Thái Quốc Mưu qua bài viết của phóng viên Lê Nhật Thăng
II.3. ‘Trong thế giới thượng vàng hạ cám của thơ, tôi bắt gặp Thái Quốc Mưu’… bài của Nhà văn Nguyệt Lãng
II.4. Điểm sách: Phía Sau Cuộc Đời của Thái Quốc Mưu
Nhà phê bình văn học Diên Nghị
II.5. Đọc Thơ Tứ Tuyệt Thái Quốc Mưu
Như Hoa Lê Quang Sinh
Hội Trưởng Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại
II.6. Thi ca thi nhân, Thái Quốc Mưu và Thơ Đường
Người viết: M.loanhoasử
II.7. Thơ Đường Luật của Thái Quốc Mưu
Nhận định của Thi Lão Hà Thượng Nhân
III. Nhận định về truyện ngắn của Nhà văn Thái Quốc Mưu
IV. Nhận định về truyện dài của Nhà văn Thái Quốc Mưu
V. Nhận định về tản văn của Nhà văn Thái Quốc Mưu
VI. Nhận định về thơ Đường của Nhà thơ Thái Quốc Mưu
VII.Nhận định về thơ mới của Nhà thơ Thái Quốc Mưu
VIII. Nhận định vể biên dịch và thi họa của Dịch giả Thái Quốc Mưu
IX. Kết luận
Người viết tiểu luận:
Nhà văn Nguyễn Quang
***
II. Nhân định và bình luận của các tác giả về Nhà văn Thái Quốc Mưu
- 1. Tiểu sử qua bài viết của Nhà văn Chu Vương Miện:
Thái Quốc Mưu là bút hiệu và cũng là tên thật. Ông sinh năm 1941 tại Bến Tre. Lớn lên tại thị xã Điều Hoà, tỉnh Định Tường. Trưởng thành và làm việc ở Mỹ Tho rồi Sài Gòn và tỉnh Long Khánh. Chức vụ sau cùng là Quyền chủ sự phòng nhân viên chánh ngạch tỉnh Long Khánh.
Sau ngày 30 tháng tư năm 1975, không trình diện bị bắt vào tù cải tạo đến đầu năm 1984 mới được thả ra. Đến Mỹ và định cư ở tại tiểu bang Georgia từ tháng 2 năm 1992. Thái Quốc Mưu khởi viết từ năm 1967 ở miền Nam Việt Nam. Vớí những bút danh như sau Liêu Tần Tử, Bằng Giang, Liêu Tiên Sinh và tên thật.
– Chủ bút nguyệt san Tự Do của Hội CTNCT/ Georgia 1994.
– Chủ nhiệm / chủ bút tạp chí KHPT Dân Việt 12/95 12/2004
– Đệ nhất Phó Chủ Tịch /TTVB Đông Nam Hoa Kỳ / Florida.
– Hội viên hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại / Văn Bút Quốc Tế.
– Hội Viên Văn Bút Đông Dương (Indochinese Write Inexile)
– Hội viên hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại.
– Hiện diện trên 30 tác phẩm văn học, trên 50 tạp chí, đặc san, website, radio ở Việt Nam, Mỹ, Canada, Pháp và Úc Đại Lợi .
* Có tên trong:
– Bút luận “Lưu Dân Thi Thoại” của Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn.
– Kỷ Yếu Văn Học Cội Nguồn.
– Kỷ Yếu Năm Văn Học Cội Nguồn 1995-2000, Cội Nguồn – Cali. 2001
– Văn Nghệ Sĩ Việt Nam Trong, Ngoài Nước của Phan Ni Tấn.
– Kho Tàng Văn Chương Việt.
– Thư Viện ảo (Net) Sáng Tạo, của Văn/Thi sĩ Bắc Phong
– Diễn Đàn Thư Viện Việt.
– Thư Viện Việt Nam.
* Truyện đọc trên các đài phát thanh, và các trang Web-site và các Blog:
VOA, VNCR, http://www.giadinhnazareth.org, video.ketnooi.com/, http://www.doctruyenaudio.com, Nhạc Của Tui, Viethamvui.net, và…
* Hiện diện trong các tác phẩm văn học:
– Giai Phẩm Không Đề 1 (Đường Việt – Louisiana, 1997)
– Giai Phẩm Không Đề 2 (Đường Việt – Louisiana, 1998)
– Những Điều Trông Thấy, tuyển tạp văn (Cội Nguồn – Cali . 2000).
– Vườn Thơ Hải Ngoại (Phụ Nữ Thời Nay Hải Ngoại – Cali. 2001)
– Thơ Việt Hải Ngoại – Một góc nhìn Tản Mạn (Hội Văn Học Nghệ Thuật – Thi Đàn Lạc Việt, Cali, 2001).
– Một Phía Trời Thơ, tập 5 (Hội văn Học Nghệ Thuật – Thi Đàn Lạc Việt , Cali . 2001)
– Tuyển tập Thi Văn Bút Hoa 5 (TTVB Khu Vực Tây Bắc Hoa Kỳ, 2001)
– Thơ Đường Luật – Xướng họa, Trương Quân (Tác giả tự xuất bản, Sàigòn, 2002)
– Nối Lại Nghìn Xưa (tuyển tập thơ, Phụ Nữ Thời Nay Hải Ngoại – Cali. 2003)
– Tuyển Tập Mùa Thu (Văn Bút Việt Nam hải ngoại, TT Florida / ĐNHK 2005)
– Cụm Hoa Tình Yêu XI (Hội thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại – Cali. 2006)
– Ba Mươi Năm, Niềm Đau Còn Đó – Thi Ca Lưu Vong (Hội Văn Học Pháp Việt – France 2006)
– Một Phần Tư Thế Kỷ Thi Ca Việt Nam Hải Ngoại (Hội văn Hoá Pháp Việt – France. 2006)
– 50 Năm Thơ & Người Thơ. tác giả Dương Huệ Anh & Thụy Cầm, (Phương Đông, Cali. 2007)
– Thi Văn Viễn Xứ – Tuyển tập 1 (Tình thơ – Cali. 2005)
– Thi Văn Viễn Xứ – Tuyển tập 2 (Tình Thơ Hải Ngoại – Cali .2007)
– Tình Lính Duyên Thơ (Hội Văn Hoá Pháp Việt – France. 2007)
– Tuyển tập (truyện ngắn) HAY NHẤT (Thời Nay, 2008)
– Tuyển tập Văn Học Thời Nay, 61 tác giả (Thời Nay – 2009)
– Món Ăn Theo Bước Chân Di Tản (Bảo Linh, 2009)
– Bút Hoa 5 – Tuyển tập thi văn (Văn Bút Tây Bắc Hoa Kỳ – 2010)
* Tác phẩm đã xuất bản:
– Gió Quyện Hương Đồng (Văn, Thơ – Dân Việt, Inc, 1998)
– Phía Sau Cuộc Đời (Truyện vừa – Dân Việt, Inc. 1999)
– Kỷ Vật Cho Đời (Thơ – Dân Việt, Inc. 2007)
– Thơ Đường Luật Thái Quốc Mưu (Dân Việt, Inc. 2008)
– Truyện Ngắn Thái Quốc Mưu (Dân Việt, Inc. 2008)
– Thơ Tứ Tuyệt Thái Quốc Mưu (Dân Việt, Inc. 2008)
– Như Giọt Sương Sa (Thơ – Dân Việt, Inc 2008)
– Tản Mạn – “Chuyện vặt đời thường” (Dân Việt, Inc. 2008)
***
Qua phần trình bày ở trên, tác phẩm đứng riêng cũng gần mười tác phẩm và đứng chung các Tuyển Tập với nhiều tác giả (đủ thứ) thì cũng tròm trèm 35 tác phẩm, thật là dềnh dàng đồ sộ, không thể thu hết một lúc vào một bài Điểm Sách “Tác Phẩm Tác Giả được”, thành ra người đọc mang tâm trạng của kẻ “cưỡi ngựa xem hoa” giới thiệu những nét chính đặc sắc, rồi có dịp thuận lợi sẽ trở lại nhà văn Thái Quốc Mưu một dịp khác.
Văn cuả Thái Quốc Mưu vừa truyện Ngắn vừa truyện Dài, vừa Bút ký, vừa Bình Luận và Tản Mạn. Thơ của Thái Quốc Mưu thì vừa thơ Thường, thơ Đường Luật, thơ Tứ Tuyệt và thơ Dịch. Đúng là thập bát võ nghệ, món nào anh cũng chơi được cả, mà còn thông thạo chuyên nghiêp là cái chắc?
Nỗi Nhớ Quê
Mấy mươi năm trải cuộc đời
Còn chăng chỉ một thằng người của ta
Lên cao vọng nước non nhà
Vực sâu thăm thẳm như là đại dương
Ráng chiều khuất bóng quê hương
Rừng cây, tím ngắt nỗi buồn tháng, năm
Thả hồn vào cõi xa xăm
Tìm trong hư ảnh chút dư âm thừa
Atlanta , Dec .22. 1999
(Như Giọt Sương Sa, trang 46)
……
* Và sau đây là hai đoạn văn rất ngắn gọn cô đọng trong tác phẩm “Tản Mạn”, xuất bản vào năm 2008.
Viết bằng con tim cuả mình “Vui Buồn Một Chuyến Trở Về”
“Thế là gần tròn một năm, tôi lại chuẩn bị về thăm quê hương. Trong thời gian sắm sửa hành trang, dù đang trên đường bước vào “thế giơí hiếm người” (ý từ câu “Nhân sinh thất thập cổ lai hy) nhưng lòng tôi không sao tránh khỏi xao xuyến.
Trong khi sắp xếp mọi thứ lỉnh kỉnh vào vali, tôi chợt nhớ ra, quên mua mấy ổ khoá nên lẩm nhẩm:
– Đúng là lẩm cà lẩm cẩm quá rồi ! “ Vợ tôi đang ngôì uống nước , bên chiếc bàn gần đó hỏi :
– Ông cằn nhằn gì vậy ông?
Tôi đáp:
– Hồi nãy, đi mua hai cái vali, quên tuốt việc mua mấy ổ khóa.
