MỢ BA ƠI, XUÂN NẦY CHÁU VẪN CHƯA VỀ – Dư Thị Diễm Buồn
MỢ BA ƠI, XUÂN NẦY
CHÁU VẪN CHƯA VỀ
DTDB
Cây trái cỏ hoa quanh nhà tôi đã rụi lá khi trời cuối mùa thu. Chỉ có những bụi hoa hồng trước nhà nở trên cành, nhánh cao, thấp ít lá và nhiều gai lởm chởm. Dưới nắng gió vào mùa xuân, mùa hè Hoa hồng màu vàng nghệ, hồng pha trắng, tím… có loại thoang thoàng theo gió tỏa hương. Hoa hồng thường tượng trưng cho nét đài trang, quý phái có sắc màu thắm tươi hương ngọt ngào phơi phới.
Nay chỉ còn lại bông hoa hồng héo xào, chưa hé nở đã vội tàn vì tiết trời lạnh lẽo khắc nghiệt của mùa đông. Nhưng bụi thanh trúc, huỳnh trúc, bạch trúc… trồng trong chậu còn cành lá, nhưng ngã vàng úa, se thắt, rung rinh trong từng cơn gió lạnh hắt qua. Mặc dù bên ngoài trời lạnh, nhưng nắng chói chang cho ta cảm nhận được không gian man mác dễ chịu của đất trời. Vì không bao lâu nữa xuân sẽ đến với muôn loài, mang Tết truyền thống đến cho người Việt Nam ở hải ngoại.
Ở xứ người chúng ta hưởng không khí Tết vào đầu tháng mười hai. Bởi Giáng sinh lễ lớn, rồi tiếp theo là New Year (Tết dương lịch) rồi Tết Nguyên Đán vào tuần đầu, hoặc giữa tháng hai. Tết ta đến sớm hay muộn còn tùy thuộc theo năm có nhuần hay không…
Dù không còn sống trên quê hương đã mấy mươi năm rồi, nhưng phong tục hương vị Tết gia đình tôi luôn giữ cho đến cuối đời mình… Sau đó cháu con ăn Tết thế nào thì tùy ở chúng nó, chúng tôi dù có muốn cũng không sao với tới được nữa. Vì mình có sống hoài đâu mà thế nọ, thế kia…
Cứ mỗi năm, vào chiều ngày hai mươi ba âm lịch, thì chúng tôi cúng đưa ông Táo về trời. Sau đó nhang, đèn trên các bàn thờ trong nhà không đốt vào những tối vào mỗi đêm nữa. Đến sau khi cúng rước ông bà ngày ba mươi thì mới bắt đầu trở lại đốt nhang hàng đêm vào mỗi tối.
Hai mẹ con tôi hẹn đi chợ hôm nay, nên sáng ra thì tôi bảo với chồng:
– Tui đi chợ mua hoa quả và thêm vài món ở chợ Mỹ. Ông uống cà-phê xong nhớ đừng có quên là làm ơn thò tay ngọc, thọc tay vàng lấy khăn ướt lau sơ các bàn thờ dùm nghe. Để hôm nay tối nấu mâm cơm cúng rước “Đất đai viên trạch trong nhà trong cửa, ông Táo, và ông bà…” về ăn Tết.
Phu quân tôi lung bùng trong cổ họng:
– Ụa, mấy bữa trước tôi đã lau sau khi cúng đưa ông Táo về trời rồi mà, mới đây sao lại lau nữa?
– Tui biết, nhưng lau lại vì hổm rày cũng có bụi bậm… Làm ơn đi thầy Ba. Một năm lau được bao nhiêu lần, thôi tui đi chợ đây nghe ông chồng yêu quý…
Vừa trả lời chồng tôi vừa cười tủm tỉm, và rảo mắt tìm đôi dép. Ổng cũng đứng lên, lấy khăn hứng nước rồi vắt cho ráo. Tay cầm cái khăn lau vừa đi đến bàn thờ, miệng ông vừa càm ràm:
– Cả Năm không lau, mới lau mấy bữa trước, giờ lại lau nữa… Sợ ở nhà người ta không có việc gì làm chắc?