Vợ tôi nói:
– Bây giờ đi về Việt Nam mình đâu cần khóa vali nữa ông! Tôi về mấy lần chỉ cần lấy băng keo quấn vài vòng là xong. Mình để vậy, ai muốn kiểm soát thì kiểm soát, chứ khóa rồi khi người ta muốn kiểm soát thì phải tìm mình lấy chìa khoá…”
(Tản Mạn – Thái Quốc Mưu trang 109)
Chuyện Tướng Vang Pao Bị Mỹ Bắt
“Tóm tắt sự việc như vậy, nhưng không đơn giản như vậy. Từ năm 1960 đến năm 1970 tướng Vang Pao được chính quyền Mỹ, qua CIA làm hậu thuẫn, yểm trợ trên nhiều phương diện để quân đội của ông tướng này có khả năng tiếp tục chiến đấu chống Lào Cộng.
Năm 1975, chính chánh phủ Hoa Kỳ làm hậu thuẫn để tướng Vang Pao được sang định cư tại Mỹ. Ngày 04/6/2007 cũng chính phủ Hoa Kỳ bắt tướng Vang Pao với tội danh nêu trên.
Từ khi sang Mỹ đến ngày bị bắt, Vang Pao chưa từng vi phạm luật pháp Hoa Kỳ.
Việc bắt Vang Pao là chính phủ Hoa Kỳ muốn cảnh báo tất cả các cộng đồng thiểu số đang có mặt tại Mỹ: “Điều gì chúng ông đã ổn định thì tụi bây đừng có chen vào làm xáo trộn”, và chúng ta cần cảnh giác “chính phủ Hoa Kỳ không có bạn, không có thù, chỉ có lợi cho đất nước họ!”
Vang Pao chỉ là một con cờ trong trò chơi chính trị hiểm hóc mà ngườì lãnh đạo quốc gia nào cũng phải áp dụng để bảo vệ quyền lợi quốc gia mình…”
Văn Thơ cuả Thái Quốc Mưu là thuộc loại “văn dĩ tải đạo”, rất hiện đại và đương đại, những đoạn ngắn mà chúng tôi trích dẫn chứng tỏ anh là ngươì “uy vũ bất năng khuất” một người viết văn làm thơ can trường dù rằng anh đang bước vào cái tuổi “thất tập cổ lai hy”… Để kết thúc bài viết này, xin ghi lại phần cuối bài là tâm nguyện của anh, viết ở đầu trang, trước khi hành trình vào tác phẩm.
Viết :
– Vì Tổ Quốc Việt Nam
Để:
– Tưởng nhớ hai đấng sinh thành
– Kỷ niệm một thời ly quốc
Dành cho:
– Những ngươì thân yêu
– Bằng hữu
– Tất cả người Việt Nam trong, ngoài nước
Và:
– Thế hệ mai sau biết nỗi đau chung của đất nước, về sự trăn trở, mặt thật, tình nghĩa đồng bào khi lưu vong trên đất khách quê người.
(Như Giọt Sương Sa – thơ thái Quốc Mưu 2008)
chuvươngmiện
***
2. Đọc các tác phẩm Thái Quốc Mưu qua bài viết của phóng viên Lê Nhật Thăng:
Cách nay vài tháng, tại Georgia, chúng tôi tổ chức đón tiếp Nhà thơ/Nhà thư họa Vũ Hối tới thăm Georgia. Nhân cơ hội này, tôi có viết một câu lục bát để tặng anh Thái Quốc Mưu và anh Vũ Hối trình bày. Câu đó như sau:
Bồi hồi đọc Thái Quốc Mưu
Thơ văn, ý, tứ vẫn ưu tư đời
Có thể câu thơ sáu tám trên tôi nghĩ đã tóm lược tinh thần và nội dung quá trình sáng tác của anh trên tám tác phẩm đã xuất bản và trên các báo chí khắp nơi, trong đó có tạp chí Kiến Thức Phổ Thông mà anh phụ trách điều hành.
Tôi bồi hồi vì cảm nhận trong đại đa số những bài thơ văn của anh đều có tính cách mô tả xã hội Việt Nam cận đại và đương đại của người Việt ở trong nước hay hải ngoại. Văn và thơ của Thái Quốc Mưu nghiêng rất nhiều về phong tục, tập quán của người Việt trong quá khứ gần và hiện đại ở trong nước và ở nhiều nước ngoài bây giờ. Sự hồi tưởng từ bản thân phong phú hơn những ghi chép từ tha nhân. Cũng có thể nói tác phẩm của anh biểu hiện rõ rệt và xuất sắc nhiều phương diện kể các ngõ ngách của tâm hồn. Đời sống của nhân vật do anh biểu hiện làm cho chúng ta ngạc nhiên không chỉ vì kiến thức bao quát, sự hướng nội bất ngờ mà còn dựng lên những mảnh đời trần trụi và trung thực, tự nhiên. Thậm chí còn gây úy kỵ cho những kẻ đạo đức giả. Đó là một khuynh hướng sáng tác có phẩm chất xã hội học.
Tôi biết anh Thái Quốc Mưu cách nay trên mười năm, từ khi tôi còn ở Savannah, Georgia. Cuốn Gió Quyện Hương Đồng của anh do Dân Việt xuất bản năm 1997 gồm 11 truyện ngắn (Phần Một), thơ gồm nhiều thể loại, trong đó có bốn bài thơ tám câu thể luật và các thể khác gồm 24 bài. Phần cuối có hai truyện ngắn là Da Hùm và Đấu Trí. Truyện vừa mang tên Hoàng Thân Thanh Đạm.
Tôi có vinh hạnh được anh giao cho viết bài Tựa. Nay đọc lại bài Tựa, tôi nghĩ vẫn không có gì khác biệt với những nhận định về tác giả cách đây mười năm. Nay đọc các bài văn thơ mới của anh quả thật có những thăng tiến, sâu sắc và bao quát hơn.
Điều đáng quí là tác giả vẫn giữ được bút pháp riêng và những chủ đề sở trường. Đúng như tôi hằng mong ước: “Phía trước rực rỡ đang chờ anh nếu anh nỗ lực và thận trọng hơn nữa sẽ có những thành công xuất sắc, xứng đáng là người cầm bút có lương tri và tài năng.” Tôi nghĩ anh đã định hình được bút pháp của mình ngay từ tác phẩm đầu tiên.
Anh Thái Quốc Mưu đã xuất bản được tám tác phẩm. Đó là Gió Quyện Hương Đồng (tập văn thơ) in năm 1998, Phía Sau Cuộc Đời (phóng sự tiểu thuyết) in năm 1999, Truyện Ngắn Thái Quốc Mưu in năm 2008, Tản Mạn (Truyện Vặt Đời Thường) in năm 2008, Thơ Tứ Tuyệt Thái Quốc Mưu in năm 2008, Kỷ Vật Cho Đời (thơ) nhiều thể loại in năm 2007, Như Giọt Sương Sa (thơ nhiều thể loại) in năm 2008 và Thơ Đường Luật Thái Quốc Mưu in năm 2008.
Tôi trích dẫn giới thiệu một số bài thơ tiêu biểu trong các thi tập để bạn đọc có dịp thưởng ngoạn (một bài trong mỗi thi tập):
PHÚT CHẠNH LÒNG
Cất bước ta đi vạn nẻo đường
Thoắt qua, giờ tóc đã pha sương!
Bao phen sóng bủa, lay vần nguyệt
Lắm lúc mây mù, khuất ánh dương
Đất khách nghĩa tình – Cơn gió thoảng
Quê nhà huyết mạch – Vạn niềm thương
Trăm năm, ngoảnh lại, giờ đây đã…
Sáu chục. Trôi nhanh cuộc hí trường
(Thơ Đường Luật TQM, trang 69)
XUÂN VỀ TRONG TRÁI TIM QUÊ
Xuân đến hồn vọng về cố quốc
Cây đa, bến cũ, mái đình xưa
Nồi bánh chưng xanh mùi nếp mới
Nửa đêm tiếng pháo gọi giao thừa
Bánh mứt, dưa, nho, lê, táo ngọt
Xứ người thừa thãi – Thịt thà dư
Sao ta nghe thiếu tình quê lạ!
Một chút hương trong lúa được mùa
Dẫu biết quê người đầy tất cả
Cũng không thay được xóm, thôn xưa
Nghèo nàn, nhưng ấm tình, ấm nghĩa
Dưới ánh trăng treo gọn gió lùa
Atlanta, Mar. 24, 2002
(Như Giọt Sương Rơi trang 161)
CHẠNH NIỀM ĐAU
Giữa khuya tiết lạnh se lòng
Trùm chăn, trở giấc mênh mông nỗi buồn
Ngoài trời gió thét, mưa tuôn
Từng cơn đau nhói lách luồn thịt da
Một mình ta nói với ta
Cuộc đời ly quốc chan hòa đắng cay
Ngoảnh nhìn tìm chút tương lai
Như cơn trốt xoáy vút bay giữa trời
Atlanta, Feb. 2000
(Kỷ Vật Cho Đời, trang 162)
AI
Năm xưa ai khóc, ai cười vội?
Nước mắt ai làm biển rộng thêm?
Ai đã dìm trăng nơi đáy nước
Cho đời trôi nổi mối lương duyên!
Atlanta, May 15, 2008
(Thơ Tứ Tuyệt Thái Quốc Mưu, trang 221)
Trong tập tuyện Tản Mạn có 21 bài văn nhiều thể loại, Bạt của Diên Nghị và mục Nguồn Mỹ Cảm có các Nhà văn, Thi sĩ, Bình luận gia… góp ý viết về tác phẩm của anh như Lã Mộng Thường, Trần Trung Thuần, Phạm Phong Dinh, Phương Hoa Sử, Đinh Việt Liên, Song Nhị, Diệu Tần, Minh Viên, Sơn Tùng, Lê Trường Giang, Lê Bá Năng, Lê Nguyễn… cùng với nhiều sách báo đề cập tới tác phẩm của anh. Xin trích dẫn vài ý kiến của Nhà thơ lão thành Hà Thượng Nhân: “…Tôi nghĩ Thái Quốc Mưu đã sử dụng luật thi một cách thoải mái. Những bài như Tự Kiểm Khi 59 tuổi là một trong nhiều bài thơ hay, đạt. Thơ của Thái Quốc Mưu rất tề chỉnh, vần luật tề chỉnh, đối ngẫu tề chỉnh. Vần của anh thường là những vần giầu. Ở nước ngoài còn được đọc những tập thơ như thơ Thái Quốc Mưu kể ra cũng là điều rất an ủi…”
Trong trang đầu tiên, tác giả bộc lộ mục đích sáng tác như sau:
Viết: Vì tổ quốc Việt Nam. Để: Tưởng như hai đấng sinh thành – Kỷ niệm một thời ly quốc. Dành cho: Những người thân yêu, bằng hữu – Tất cả người Việt Nam trong, ngoài nước. Và: Thế hệ mai sau biết nỗi đau chung của đất nước, về sự trăn trở, mặt thật, tình nghĩa đồng bào khi lưu vong trên đất khách quê người.
Nhà văn Diên Nghị trong đoạn mở đầu bài Bạt (Thay Lời Tựa) có nhận định như sau: “Đọc Tản Mạn – Chuyện Vặt Đời Thường của Thái Quốc Mưu, ấn tượng đầu tiên là thú vị… Đọc chưa hết trang này lại muốn sang trang khác… rất gần gũi với con người, bắt gặp, xảy ra nơi này nơi khác, hoặc được nghe kể đâu đó, rất quen…”
Nội dung không phải như tác giả đặt cho tập truyện là Chuyện Vặt Đời Thường mà là sự tập họp của quan sát, suy nghĩ và phát biểu về các hoạt cảnh xã hội đương đại.
Hai bài đầu anh kể lại hai chuyến du ngoạn. Đó là Tám Ngày Ở Trung quốc và Bảy Ngày Ở Kuala Lumpur, Malaysia với những ghi chép khá tỉ mỉ và thú vị.
Bài thứ ba có tên Viết Vì Tổ Quốc Việt Nam và những bài tiếp theo bao gồm sự quan sát và nhận xét bằng tinh tế và trực tính. Anh đã trở lại Đà Lạt thăm và nói chuyện với cô Hằng Nga là ái nữ của Trường Chinh cố Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam khá thú vị.
Các bài tiếp theo có nhiều sự phê phán đòi hỏi sự ngay thật, quảng bác và hoàn toàn có tính cách xây doing xã hội. Tôi rất thú vị khi đọc bài Cái Tôi Đáng Ghét từ trang 248 để biết được trong gia đình anh có nhiều người làm thơ, viết văn, chơi cổ nhạc Nam phần. Và anh cũng viết một bài vọng cổ có phần mở đầu theo điệu Lý Con Sáo.
Tác phẩm thứ sáu của anh là tập truyện ngắn bao gồm 24 bài có tên Truyện Ngắn Thái Quốc Mưu. Trước đây chúng ta thường đọc những truyện ngắn và dài của các tác giả lớp trước như Hồ Biểu Chánh, Hồ Hữu Tường, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Lê Xuyên, Xuân Vũ… nay đọc tác phẩm của anh thấy rất thú vị vì văn ngữ, đối thoại, cảnh sắc… hoàn toàn thích hợp phong cách của xã hội cận đại và đương đại ở trong nước và tại hải ngoại.
Tập truyện này có 23 truyện, riêng bài Sám Hối anh viết chung với Hà Tiểu Thơ.
Văn miền Nam của anh thẳng tuột nhưng có những lắt léo, sâu sắc, bất ngờ… Tôi đọc mà cứ như người nằm trên thuyền lênh đênh trên sông rộng mà cũng không thiếu những ngã rẽ bất ngờ hay dòng chảy ngược xô vào mạn thuyền làm cho tôi giật mình. Sự phê phán của anh về những điều chướng tai gai mắt một cách thẳng thắn trực diện. Không phải anh muốn hạ bệ hay phơi bày một số người che giấu dã tâm, trục lợi hay thỏa mãn thấp hèn mà tôi thấy hoàn toàn có tính cách tố giác để cảnh cáo và xây dựng cho cuộc đời đẹp hơn, đáng sống hơn.
Sự phê phán của anh về xã hội đương đại ở trong nước ta hay ở hải ngoại thật chính xác, ngay thẳng và hoàn toàn có hảo ý xây dựng. Trang 61, tôi không ngạc nhiên khi anh kể: “Mỗi lần về nước, thay vì du hí ở Sài Gòn, tôi thường lui tới những nơi xa xôi, hẻo lánh, tìm những người khó nghèo để giúp đỡ bằng khả năng của mình. Có nơi tôi tặng hai, ba, năm, bảy và cũng có nơi tôi tặng hàng vài chục căn nhà…”
Tôi rất hiểu ý nghĩa bài Nỗi Đau Của Người Cầm Bút. Anh viết: “…Người sáng tác là một nghệ sĩ trình diễn những suy tư, diễn đạt ý tưởng của mình trên trang giấy, để đưa ra, nói lên, gởi đến bạn đọc thấy, biết được tâm thức của mình.” Và: “Tôi chỉ mong bạn đọc khi cầm đứa con tinh thần của tác giả nào đó, lúc mở trang sách nên nhập cuộc, hóa thân làm tác giả rồi hãy đọc, như vậy mới cảm thông nỗi lòng người viết…”
Phía Sau Cuộc Đời là Phóng Sự Tiểu Thuyết đã in ở trang đầu như một giới thiệu được khẳng định. Bà Ngọc Ánh – nhân vật chính, góa chồng có con gái tên Ngọc Tuyết và có người bạn gái thân là bà Bích Hoa. Con gái của bà Bích Hoa là Bích Loan bạn rất thân với Ngọc Tuyết.
Truyện xoay chung quanh vài nhân vật chính này và những nhân vật phụ là các người tình của bốn người, trong đó, ông Phong là bạn tình của bà Bích Hoa. Đọc truyện tình này chúng ta thấy có những thực tế trong đời sống cá nhân và xã hội của họ. Qua nhân vật Thông, chúng ta thấy có những sự phê phán về bọn đạo đức giả trong xã hội hải ngoại khá chính xác. Như sự phê phán việc mời ăn đám cưới có nhiều điều chính xác có tính cách xây dựng. Một điều khác mà tác giả đề ra về cụm từ Đánh Phá Tôn Giáo mà cô Thu Ba đã thẳng thừng tố cáo: “… Chúng ta không thể để những tên ma đầu đội lốt nhà tu tiếp tục đánh lừa chúng ta.”
Thời gian ba năm sau, tác giả giải quyết xong hai trường hợp tế nhị và khó nói nhưng cũng rất thực tế về sinh lý con người. Đó là sự cô đơn. Bà Ngọc Ánh chắp tay kêu lên thống thiết: “Chúa ơi! Xin Ngài đứng bỏ con!”
Gió Quyện Hương Đồng là tác phẩm đầu tay của Thái Quốc Mưu xuất bản năm 1998. Tôi có may mắn được anh nhờ viết Tựa.
Tôi nhớ lại khi mới đọc được một phần tư tập truyện, tôi rất ngạc nhiên về bút pháp và cách dựng truyện của anh. Thích thú và cảm phục là ý nghĩ của tôi lúc đọc. Phải nói là nhờ tác phẩm này tôi hiểu thêm về đồng quê miền Nam hơn.
Tập truyện gồm có ba phần: Phần Một gồm 11 truyện ngắn. Phần Hai có 30 bài thơ đủ thể loại. Và Phần Ba có ba truyện mang nội dung chính trị hiện đại là Da Hùm, Đấu Trí và Hoàng Thân Thanh Đạm.
Đoạn cuối bài Tựa tôi viết có câu: “Đây là bước khởi hành của Thái Quốc Mưu đi vào thế giới văn chương chữ nghĩa…” Và đúng như lời tiên đoán của tôi: “Phía trước rực rỡ đang chờ anh… sẽ có những thành công xuất sắc, xứng đáng là người cầm bút có lương tri và tài năng.”
Riêng bài thơ Diễu Mình (trang 143) tôi vẫn thuộc vì biểu đạt được con người – tâm thức của người Việt (nói chung) ở nước ngoài. Đây là một tiêu biểu điển hình sự thành công của tác giả trong địa hạt thơ:
DIỄU MÌNH
Bốn mươi bốn tuổi, cái thằng ta
Dở dở, ương ương ấy thế mà
Lỉnh nghỉnh con thơ năm, sáu đứa
Lom khom sớm tối một thân già
Đường tình nửa bước cười tê tái
Thơ phú đôi dòng ngậm xót xa
Quá nửa đời người là thế đấy
Ta là Ta – Hay chẳng là ta?
Tháng 5 – 1983
Tác phẩm đầu tiên này của Thái Quốc Mưu lập tức được nhiều bạn đọc đón nhận và khen ngợi, nhất là các độc giả sinh ra và lớn lên ở miền Nam Việt Nam. Chúng tôi đọc với sự tò mò để tìm hiểu và thưởng thức lối văn đối thoại cùng phong tục, tập quán của miền Nam. Riêng tôi lại cảm phục anh về những nhận xét những câu tả cảnh, tả tình và ngôn ngữ đối thoại của miền Nam thật thú vị biết bao! Và vượt lên trên, với thái độ ngay thẳng, trung thực và sắc bén của anh càng thêm có nhiều người mến phục.
Tôi thấy ngòi bút Thái Quốc Mưu phô diễn một cách trung thực, sắc bén, độc đáo và điển hình qua các nhân vật hay cảnh sắc ở trong nước hay tại hải ngoại. Tôi nghĩ đây là sự tiên thiên chứ không phải do kỳ khu chọn lựa qua suy nghĩ và cảm tính. Đó quả là sự hòa nhập tự nhiên của một con người tài năng, thẳng thắn và tinh tế trong đời sống riêng chung. Mà cũng là sự thu nhận và ứng xử của một cây bút tài hoa khi yêu thương quê hương và tổ quốc thực sự. Ngòi bút trong tay Thái Quốc Mưu đã tự do bay bổng trong suy tưởng riêng mình tới một chân trời phù hợp với bản tính chân thành, ngay thẳng của anh. Tôi nghĩ anh phải yêu thương nhiều lắm với đất nước, đồng bào, đồng hương mới có sự gắn bó, hòa nhập mật thiết với tổ quốc, với văn chương đến thế.