Tôi mắc tức cười muốn nín thở! Nhưng làm bộ không nghe, lẹ mở cửa bước ra ngoài. Phu quân tôi là thế đó, chúng tôi cưới nhau hơn 40 năm rồi. Hai vợ chồng nghỉ hưu trí cũng đã mấy năm, cháu ngoại cháu nội đều có. Ấy vậy mà cái tật cằn nhằn vợ con của ông vẫn tồn tại! Dù nay đã qua bao nhiêu năm vật đổi sao dời, chạy thụt mạng bỏ nước… nhưng cố tật đó của chồng tui, thiệt chẳng đổi thay chút nào cả!
Số là ngoài công việc nấu nướng hàng ngày cho vợ chồng già ăn, tôi còn có bổn phận giặt giũ, làm vệ sinh lặt vặt trong nhà như thường lệ. Còn phu quân tôi thì làm những việc phụ bất ngờ như cắt nhánh cây sau vườn nhà bị gãy, đưa rước dùm cháu đi học hôm nào đó bị trễ xe, hay xe không đến rước… Ba năm nay chàng của tôi có thêm tật là khoái đi chợ mua đồ ăn!
Như là ông thường lái xe mua trứng, sữa, bánh mì, hay rau cải ở các tiệm Mỹ. Hôm nào nhờ ông mua ba món, thường thì trật một, hoặc hai món.
Thí dụ như hôm đó ông mua dùm ngò rí (ngò xắt nhuyễn để nêm canh cho thơm) ông mua ngò Mỹ! Mua ớt cay về làm nước mắm, thì ông mua ớt chuông của Mỹ để xào, hoặc ăn sống… Mua bí rợ thì ông mua trái su…
Đôi lúc tôi nghĩ không phải ổng không biết, hoặc không nhớ mà có lẽ ông thích mua theo ý mình chăng? Nhưng nếu không để ông đi chợ mua những thứ lặt vặt thì ông có vẻ không vui cho lắm! Và mỗi lần đi chợ ông thường mua thêm vài thứ có khi thì chuối già chín, có khi nho, khóm, bánh, kẹo, có khi hột gà, nước ngọt, nước lọc… Hoặc vài món linh tinh khác, như giấy lau tay, giấy đi cầu… ông mua về chất đầy tủ, dùng cả năm nữa chắc cũng chưa hết…
Một hôm bực quá, tôi càm ràm:
– Nồi đất ơi, tui đợi ông mua bắp cải về xắt trộn gỏi gà, ông lại mua cải sà lách để cuốn thì trật lất rồi…
Ông sừng lại liền:
– Cải bắp hay cải sà-lách cũng là cải, giống nhau. Mọi thứ ăn vào rồi thành phân ra ngoài… thì cải nào cũng vậy thôi. Cứ đem xào nấu đi, nếu không ai ăn để tui ăn, cằn nhằn cái gì…
Thiệt tức muốn chết, nhưng tôi cũng làm thinh cho qua chuyện! Rồi sau đó cũng vậy nữa, nhưng nếu không để chàng đi chợ mua thì chàng sẽ không vui, sẽ giận, sẽ buồn… Mấy đứa con nghe chuyện, thì nhìn nhau cười hí hí, rồi bảo với tôi:
– Mẹ cứ mua thịt thà rau cải… như ý mẹ. Nhưng cũng để ba đi chợ mua những gì ba thích để ba vui… Nếu đi chợ với ba là thú vui thì đó là việc tốt, chỉ sợ ba đi casino mới mệt đó mẹ à…
Cho nên cứ vài tuần gặp ổng, thì mấy đứa nhỏ thường dúi vào tay cho ba chúng vài chục. Chúng vui vẻ, tươi cười bảo:
– Hôm nào đi chợ thấy đồ hàng nằm trong nhà bán hạ giá, ba mua dùm con. Hay ba muốn mua những gì cho nhà ba mẹ, hay mua riêng cho ba, cho mẹ… thì tùy ý nghe ba.