Nếu có ai hỏi tôi nên xếp anh Thái Quốc Mưu vào hệ phái nào trong văn học Việt Nam. Tôi nghĩ, gọi anh là Nhà Văn, Nhà Thơ và Nhà Báo đều đúng với chức năng cơ bản vì đã có những thành công cụ thể.
Anh Thái Quốc Mưu vẫn tiếp tục sáng tác sung mãn. Và tôi nao nức mong đọc những đứa con tinh thần minh mẫn và vượt trội của anh, một cây bút thành công và một nghệ sĩ tài hoa thẳng thắn mà tôi tin tưởng.
Georgia, sơ thu Canh Dần- 2010
Lê Nhật Thăng
***
3. ‘Trong thế giới thượng vàng hạ cám của thơ, tôi bắt gặp Thái Quốc Mưu’… bài của Nhà văn Nguyệt Lãng
Trong thế giới thượng vàng hạ cám của thơ, tôi bắt gặp Thái Quốc Mưu ở đó; tình cờ như một nhân duyên. Qua nhiều năm quen biết, tôi đọc anh rải rác đâu đó trên các trang mạng – không cố hoa bướm cho đẹp câu thơ mà chỉ làm sao biểu lộ cái tình, cái hồn… Có lẽ, đó mới chính là điều anh muốn nói.
Nhiều năm sống ở nước ngoài, Thái Quốc Mưu có cái lịch thiệp phương Tây nhưng vẫn giữ nét chân quê của người đồng ruộng, không chuộng cái hào phóng bên ngoài. Ở xa về, anh đem tặng anh em, bạn bè từng cái dao cạo râu, từng viên biệt dược để trị bịnh, tẵn mẵn như đàn bà, ân cần như một người chị. Gặp bất cứ người quen hay lạ anh không khoe khoang về đời sống của mình (dĩ nhiên là tốt hơn rất nhiều người trong nước), việc ăn uống giản dị, thích những con vật thuỷ sinh và những con vật hai chân; trong đó có… đàn bà – nhứt là những đàn bà đẹp!
Nói như thế nhưng không phải loại đàn bà đẹp nào anh cũng thích nếu họ không có chiều sâu tâm hồn; có thể do một thất bại nào đó khiến lòng anh lúc nào cũng hướng về cái thiện mỹ, đó là sự chân thực và lòng chung thủy. Điều này thể hiện trong nhiều tác phẩm của anh.
Cái tôi khoái nhứt ở anh là, khi đến với nhau anh không đọc, không tặng thơ của anh và không bao giờ đề cập đến việc góp tiền in thơ… (những điều mà tôi rất sợ!), dù anh đã xuất bản rất nhiều sách, văn cũng như thơ; không để làm thành tích mà giống như chuyện của đàn bà: giao hoan, hoài thai và… đẻ! Tự nhiên theo trình tự cuộc sống – thế thôi!
Trong dòng chảy của văn học và giữa cái xô bồ của cuộc sống, Thái Quốc Mưu cứ như là một cánh bèo bình dị, mộc mạc, khiêm tốn nhưng không dễ bị nhấn chìm; dù giữa trường giang hay trong ao tù nước đọng vẫn cứ trôi và nở hoa, lặng lẽ góp phần vào bức tranh cuộc sống. Chưa bao giờ tôi nghe anh nói chuyện văn chương mà chỉ nghe những chuyện khôi hài, những chuyện riêng tư với giọng trầm, ấm, đều đặn như tiếng rỉ rả của một trận mưa dầm đêm quê, như tiếng con ễnh ương “huềnh oang” của vùng châu thổ đầy lá dừa nước và vị lợ của sông. Cũng như, chưa bao giờ tôi nghe anh bình phẩm về ai – người hay văn của họ. Thái Quốc Mưu như đứng ngoài cuộc bon chen nhưng không ngoảnh mặt với những thay đổi của cuộc sống, không đòi hỏi rạch ròi và sự sòng phẳng, thấy chuyện nên làm thì làm…
Tôi có may mắn là được kết giao với cả ba anh em của Thái Quốc Mưu (Liêu Tiên Sinh); (Kha Tiệm Ly (Thái Quốc Tế); A Lý Phượng Tuyền (Thái Quốc Thế Nguyên), dù mỗi người có một tính cách, hoàn cảnh sống khác nhau, ba quan niệm sống khác nhau. Điều nữa mà tôi thích ở Thái Quốc Mưu là sự vô tư của anh, là tính khôi hài và chấp nhận nó một cách hồn nhiên. Ai nói gì cũng không giận, coi sự châm chích là những câu khen! Không phòng thủ, không trả đũa với ai. Ngược lại, anh trân trọng tất cả.
Có lẽ vì sống hồn hậu như thế khiến anh lâu già. Anh trân trọng những bông hoa trong vườn và những bông hoa đã cắm vào bình. Và, cả những bông hoa đã qua đi trong cuộc đời của anh.
Nguyệt Lãng
***
4. Điểm sách: Phía Sau Cuộc Đời của Thái Quốc Mưu
Tác giả: Diên Nghị
Đức Khổng Tử nói: “Nhân chi sơ, tính bản thiện.” Căn bản con người là lành. Trong đời sống, con người luôn nhận thức: “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo. Cao phi viễn tẩu dã nan tàng.” Làm lành, làm ác sẽ có hậu quả. Tương ứng. Cao chạy xa bay cũng không thoát khỏi lưới trời. Giữa thực tế xã hội, con người phải đấu tranh để tồn tại. Đấu tranh không ngừng với thiên nhiên, với mâu thuẫn xã hội, với tất cả những gì mà con người cảm nhận không phù hợp với tính người. Những va chạm, xung đột người và người, phe nhóm khác biệt tư tưởng, chính kiến xảy ra là điều bình thường. Con người là chủ thể và trách nhiệm bão hòa tình huống liên quan, đóng góp xây dựng vào sinh hoạt đời sống đúng nghĩa mưu cầu hạnh phúc, tạo ổn định an vui, người với người là bạn. Ước mơ về lý tưởng đời sống không hoàn toàn laic quan. Cuộc đời là bể khổ, thế nên đức tin tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong hành trình hiện hữu của con người.
Thái Quốc Mưu với Phía Sau Cuộc Đời, quẩn quanh tìm kiếm, nhận diện đời sống, phác họa thực trạng phức tạp của con người giữa xã hội hải ngoại từ sau cuộc đổi dòng lịch sử Việt Nam. Lớp người may mắn nhanh chân đến đất tỵ nạn sớm nhất, cho đến những người cuối cùng cũng được giải quyết ổn thỏa, lần lượt hiện hữu đưa ánh sáng nhân đạo của thế giới văn minh, tự do.
Hai nhân vật nữ, bà Ngọc Ánh và Bích Hoa có chung mẫu số, góa bụa lứa tuổi hồi xuân. Họ tôn trọng truyền thống đạo đức gia đình, phát huy đức tin tôn giáo.
Trước cám dỗ tình yêu, bà Ngọc Aùnh có phấn đấu, che đậy phần tư riêng tình cảm, để người con gái duy nhất tuổi sinh viên tin cậy tình mẫu tử là tấm gương ngời sáng chan hòa, chiếu rọi tương lai của con. Bà thường quỳ trước tượng Chúa, cầu xin giúp bà đừng phạm giới luật. Nhưng Thiên Chúa chỉ ban lời răn dạy vàng ngọc, không đủ sức mạnh ngăn chặn, chế tài nên bà Ngọc Áønh trung thành ơn Chúa vẫn không tránh khỏi phút mềm lòng vốn có của phụ nữ xưa nay, nhất là giữa xã hội tạm dung, no đầy vật chất, người đi vào đời bà là David, người đàn ông Mỹ săn đón, nuông chiều bà rất mực khiến bà không còn nghĩ đến gì nữa, dù cảm thấy tình yêu có thể chẳng đến nơi ước hẹn.
Bà Bích Hoa, bạn thân của bà Ngọc Ánh, được ông bồ Việt tên Phong yêu thương tha thiết. Sự giằng co giữa nhu cầu xác thịt và quan điểm truyền thống đạo đức đối với người con duy nhất, buộc phải kéo dài cuộc tình vụn trộm, cho đến khi Bích Loan, con gái bà Bích Hoa ra trường, theo chồng, xa mẹ, Bích Loan nhận thức rõ ràng nỗi cô đơn của người mẹ, người đàn bà góa bụa cần có người đàn ông làm nơi nương tựa.
Bà Ngọc Áønh cũng cùng hoàn cảnh tương tự. Bà trông cậy Đấng Cứu Thế tha thứ mỗi lần lầm lỗi, sa ngã.
Trên cõi đời ô trọc nầy, chẳng có gì tuyệt đối. Những người phụ nữ góa bụa như bà thèm khát vòng tay ấm áp của đàn ông nên cũng đã nhiều lần “nhắm mắt đưa chân” là vậy.
Thế hệ con cái của bà Ngọc Áønh và Bích Hoa sống động, may mắn trên đất tự do, thành đạt học hành, giao tiếp với bạn bè nam nữ trong khuôn khổ lễ giáo tiếp nhận từ người mẹ, làm tròn bổn phận dạy dỗ, xây dựng cho con thành người hữu ích cho xã hội, cả trí thức lẫn đạo đức. Tuổi trẻ nếu có ảnh hưởng trong chừng mực nào đó trong văn hóa xứ người, thì cách tiếp nhận có chọn lọc, nhất định không đánh mất bản sắc dân tộc.
Nhiều thành phần khác được tác giả phác họa hình dáng khôi hài, rởm lợm của những con người thiếu ý thức thân phận mình, kể cả những người khoác áo tu hành.
Một bác sĩ như bác sĩ Hiền, sợ vợ đối xử tàn tệ với bậc sinh thành coi “nóc nhà xa hơn chợ” và một vài bác sĩ khác lợi dụng chức năng chuyên môn sờ mó đàn bà, những thân chủ đến khám bệnh, tệ hơn nữa, những tên trước 1975, ở quê nhà chỉ trợ lý y tá, nay tự xưng là bác sĩ không hề hỗ thẹn.
Nhà địa ốc Trương Tuấn, ít học, lại có vẻ bề ngoài, chôm được một nữ bác sĩ. Dù cuộc sống vật chất đầy đủ, ổn định, nhưng không lấp liếm được bản chất mất dạy, hỗn láo với trưởng thượng, tha nhân.
Những con mẹ như Hường, Thơm ngày trước xuất thân gái bán bar, nay qua Mỹ gặp may, vớ được ông chồng da đen, có nhà cửa do người vợ trước để lại, lên mặt, đố kỵ như muốn rửa mặc cảm quá khứ.
Không thiếu tu sĩ các tôn giáo trước 1975 tại quê nhà đã lợi dụng đức tin giáo dân, tín đồ, làm chỗ dựa sức mạnh, gây áp lực với chánh quyền, yêu sách buộc chánh quyền địa phương phải theo ý đồ của họ, tìm kiếm lợi lộc riêng tu, bè nhóm:
“Ở một vài nơi, một số nhà tu tự coi mình là lãnh chúa, họ khống chế chính quyền địa phương trên nhiều phương diện và biến vùng đất họ thành nơi bất khả xâm phạm. Họ bao che, chứa chấp thanh niên trốn quân dịch, lính đào ngũ. Thậm chí cả những cán binh, cán bộ Cộng sản nằm vùng. Vì lợi ích riêng tư, họ thẳng tay can thiệp vào tình hình an ninh quốc gia. Họ can thiệp với chính quyền buộc trả tự do cho những cán binh Cộng sản bị bắt giữ theo yêu cầu của chúng. Những vị lãnh đạo chánh quyền địa phương thẳng thắn, công minh, đặt tách nhiệm quyền lợi dân tộc và quốc gia trên hết, khước từ những yêu sách ấy thì bị những ông tu sĩ loại ấy sách động biểu tình, gây mất an ninh trật tự hoặc dùng chữ ký của giáo dân, tín đồ lập kiến nghị gởi về trung ương rằng bất tín nhiệm và đề nghị thuyên chuyển với lý do không được lòng dân.
Thời đó, không thiếu những cán binh Việt cộng trá hình được cài vào, hoặc xâm nhập vào các tôn giáo từ khi còn để chỏm, khi lớn dần và lúc nắm được quyền lãnh đạo tôn giáo thì thẳng tay đánh phá chánh quyền hoặc làm ung thối giáo hội, làm mất niềm tin của giáo dân, tín đồ với các vị tu sĩ chân chính bằng những hành vi dâm đãng, chè chén, bạc bài, hối lộ và những hành vi phi nhân bản khác…”
Sự tương quan và khác biệt về những buổi sinh hoạt của công đồng Việt với cộng đồng Mỹ cũng được ghi nhận để thấy những điều lạc hậu của “phe ta”. Điển hình, dự họp hành, lễ lạt hay cưới xin. Không biết tôn trọng giờ giấc, ít ai đến đúng giờ quy định. Tiệc cưới mời lúc sáu giờ chiều, không ít người đợi đến chín giờ mới tới. Sự vô ý thức đó dẫn đến nhiều khó khăn, trở ngại. Giới thiệu quan khách thì lê thê dài dòng. Rồi cô dâu, chú rể phải đi chào bàn, giống như ngầm ý buộc khách “lì xì” hoặc nhắc khéo “con chúng tôi lập gia đình, mình quý vị đến ăn, quý vị tặng gì đây?” Rồi nghi thức cắt bánh cưới ở sau cùng. Đợi đến phút cắt bánh, chàng và nàng cầm tay, chỉ còn lại lác đác vài người, tẻ nhạt, vì đa số khách tham dự, sau khi đã trả xong món nợ nhậu nhẹt đã lần lượt rút êm vì đã quá giờ!
Sinh hoạt công đồng, số người tham dự không đếm đủ một hơi dài. Ban tổ chức giới thiệu thành phần tham dự chỉ nghe hết ông chủ tịch nầy đến ông chủ tịch khác, toàn là quan chức. Giới báo chí truyền thông thi nhau chũi bới chẳng tiếc lời. Tồi tệ hơn, có kẻ còn đánh phá xuyên tạc, vu khống các thương chủ chỉ vì bị khước từ quảng cáo. Hoặc tự tiện đăng quảng cáo vài kỳ, sau đó đặt yêu sách, nếu không thỏa mãn thì viết bài xuyên tạc, chụp mũ.
Còn địa hạt văn học, không thiếu những kẻ tham danh, bất kể liêm sỉ, lấy thơ văn, bút hiệu người khác tự nhận là của mình. Tác giả đưa ra bài thơ làm chứng. Bài “Phù Hoa” đã đăng trên bán nguyệt san Đuốc Từ Bi của Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Việt Nam và trên tạp chí Phổ Thông của Nguyễn Vĩ trước năm 1975:
Về một nẻo không là một nẻo.
Đến một nơi không phải một nơi.
Bước chân mộng ảo xa rời.
Bao giờ là cả tuyệt vời mai sao!
Nói bởi nói lời nguôi đau đớn.
Cười như cười máu gợn đầu môi.
Đi, về hai bước hai nơi.
Chia hai bờ cõi, một đời phù hoa.
Thân dị dạng đi qua sương khói.
Để lại đâu lời ní ban đầu
Hoa trôi, nước chảy qua cầu.
Hỡi dòng lai khứ có màu tuyết sương.
Ông Đỗ Hùng (tức Đỗ Thanh Hùng, người Thiên Chúa giáo – ghi chú trong ngoặc của Thái Quốc Mưu), tưởng rằng không ai nhớ bèn cuỗm, đổi tên “Vô Thường” đăng trên Việt Báo Miền Nam ở New Orleans năm 1996 hay 1997 gì đó, chỉ có khác là ngắt câu và bốn chữ cuối cùng:
Về một nẻo.
Không là một nẻo.
Đến một nơi.
Không phải một nơi.
Bước chân mộng ảo xa rời.
Bao giờ là cả cuộc đời mai sau?
Nói bởi nói,
Lới nguôi đau đớn
Cười như cười.
Máu gợn đầu môi
Đi, về hai bước hai nơi.
Chia hai bờ cõi, một đời phù hoa.
Thân dị dạng.
Đi trong sương khói.
Để lại đâu
Lới nói ban đầu.
Hoa trôi nước chảy qua cầu.
Hỡi dòng lai khứ, hỡi câu vô thường.
Một nhân vật đặc biệt nữa. Lão Hải Nổ, được giới văn học tặng cho hỗn danh “Mập Thối Mồm”. Chính lão đã phá hoại nền phong hóa tốt đẹp của dân tộc, bằng hành vi nay dẫn bà nầy, mai dắt bà kia nhởn nhơ trước mọi người, và bà nào cũng được giới thiệu “vợ tôi!” Lão Mập Thối Mồm và lão trộm cắp văn thơ, mạo nhận danh nghĩa bác sĩ gạt người và những kẻ gần gũi giao tiếp với hai lão nầy dĩ nhiên không xứng đáng được mọi người tôn trọng.
Sự tôn trọng con người không phải chỉ vì tuổi tác, địa vị, danh vọng, gàu sang mà do tác phong, phẩm chất, công lao họ đóng góp vào cộng đồng nhân loại. Cũng như giới tu sĩ, không nhất thiết thấy ai mặc áo nhà tu là phải tôn trọng, chỉ tôn trọng tinh thần đạo đức, nhân cách. Những tên Thạch Đầu Đà, Pharisiêu giả hình, đội lốt phải được phát hiện, chỉ tên để tránh cho các giáo hội những con sâu bệnh hoạn, truyền lây, di hại.
Thái Quốc Mưu minh họa bức tranh với màu sắc xã hội trung thực, dễ dàng bắt gặp ở nhiều địa phương có cộng đồng Việt Nam tị nạn Cộng sản trên lục địa Hoa Kỳ. Ông vạch trần sự xấu xa, tởm lợm những người chung quanh, trước mắt, vô tình hay cố ý đánh mất nhân cách, những kẻ sùng bái hư danh, ích kỷ, vụ lợi phương hại đến tha nhân.
Tác giả tố cáo nhưng không đả phá, công khái trước ánh sáng dư luận với ý hướng dẫn xây dựng, để người xấu tự suy, tự tỉnh, lấp bỏ những khiếm khuyết trở về với thực tế tròn đầy hơn.
Từ giác ngô tương quan giữa văn học và xã hội, nhà văn không chỉ tô hồng chuốt lục cái đẹp, cái hay, phải can đảm hoàn thành chức năng phô bày cái xấu, cái dở của con người hoặc cộng đồng người, cùng những hiện tượng quái dị, có phương hại đến tinh thần, đạo lý và truyền thống dân tộc. Thái Quốc Mưu đã thực hiện được qua tập phóng sự tiểu thuyết “Phía Sau Cuộc Đời”. Đi sâu vào lòng xã hội, tìm kiếm những sự kiện, phát hiện những hiện tượng bằng bút pháp sinh động, mạch lạc, bằng ngôn ngữ súc tích, diễn đạt từng trạng huống và tâm lý nhân vật.
Bài học cuộc đời thật đắt giá và công phu. Con người được sống là… sống với hài hòa và chia sẻ, nương nhờ và tin cậy trước những bể dâu hệ lụy, đã có Đấng Quyền Năng Tối Thượng sáng suốt phán quyết và sẵn sàng tha thứ cứu rỗi cho con người có đức tin linh hồn.