Ông chồng tôi nét mặt sáng rỡ vui lên như trăng đêm rằm tháng tám! Ông vui không phải là chúng cho tiền, mà là có cớ để ổng đi chợ thì ổng sẽ thích biết mấy đó quý vị à… Nhưng phu quân tôi lại không ưa đi chợ Á Đông mua cá, tôm, thịt thà… Và ông cũng ghét vào những tiệm Mỹ bán quần áo, giầy dép, nữ trang… Có lẽ ổng sợ vào tiệm nữ trang phải trả tiền tối tăm mày mặt chăng? Cho nên khi mẹ con tôi đi shopping mall (chợ Mỹ bán áo quần quà tặng…) vào những ngày trước lễ Giáng Sinh. Chúng tôi rủ hay năn nỉ cách chi, thì ông lắc đầu, bảo:
– Mẹ con bây đi cà rê kê ngỗng cả ngày tao không đi theo đâu… Để ba ở nhà đọc sách còn sướng hơn…
Tôi liền tiếp lời:
– Vậy ở nhà anh lấy chổi quét giáng nhện giăng ở góc tường, trên trần nhà dùm nghe… Lâu rồi không quét, nhện giăng có dây có nhợ như nhà hoang cửa lạnh dơ quá…
Ông liền gạt ngang:
– Hai mẹ con đi chợ mua sắm, tui ở nhà thì sai làm công chuyện! Để bữa khác đi, nay tui mệt lắm không có làm đâu à…
Đứa con gái lái xe, nhìn tôi ái ngại vì sợ ba nó giận, hỏi:
– Bộ ba giận sao nói sẳn lè vậy mẹ?
Tôi cười hì hì:
– Kệ ổng đi, ba bây lúc nào cũng nói vậy! Đó là cố tật của ổng! Mà nè con có muốn đánh cá với mẹ không? Ổng nói thế chớ khi mẹ con mình về thì ba sẽ làm sạch sẽ hết cho mà coi. Ba mẹ cưới nhau đã mấy mươi năm hơn, mẹ còn lạ gì tánh tình của ổng.
Trầm ngâm một hồi, tôi nói tiếp:
– Ba con là người hiếu thảo với ông bà cha mẹ. Ổng hiền lành, đạo đức thương gia đình lo cho vợ con. Mẹ nghĩ người phụ nữ gặp được người chồng như vậy là phước đức trời ban. Với mẹ nó lớn hơn cả một gia tài khổng lồ trên cõi đời nầy đó con à…
Con gái tôi có vẻ cảm động:
– Cảm ơn ba má, cảm ơn má, con biết chớ… Chị em con có phước nên được cha má lo cho lúc còn đi học… Ba má chu toàn mọi thứ đến ngày chúng con ra trường đi làm và lập gia đình, ra ở riêng…
Qua phút giây bùi ngùi xúc cảm, tôi nhẹ giọng tiếp:
– Ngày xưa khi sanh con, bà Ba (mợ dâu của mẹ) xuống thăm. Thấy ba săn sóc mẹ con mình, về nhà bà luôn miệng khen với họ ngoại. Bà bảo mẹ là người phụ nữ có phước nhứt trên đời, nên mới gặp được người chồng tốt, người cha biết thương yêu vợ con và biết lo gia đình…
Nghe nhắc đến bà Ba, nhưng con gái tôi chắc chắn chẳng biết ất, giáp gì cả! Bởi khi gia đình tôi đùm túm trốn chạy bỏ quê hương thân thương, yêu dấu, thì cháu chưa tròn bốn tuổi. Những kỷ niệm ấu thời ở quê hương theo thời gian quá xa, bây giờ đã xóa nhòa trong óc trẻ thơ của cháu.
Trên đường đi chợ, xe chạy bon bon do con gái tôi đang chăm chú lái. Xe ra xa lộ chạy vùn vút trên các con đường dài hun hút chằng chịt quanh qua quẹo lại, trên, dưới… Thuở xưa còn học Trung học, nhìn trong sách vở tôi nghĩ đó là chốn xa vời, hay tưởng tưởng chớ là gì đướng xá, cầu kỳ như thế? Giờ là hiện thực, vì mẹ con tôi đang đi trên những con lộ đó…
Xe chạy qua những khu giàu có nhà cửa đồ sộ, sân trước vườn sau rộng rãi… Những cây trụi lá trơ từng chùm, những quả hồng giòn, hồng mềm chín đỏ thẵm lủng lẳng trên các nhánh. Có lẽ chủ vườn trồng chơi không thích ăn, hoặc lười biếng hái nên hồng quá lứa da thẳng băng, no nưởng bóng ngời, thấy mà ham. Xe qua những xóm lao động nhà cửa chen chút xe đậu nghênh ngang mất trật tự choáng cả lối đi…
Và rồi chúng tôi cũng đến khu chợ (shopping mall) như đã định. Hai mẹ con tôi len lỏi lựa những món quà cần thiết để tặng từng người thân trong mùa Giáng Sinh và năm mới. Con gái tôi sắm sửa cả xe cho cha mẹ chồng cha mẹ mình, chồng, con em cháu, bạn bè… Tôi đẩy cũng một xe đầy ắp những quà mua cho em, con, cháu, bạn bè… ở trong nước Mỹ. Còn những người thân ở quê nhà cũng như bên ngoại, bên nội của đám nhỏ… thì sẽ gởi tiền về trong dịp Tết Nguyên Đán cũng sắp đến cận kề rồi.