Diên Nghị
***
5. Đọc Thơ Tứ Tuyệt Thái Quốc Mưu
Như Hoa LÊ QUANG SINH
Hội Trưởng Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại
Cuối năm 2008, Nhà thơ Thái Quốc Mưu gởi tặng tôi một loạt 6 tập sách vừa mới xuất bản gồm cả văn xuôi lẫn văn vần trong đó có tập Thơ Đường Luật Thái Quốc Mưu và tập Thơ Tứ Tuyệt Thái Quốc Mưu. Là người bạn cùng hội cùng thuyền, tôi muốn viết vài dòng để giới thiệu với độc giả bốn phương một trong hai tác phẩm thơ của anh như một chút tình văn nghệ kỷ niệm với nhau… Tập thơ Tứ Tuyệt của anh thu hút sự chú ý của tôi qua hình bìa trước trình bày chân dung tác giả mặc y phục cổ truyền Việt Nam với khăn đóng, áo gấm màu xanh vàng rực rỡ.
Nói đến thơ Đường Luật, hay thơ Tứ Tuyệt, chúng tôi được biết có hai người cũng rất chuyên về loại thơ nầy, đó là nhà thơ Hồ Công Tâm và nhà thơ Như Đăng. Tôi không sính làm những loại thơ này, nhưng thích đọc và thưởng lãm bởi lẽ nó ngắn gọn, súc tích mang nhiều ý nghĩa sâu sắc thâm trầm mà không phải dành nhiều thì giờ để đọc như những bài thơ dài nhiều khổ khác. Riêng tác giả Thái Quốc Mưu, ông vừa là nhà thơ, nhà văn vừa là nhà báo; ông sáng tác rất mạnh và đã xuất bản nhiều tác phẩm thơ văn. Đồng thời ông rất tích cực tham gia nhiều hội thơ, và đăng thơ trên 25 tác phẩm văn học và trên 50 tạp chí. Những tác phẩm ông đã xuất bản: Gió Quyện Hương Đồng, thơ – văn, 1998; Phía Sau Cuộc Đời, văn, 1999; Kỷ Vật Cho Đời, thơ, 2007; Như Giọt Sương Sa, thơ, 2008; Truyện Ngắn Thái Quốc Mưu, 2008; Thơ Đường Luật Thái Quốc Mưu, 2008; Tản Mạn (chuyện vặt đời thường), 2008. Ông thích đi du lịch, đi nhiều nơi từ Mỹ Châu, Á Châu đến Âu Châu, có lẻ Phi Châu ông chưa đặt chân đến; nhưng nếu có cơ hội, tôi nghĩ ông cũng sẽ đi thăm vài nước của chủng tộc da đen để có nguồn cảm hứng viết lách.
Tác giả đi nhiều, tiếp xúc nhiều, nên viết nhiều về những vấn đề tiêu biểu cho cuộc sống đời thường liên quan đến gia đình, xã hội, thiên nhiên… Nơi nào đi qua ông đều ghi lại vài nét chấm phá tả cảnh tả tình. Chỉ với bốn câu thôi (tứ tuyệt) ông có thể bộc bạch trọn vẹn tâm tư tình cảm của mình một cách sâu sắc, thâm thúy.
Mở đầu tập thơ, ông tự soi mình trong gương để tìm xem sau bao nhiêu năm vật lộn với đời -chiến tranh, cơm áo, trái ngang tình đời, con người mình có còn là mình của những năm xưa không. Nhưng rồi ông quá thất vọng, té ra mọi sự đã đổi thay:
“Soi gương tìm sợi tóc sâu
Mới hay mái tóc trên đầu điểm sương
Giựt mình đánh vỡ chiếc gương
Nát tan cái mặt tang thương cuộc đời !
(Soi Gưong 1)”.
“Soi gương đối bóng một mình
Tuổi vừa ba chín, tưởng chừng năm mươi
Tóc xanh hơn nửa trắng rồi
Đôi gò má trổ da mồi nám đen
(Soi Gưong 2)”
Vài năm sau ông lại “Đối Bóng” lần nữa để xem mình còn phải là mình không:
“ Trước gương ta bỗng nực cười
Trong gương ai lộng một người xác xơ!
Mắt thâm, vóc dáng bơ phờ
Người đâu ta lại cứ ngờ ngợ quen !”.
Với những lần soi gương, đối bóng, ông phát hiện ra thân phận mình dính liền với cuộc đời phù du dâu bể chóng qua chóng hết thúc đẩy ông đi tìm một nhân sinh quan mở đường cho một nếp sống mới. Ông thấy thời gian đi nhanh quá, phút chốc mà cuộc đời đã đổi thay, thay đổi:
“Bao năm trôi dạt xứ người
Xác thân phờ phạc, nửa đời điêu linh
Soi gương thất thảm, hồn kinh
Tóc râu bạc trắng – Như mình trắng tay
(Tự Tình)”.
Hoặc là:
“ Bốn năm bữa chẳng ra nhà
Nào hay ngoài ngõ trời đà sang thu
Chu kỳ trời đất qua mau
Cuộc đời phút chốc trắng phau mái đầu
(Thời Gian)”.
Sau khi nhận thức về thân phận mình, ông đi sâu hơn vào thế sự nhân tình, mổ xẻ những tình cảm tinh tế của con người, và mô tả cảm xúc của ông trước sự vật chung quanh ông. Ông nêu lên nỗi đau xót của người dân xa xứ sống nơi đất khách quê người, cũng như xót xa cho cảnh khổ cực trái ngang của đồng bào trong nước:
“Ta như ngọn nước thủy triều
Trong cơn sóng bủa sớm chiều nổi trôi
Một thân hai nửa cuộc đời
Nửa nơi đất khách, nửa trời quê hương
(Một thân, hai nửa)”.
“Bao nhiêu năm làm thân lạc xứ
Ta còn gì ? Ngoài mái tóc, màu da?
Xuôi ngược dòng đời – Trên đất lạ
Cháu con mình -Mất cội rễ ông cha !
(Nỗi Đau)”.
“Bà già sáu chục, chết chồng,
Moi móc đống rác kiếm từng bữa ăn.
Chẳng thương thân phận bần cùng,
Quan to chỉ biết tiệc tùng, gái tơ
(Những Mảnh Đời Đau Thương)”.
“Bảng ghi: “Ghế dành người già,
Kẻ tàn tật với quý bà mang thai”
Ghế ngồi những gái cùng trai
Thì ra, Trai tàn tật, gái mang thai quá nhiều!
(Chuyện Trên Xe Buýt)”.
Sau quá trình biểu lộ tâm sự mình với quê hương, chia sẻ nỗi cùng cực của đồng bào ruột thịt trong nước, tác giả Thái Quốc Mưu không giấu nổi cái bản chất khôi hài của ông trong những vần thơ rất dí dõm và cũng rất lãng mạn:
“Máy kim hoạt động đêm ngày
Dọc ngang, lên xuống chỉ hoài ngay ơ
Của tôi đồ cổ tảng lờ…
Sớm hôm cứ chỉ sáu giờ ba mươi!
(Đồng Hồ Cổ)”.
“Súng người bắn nổ rầm rầm
Súng tôi gỉ sét để nằm trong kho
Tằn mằn lau lại – Buồn xo!
Thì ra cái bộ máy cò đã hư!
(Súng Hư)”.
“Lão già sáu mấy…Còn sung!
Về nước cưới gái lòng xuân rộn ràng
Mô-tô, nhà cửa… cho nàng
Qua Mỹ – Về lại -Nghiến răng, nghẹn lời!
(Trót Dại)”.
“Bà già dấm dắn dấm da
Buồn tình dấm dứ dấm dơ một mình
Neo thuyền bến vắng buồn tênh
Thèm cơn sóng vỗ xuống lên dập dồn
(Bà Lão Yêu Đời)”.
“Ông già hì hục hì hà
Mệt lử mà cũng hề hà hễ ha
Yêu đời hí hửng hí ha
Thở phì phò vẫn hỉ ha hì hà!
(Ông Lão Yêu Đời”.
Trong tập Tứ Tuyệt này, thơ Thái Quốc Mưu biểu thị tinh thần phóng khoáng, lãng tử, đồng thời hàm chứa bàng bạc bên trong những tình cảm buông thả lãng mạn… Nhưng dù có lang bạt giang hồ đi khắp đó đây, ông cũng không quên cội nguồn, thể hiện qua gia đình, cha mẹ, vợ con, và quê hương Việt Nam”.
“Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Cha mẹ gánh gồng nuôi cả đàn con
Bây giờ con cái lớn khôn
Mẹ cha – Chiếc bóng hoàng hôn cuối trời.
(Mẹ, Cha)”.
“Bên hè có bụi mồng tơi
Mẹ ra hái lá nấu nồi canh tôm
Ngồi nhìn đứa trẻ ngon cơm
Nhai trầu mẹ giấu nỗi buồn cô đơn !
(Bà Mẹ Góa)”.
“Gàu dai múc xuống đổ lên
Bốn giây ta kéo, giữa mình với ta!
Múc đầy mình lại đổ ra
Bốn dây nắm kéo, tình ta với mình!
(Vợ Chồng Tát Đìa)”.
“Phạm điều cấm kỵ mẹ cha
Cúi nằm sát ván thịt da nổi lằn
Làn roi kết hợp lời răn
Ơn cha nghĩa mẹ nặng quằn đời con
(Bị Roi Đòn)”.
Ông khẳng định mảnh đất quê hương là nơi an nghĩ cuối cùng của đời ông:
“Quê nhà xa lắc xa lơ
Gót chân đất khách bụi mờ thời gian
Chỉ còn một mớ hành trang
Là đem cái nắm xương tàn về quê !
(Nỗi Đau)”.
Dù đời có đãi ngộ ông bao nhiêu đi nữa thì ông cũng chưa hoàn toàn mãn nguyện, bởi lẽ ông vẫn còn bị cuốn hút vào một hoài bảo, một ước mơ tha thiết nhất đời ông là được làm một con người xứng đáng đứng giữa đất trời…:
“Mặc ai mơ ước Thiên Đàng,
Mặc ai mơ cõi Niết Bàn… xa xôi!
Tôi sinh ra giữa Đất Trời,
Chỉ mong làm được “Con Người” – Viết hoa !
(Niềm Mơ Ước Vĩ Đại Của Tôi)”.
Viết văn đã khó, làm thơ càng khó hơn; nhất là thơ Đường Luật hay thơ Tứ Tuyệt, bởi nó bị ràng buộc bởi niêm luật nhất định, ngắn gọn, ít chữ, ít lời mà diễn tả được nhiều ý tứ hàm súc. Tác giả Thái Quốc Mưu đã bỏ nhiều tâm huyết vào tập thơ Tứ Tuyệt của ông và ông đã thành công.
Đầu Xuân Kỷ Sửu 2009
Như Hoa, Lê Quang Sinh
Hội Trưởng Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại
***
6. Thi ca thi nhân, Thái Quốc Mưu và Thơ Đường
Người viết: M.loanhoasử
Thái Quốc Mưu vừa là tên thật vừa là bút hiệu, ngoài ra ông còn dùng thêm bút danh Liêu Tần Tử, Bằng Giang, Liêu Tiên Sinh. Ông sanh năm 1941, tại tỉnh Kiến Hoà, chức vụ cuối cùng Quyền chủ sự phòng nhân viên chính ngạch tỉnh Long Khánh.
Thơ văn của ông hiện diện chung với các văn thi sĩ hải ngoại, gồm có 25 tác phẩm, riêng ông thì thơ và văn khoảng trên 10 tác phẩm. Ông và gia đình hiện cư ngụ tại tiểu bang Goergia, Hoa Kỳ
*
Tôi còn nhớ vào khoảng năm 1956/57 tôi học lớp đệ ngũ ở trường trung học Trần Quốc Tuấn Quảng Ngãi, có một hôm tôi vào một tiệm sách, vô tình tôi cầm và lật lật vài trang cuốn thơ Đường, phần nhập đề như sau ;
– “Bàn về thơ Đường không ai muốn bàn! Nói về thơ Đường không ai muốn nghe! Làm thơ Đường đăng báo thì không ai muốn đọc! Vậy thơ Đường là cái gì?”
Tôi gập quyển sách, nhìn tên tác giả là Hư Chu, tôi bèn mua cuốn thơ Đường này, giáo sư Hư Chu viết văn nghị luận hay thật! Bây giờ cũng trên 50 năm rồi, có lẽ theo thời gian tôi đã quên hết.
Đọc thơ Đường của Thái Quốc Mưu, từ loại thơ Thất Ngôn cho đến thơ Tứ Tuyệt mấy cuốn, thì cũng công nhận là lão thi sĩ Hà Thượng Nhân trên 90 tuổi nhận xét quá đúng:
– “Vậy thì thơ nào cũng có giá trị cuả nó! Miễn là nó hay, miễn là ngươì thơ sử dụng nó một cách thoả mái. Thơ của Thái Quốc Mưu rất tề chỉnh, vần luật tề chỉnh, đối ngẫu tề chỉnh. Ở nước ngoài còn được đọc những tập thơ như thơ Thái Quốc Mưu kể ra cũng là điều rất an ủi.
Tôi mong anh thành công, 68 tuôỉ còn rất trẻ ở thời đại bây giờ. (Hà Thượng Nhân, San Jose tháng 11 năm 2007).
Vào đầu thập niên 90, theo như bài viết cuả giáo sư Lê Bá Kông đi du lịch Hồng Kông, Hoa Lục, Đài Loan trở về Mỹ, giáo sư có viết một bài “giống như một bài du ký”. Đại khái là tất cả các nhà cửa phố xá ở xứ sở nơi này, trước cửa nhà đều có treo chữ “Phúc”, chữ Phúc được chiết tự theo nghĩa bây giờ:
“Bên trái là Bộ Kỳ, có nghĩa là thờ “thần đất”, moị người đều được tự do thờ phụng, tự do tôn giáo.”
“Bên phải trên cùng là chữ Nhất (một nét ngang) “có nghiã là mọi người đều được tự do bình đẳng ngang nhau.”
“Dưới nét ngang chữ nhất là chữ “Khẩu”, có nghĩa con người được tự do ngôn luận, tự do phát biểu.”
“Và dưới cùng là chữ Điền, nghĩa là ruộng đất, có nghĩa là ai ai cũng có của tư hữu, tài sản riêng.”
Và sau đó, năm 2000, thành phố tô giới Hồng Kông thuộc về Hoa Lục.
Cũng trong suy nghĩ này, năm 1946/1947, ở Pháp phát sinh phong trào làm thơ Tự Do, từ các thi si Jacques Pre’vert , Paul E’luard , Aragon… có nghiã là thoát khỏi sự xâm lăng cuả Phát Xít Đức Quốc Xã. Thơ tự do là một loại thơ khoáng đạt, thoải mái, nghĩ sao làm vậy, không câu thúc bởi luật lệ (?), câu ngắn câu dài tuỳ ý, tuy nhiên có đựợc tiếp nhận nồng hậu cuả quần chúng hay không lại tùy người đọc!
*
Cũng không lạ gì, sau năm 1990 thì ở Hồng Kông phim ảnh sản xuất liên tục tràn hà phim Bao Công (tức Bao Thanh Thiên), với phim Bộ vài chục cuốn (rất nhiều bộ khác nhau), và phim lẻ từ một đến ba bốn cuốn, với đại hiệp Triểu Chiêu, cùng Dương Triều, Mã Hán, Trương Long, Triệu Hổ… chiếu dài dài đến năm sáu năm chưa dứt! Những bộ phim nói lên sự luật pháp công bằng thời nhà Đại Tống, cửa Phủ, Huyện lúc nào cũng mở cửa, chỉ cần gióng lên một hồi trống, là viên chức của nhà nước sẵn sàng đăng đàn để tiếp dân, và câu nói đầu tiên của dân gian “vua phạm tội xử như thường dân”. Trong một chế độ thượng tôn pháp luật, đây chỉ là một sự cảnh báo vơí các chế độ hiện hành, nên noi theo sự tốt đẹp của các chế độ phong kiến thời trước. Và thơ Đường thì cũng ở dạng này, nhà Đường tuy là một chế độ phong kiến, nhưng dân an hưởng thái bình, cơm no áo ấm, vua thì minh quân, quan thì trung dũng, nơi nơi tự do an lạc. Vua cũng làm thơ, nào thất hiền, nào bát tiên, các thi nhân làm thơ Đường nổi tiếng cả ngàn người, dân chúng làm thơ Đường tự do xướng họa… Chả ai bắt bớ, chả ai cấm ngăn, chả ai bị bỏ tù. Ôi, một thời vàng son!
Chuyện làm thơ là chuyện tự do của con người, chả có lý do gì để cấm đoán. Sau khi trà dư tửu hậu, thì làm thơ di dưỡng tâm tình, làm thơ xướng họa, đó là một cái quyền tối thượng cuả con người. Có những chế độ, kẻ cầm quyền là kẻ ít học, biến thi ca thành ra vè, để ca tụng lãnh tụ, thành một nhu cầu cung văn nịnh hót kiếm cơm…
Thơ Đường là thơ có “Đường”, ngọt ngào tính đến bây giờ cũng gần 13 thế kỷ, lúc nào cũng hay, lúc nào cũng tồn tại… Xin giới thiệu thơ Đường Luật cuả thi sĩ Thái Quốc Mưu để độc giả thưởng lãm. Chúng tôi chỉ làm công việc cuả M.C giới thiệu tác giả đến với bạn đọc thơ Đường Thái Quốc Mưu, hay hoặc dở là quyền cảm nhận cuả độc giả. Sau đây là những bài thơ tuyệt vời trích đoạn để giơí thiệu cùng bạn đọc:
Nguyên tác Thôi Hiệu
ĐỂ TÍCH SỞ KIẾN XỨ
Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ ?
Đào hoa như cựu, tiếu đông phong .
(Thôi Hiệu)
Thái Quốc Mưu, phỏng dịch Bài Đề Tích Sở Kiến Xứ cuả Thôi Hiệu:
VIẾNG CHỐN XƯA
Ngày này, năm ngoái ghé đây ,
Má hồng thôn nữ hây hây hoa đào.
Hôm nay cô gái năm nào…
vắng tăm – Để cánh hoa đào giỡn đông !
Atlanta , August ,28.2000
CHUYỆN HỮU VÔ
Bãi cát nằm im dưới ánh trăng
Biển dâng sóng bủa ngập ven bờ
Xoá tan những dấu đời trên cát
dấu cát, kiếp ngươì – Chuyện hữu, vô!
Atlanta, Sept ,5.2007
DỰNG BIA ĐỜI
Ta đi bão quật đời tan tác
Chén rượu cay sè bật máu môi
Ta vắt máu tim làm bút mực
Đập tan bia đá, dựng bia đời!
Atlanta , Jan,18.2008
SÂN KHẤU 1
Màn đã buông rồi, hết cuộc chơi
kẻ thì đem bán kẻ mua vui
Buồn riêng kẻ ở lao son phấn
Thất thểu người ra với chợ đời
Atlanta , Feb , 19.2008
BAO THANH THIÊN (Bao Công)
Muôn việc thị phi, một tấc lòng
Ngày nay còn được mấy Bao Công?
Một vầng bán nguyệt soi trời đất,
Ba cỗ đầu đao * dậy núi sông!
Công lý không chê phường áo vải,
Long đầu * há ngại máu vương tông?
Tấm gương kim cổ khi mờ tỏ
Hỡi kẻ cầm cân – Biết thẹn không?
Atlanta , Nov ,11.2008
*ba cỗ đầu đao: Long đầu (dùng chém. bọn hoàng thân quốc thích phạm tội), Hổ đầu (để chém bọn công thần phạm tội), Cẩu đầu để chém dân thường và bọn quan lại phạm tội nặng)
TIỄN GIÁO SƯ LÊ BÁ KÔNG
Bài 1
Được tin thầy *mất, ngỡ nằm mơ,
Thoát cái, Người đi khuất bụi mờ.
“Dòng Mực Ly Hương” ngời nét bút,
Tinh thần “Hưng Quốc”, rạng lời thơ.
Văn chương sự nghiệp còn bay tỏa.
Chiếc bóng thời gian vụt xoá nhòa.
Nuối tiếc người đi không trở lại,
Ta ngồi nhỏ lệ khóc thành thơ!
THAN NGHÈO
Ai biết cho chăng cái cảnh nghèo!
Một đồng kiếm được, chín đồng tiêu
No cơm tẻ ngắt khoanh khoai sắn,
Ấm áo te tua mảnh giấy diều.