Thời gian khi mua sắm, và hai chuyến đi về gần hết năm giờ đồng hồ. Mãi mê lựa đồ, xắp hàng trả tiền về gần đến nhà hai mẹ con mới cảm thấy cái bụng đang kêu gào thảm thiết vì đói, và khát nước quá chừng!
Lúc nãy con gái tôi có nhắc:
– Mẹ à, mình vào tiệm uống nước và ăn gì một chút dằn bụng đi… Rồi hãy về nghe mẹ…
Tôi lắc đầu, vì nhớ chắc là ông chồng đang chờ, nên bảo:
– Bộ con đói bụng rồi sao, thôi về nhà ăn luôn thể… Về kẻo ba càm ràm mẹ con đi mất biệt…
Về đến trước cửa nhà, tôi xuống xe xách đồ tơn tơn đi vào. Cửa nhà bật mở, mũi tôi cảm nhận được ngay mùi hoa hồng của thuốc lau chùi nhà thật dịu dàng, thơm tho dễ chịu. Ông chồng tôi không nói không rằng, đi thẳng ra ngoài phụ vợ ôm, xách những bịt quà kồng kềnh còn lại trên xe đem vào nhà. Trong khi con gái tôi cũng khệ nệ tay xách, nách mang…
Con nhỏ mắt liếc nhìn ba như lo ngại lại càm ràm mẹ con đi chợ lâu. Bởi trước khi đi, mẹ nó cũng không nấu gì ba ăn… Hay chuyện gì đó sẽ có thể bị ba cằn nhằn nữa… mà không biết trước được?
Ông chồng tôi phụ gom đồ đạc mới mua về để trên bàn, trên sàn nhà lót bằng tre (bamboo) Tôi lấy khăn lau mồ hôi trán, thì ông bưng hai ly nước cam, một cho vợ, một đưa cho con gái uống. Con gái tôi cười thầm là mình đã nghi oan cho ba sẽ cằn nhằn vì mẹ con đi chợ lâu…
Chộp ngay ly nước cam mới vắt màu vàng sùi lấm tấm bọt trắng, tôi kề miệng uống quá nửa. Hai mẹ con tôi uống ngon lành như chưa bao giờ được uống. Ngừng uống tôi nhìn chồng cười mỉm chi cọp rồi thở khì tỏ vẻ khoan khoái. Con gái tôi cũng uống cạn ly cam vắt, cháu mới định thần dáo dác nhìn trước ngó sau, như mới vừa phát giác ra điều gì? Cháu mở to đôi mắt, mỉm cười vui vẻ:
– Ụa nhà sao thơm quá, bộ mới vừa lau sàn nhà và đánh bóng hả ba? Mèn ơi sao bữa nay ba anh hùng quá vậy? Sáng đi, má chỉ nhờ quét trần giáng nhện trên trần nhà thôi, mà ba tẩy luôn sàn nhà nữa…
Phu quân tôi là thế đó, nếu nhờ ổng làm việc gì đó thì ổng thường hỏi tại sao, và nói thế nầy, thế kia… nại ra bao nhiêu khó khăn trở ngại cho việc tôi nhờ. Nhưng cuối cùng rồi ổng cũng làm, làm giúp vợ rất tốt, rất cẩn thận đâu ra đó. Chớ ông không phải làm qua loa cho xong chuyện, làm lấy có, hoặc làm giụt chạt trong bực tức hay giận hờn…
Con gái tôi năm nay gần bốn mươi tuổi rồi, mà như trẻ con. Cháu cười tích toác đi lẹ lại, lấy tay đấm đấm vào vai ba nó:
– Ba con hay quá thiệt là số một đó! Chắc từ sáng đến giờ ba mệt lắm rồi! Thôi hãy ngồi yên đây, để con đấm lưng cho ba… À dịp Giáng Sinh lễ sắp tới đây, con thấy má mua nhiều quà quá đi! Vậy quà nào của ba hả má, cho con xem với?
Tôi nhìn ra cửa sổ, ánh sáng mùa đông vừa chói chang, vừa ươm lành lạnh trải trên những cây ăn trái quanh nhà. Cây cành dọi ánh sang in bóng nhảy múa trên vách tường quét vôi màu mỡ gà, xuống nền xi-măng, và nền gạch phủ lớp rêu xanh chỗ trong nhà ít khi qua lại.