Kín cửa phên thưa phòng gió lạnh
Che mưa lá rách lợp chòi xiêu
Đã sinh ra đứng trong trời đất,
Ai biết cho chăng cái cảnh nghèo?
Long Khánh , Xuân 1983
DẶN LÒNG
Ta đứng riêng ta một góc trời,
Hứng thì thi, phú để làm vui.
Chợ đời, ngõ lợi ngươi chen chúc,
Ngọn bút tháng ngày, chốn thảnh thơi!
Quên hẳn cái trò bôi trát bẩn,
Tảng lờ những chuyện đấu tranh tồi.
Thiệt hơn, thua, được đều hư ảo
Sống chẳng nhơ danh, chẳng hổ đời .
Atlanta . August 22, 8, 2003
M.loanhoasử
***
7. Thơ Đường Luật của Thái Quốc Mưu
Nhận định của Thi Lão Hà Thượng Nhân
Tôi làm thơ cách đây đã trên 70 năm và cũng có vài chục bài thơ viết theo luật Đường. Đây là một thể thơ ngày xưa được dùng trong trường ốc. Vì thế có những phép tắc riêng – Người xưa gọi đó là “trói voi bỏ rọ.”
Tôi nhớ lại một chuyện, ngày mới đi tù cải tạo về, tôi được vợ chồng nhà thơ Đông Hồ – Mộng Tuyết mời ăn cơm với những anh chị em nghệ sĩ còn ở lại Sàigòn. Trong tiệc, vợ anh đại tá Nguyễn Sùng, nguyên giám đốc Nha Quân Nhu, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa (hiện ở Pháp), đứng lên hỏi, “Hôm nay nhân có anh Hà Thượng Nhân mới về, tôi xin được hỏi anh một câu.” Rồi chị tiếp: “Ngày trước tôi có làm một bài luật Đường thi Vịnh Hòn Non Bộ. Ông cụ tôi (là cụ tiến sĩ Nguyễn văn Bản) cho là không đạt, tôi xin đọc để hỏi ý kiến các anh, các chị.” Rồi chị đọc (Tôi tiếc, lâu ngày không còn nhớ bài thơ nầy). “Tôi xin mời anh chị em phát biểu ý kiến.” Một anh bạn đứng lên, tôi nhớ hình như là anh Văn, nguyên tỉnh trưởng Ban Mê Thuột thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, đứng dậy, hướng về tôi và nói: “Chị Sùng hỏi anh và anh chị em chúng tôi cũng muốn hỏi anh Nhân vừa về.” Tôi đáp: “Anh đã nói thế thì tôi xin phép được trả lời. Cụ thân sinh chị Sùng là một ông Nghè – Lời phê bình của cụ là lời phê bình của giám khảo trường thi. Theo quan niệm trường ốc thì khai, thừa, thực, luận, kết phải phân minh. Có lẽ ở 4 câu thực và luận của chị không phân minh cho nên cụ nói như vậy!”
Chị Sùng reo lên: “Đúng quá!” Tôi nói tiếp: “Nhưng nhận xét của cụ là nhận xét của trường ốc, nơi đào tạo các ông Cử, ông Nghè. Chúng ta không làm thơ để trở thành ông Cử, ông Nghè, mà để trở thành thi sĩ. Vậy chúng ta chỉ cốt ý lòng thành và hồn thơ mà thôi.
Ngày trước, cụ Tôn Thất Lương, giáo sư trường Quốc Học Huế, trong một bữa rượu có nói với tôi: “Trong những kẻ làm thơ luật bây giờ chỉ có ông!” Tôi hỏi lại: “Thế còn Quách Tấn?” Cụ nói liền: “Quách Tấn không thông thạo Hán văn!” Rồi cụ dẫn chứng: “Từ Ô y hạng rủ rê sang.” Ô y là chỗ ở của mấy nhà quyền quý họ Vương, họ Tạ, họ hàng con cháu họ thường mặc áo đen. Áo đen chứ có phải là quạ đâu?”
Tôi thưa: “Thưa cụ, anh Quách Tấn có lẽ cũng biết điều nầy, nhưng ai cấm thi sĩ khi nói đến con quạ thì nghĩ đến bộ quần áo đen của con cháu họ Vương, họ Tạ? Còn đối ngẫu và luật thì không cần thiết lắm. Đỗ Phủ, Nguyễn Du cả hai đều là những thi nhân hàng đầu của Trung Hoa và Việt Nam. Thơ của Đỗ Phủ vừa thất niêm vừa thất luật. Tôi xin đọc bài Khúc Giang của Đỗ Phủ:
Triều hồi nhật nhật điển xiêm y.
Mỗi nhật giang đầu tận túy quy.
Tửu trái, tầm thường hành xứ hữu,
Nhân sinh thất thập cổ lai hy?
Xuyên hoa, giáp điệp thâm thâm hiện,
Điểm thủy thanh đình, khoản khoản phi.
Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển,
Tạm thời tương thưởng mạc tương vi.
Và bài Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du bắt đầu bằng câu:
Tây hồ hoa thảo tẩn thành hư ,
Như vậy, bài thơ thi luật bằng, vì chữ thứ 2 là bằng. Thế thì chữ thứ 2 câu 8 phải là bằng. Đằng nầy cụ Nguyễn Du viết:
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ, thùy nhân khốc Tố Như
Ngày xưa, sau khi yết bảng, các vị đỗ thi Đình, thi Hội thường được nhà vua đãi yến. Các vị Trạng Nguyên, Thám Hoa, Bảng Nhãn (là những vị có học vị cao nhất nước) bắt buộc phải làm thi để lưu niệm.
Thơ của họ nhất định phải đúng niêm luật. Nhưng cho đến nay còn có bài nào truyền lại đâu! Vậy thì, đúng niêm luật chưa chắc là những bài thơ hay! Bài Hoàng Hạc Lâu, được coi là bài thơ hay nhất của Trung Hoa. Hai câu 3, 4 tuy có đối nhưng chưa chỉnh:
Hoàng Hạc nhất khư bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Những bài thơ hay của Hàn Mặc Tử có những câu như:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ,
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mượt quá xanh như ngọc
Lá trúc che nghiêng mặt chữ điền
Câu thứ nhất thất luật.
Câu thứ ba thất niêm.
Tôi nghĩ Hàn Mặc Tử thừa sức sửa lại cho đúng niêm luật, nhưng ông không làm.
Vậy thì, có phải không cần học luật cũng có thể làm thơ được không? Có thể, nhưng phải là tài năng thiên phú. Cái gì cũng phải học. Học để biết. Biết rồi đừng câu nệ. Y như chuyện ngón tay để chỉ mặt Trăng của nhà Phật. Nhìn theo ngón tay thì thấy mặt Trăng, thấy Trăng rồi quên ngón tay đi. Tằm ăn lá dâu, để biến thành tơ, chứ không phải để sản xuất ra lá dâu.
“Tận tín thư bất như vô thư.” Nhưng muốn phá phải thật thông thạo luật. Phải thông thạo luật mới sáng tạo ra được luật phù hợp với bài thơ.
Vì thế, đừng bảo Lý Bạch làm thất luật thì được, mình thì không. Ai cũng có thể phá luật, nhưng phải là tay thượng thừa.
Người xưa nói: “Dĩ ý hội bất khả dĩ ngôn truyền.” Lấy ý mà lĩnh hội không thể đem lời nói mà truyền đạt là ý như thế.
Có lần nhà thơ Bùi Giáng đã nói một câu đáng suy gẫm: “Những vị khoa bảng đừng đọc thơ của tôi.” Ý ông nói, thơ của ông phần lớn không tuân thủ quy cách của trường ốc, điều mà các nhà khoa bảng thường chê trách.
Ông Bùi Giáng cũng như đa số anh chị em chúng ta không được đào tạo đúng quy cách hàn lâm.
Tất nhiên thơ văn của chúng ta nhiều khi không đáp ứng đúng quy cách của trường thi.
Tôi nghĩ, thơ luật là thơ của xã hội, thơ nông nghiệp, là thơ mừng gả vợ, lấy chồng, thi đỗ, làm quan,…
Thơ thiên về thời đại. Thời đại của chúng ta xảy ra biết bao biến cố long trời lở đất. Luật thơ có diễn tả tấm lòng sôi nổi của chúng ta không?
Một lần ngồi bàn chuyện với các vị trưởng thượng về thi ca, trong đó có cụ Trần Văn Hương, lúc ấy đang làm Thủ Tướng, tôi có nói: “Tôi không thích thơ luật Đường.” Cụ Hương giơ hai tay kêu lên: “Thật à? Điều ấy làm tôi ngạc nhiên quá!”
Nay anh bạn trẻ* Thái Quốc Mưu gởi đến một tập thơ gồm trên 100 bài thơ luật, nhờ tôi đề tựa. Tôi không thể nào từ chối, nhưng phải nói thật lòng mình:
– Trước hết, thơ Đường rất nhiều lúc hợp với tâm hồn tôi.
– Quách Tấn, một người theo tân học, nhưng anh lại chuyên làm thơ Đường. Song thơ Đường của Quách Tấn là thơ mới, rất mới!
Vậy thì, thơ nào cũng có giá trị của nó. Miễn là nó hay, miễn là người thơ biết sử dụng nó một cách thoải mái.
Tôi nghĩ, Thái Quốc Mưu đã sử dụng luật thi một cách thoải mái.
Những bài như: “Tự kiểm khi 59 tuổi”, là một trong nhiều bài thơ hay, đạt.
Thơ của Thái Quốc Mưu rất tề chỉnh, vần luật tề chỉnh, đối ngẫu tề chỉnh.
Vần của anh thường là những vần giàu. Em thì vần với thêm, với xem, với đem. Bất đắc dĩ mới phải dùng vần nghèo như xen, đền,…
Ở nước ngoài còn được đọc những tập thơ như thơ Thái Quốc Mưu kể ra cũng là điều rất an ủi.
Tôi mong anh sẽ thành công. 68 là tuổi còn rất trẻ ở thời đại bây giờ.
San Jose, tháng 11 năm 2007
Hà Thượng Nhân
***