Nhìn chồng con vui vẻ mỉm cười như hoa hồng nở buổi sáng, tôi bảo:
– Tiền trong ngân hàng, ba mua quà cáp cho mình lúc nào mà không được. Cần gì phải đến lễ lộc mới mua…
Con gái tôi nhăn mặt, nũng nịu:
– Không được, quà chính tay mẹ mua cho mới quý với ba chớ! Sống ở xứ người lâu rồi mà mẹ thiệt không tiến bộ về khía cạnh tình cảm, và cũng không rô-man-tíc chút nào hết…
Phu quân tôi cười chúm chím, hướng mắt về phía vợ như ngầm bảo “Con nhắc đó, thấy chưa?” rồi ông lên tiếng:
– Mẹ nói vậy chớ không phải vậy đâu? Ba mà mua thì về bị hạch hỏi liền. Nào là mắc quá, anh mặc không vừa vặn, mình hàng không tốt, màu sắc nầy không hợp với anh vv… và vv… Có một ngàn lẻ một nguyên nhân, khiến ba không muốn mua cho mình, sau đó giao hết cho má con mua, bả vừa lòng và ba cũng vừa ý…
Tôi cũng cười hạnh phúc nhìn chồng, và trả lời con:
– Vợ chồng sống với nhau bao lâu rồi, mà đến lễ phải mua quà cáp tặng cho nhau như vậy, mẹ thấy có vẻ bề ngoài và màu mè quá đi! Trong lòng mẹ ba con ở thời gian và không gian nào cũng có thể mua quà như là lễ Tết! Mẹ đã cho ba tuổi xuân, và tình nghĩa phu thê sau khi về làm vợ ổng đã quá nửa cuộc đời rồi… Có khốn khổ mặn nồng nào mà ba mẹ không trải qua!
Bỗng tiếng chuông điện thoại nhà đặt trên bàn réo rắc reo vang từng chập, từng chập! Tôi bước nhanh đến, dỡ lên:
– Hello, hello…
Bên kia đầu dây có tiếng chan chát vào lổ tai tôi:
– A-lô, a-lô… Ai đó?
Giọng nói đặt sệt của phái nam, rồi ngừng bặt! Tôi ép sát điện thoại vào miệng mình, lớn tiếng hỏi:
– Hello, hello, xin lỗi ai bên kia đầu dây, và muốn tìm ai?
– Tui con cậu mợ Ba Gia đây, có phải là nhà chị Sáu Hà đó không?
– Phải, Hà đây! Anh tên gì con thứ mấy của cậu Ba vậy?
– Tui là thằng Khịa con trai út của cậu Ba… Chị gọi tôi bằng em, bộ đi lâu rồi quên sao? Anh chị và các cháu khỏe hả? Còn gia đình chị Tám Hạnh, gia đình anh Bảy Hùng cũng bình yên, và có ở gần chị không vậy?
Đường dây viễn liên xa tí tè phải mắc lắm? Tôi không biết, vì ít khi gọi về bên đó. Lanh miệng tôi trả lời:
– Cảm ơn Khịa, các anh chị bên nầy đều khỏe! Bên nhà mợ Ba và gia đình các em đều khỏe mạnh cả chớ?
– Má em còn thức đây, bà muốn nói chuyện với chị…
– Ờ được, chị nghe đây…
Bên kia đầu dây điện thoại, giọng già rung rung, như muốn nghẹn lời:
– Con Sáu Hà đó hả? Còn nhớ mợ Ba không, vợ chồng bây, và mấy đứa nhỏ khỏe hả? Chừng nào về thăm mợ Ba? Mấy chục năm rồi, mợ nhớ anh chị Hai (Ba má tôi) nhớ chị em bây lắm, nhớ nhiều lắm…
Giọng mợ hụt hẫng trong dòng nước mắt, và ngừng hẳn, không nói thêm lời nào nữa! Thằng Khịa con trai mợ tiếp lời thăm hỏi… Đưa điện thoại cho phu quân tôi tiếp chuyện với Khịa! Vì đầu dây bên nầy nước mắt tôi cũng trào tuôn trên má, và nghẹn ngào không thốt được nên lời…
Tiếng chân rược chuột chạy trên trần nhà rào rào, và tiếng kêu meo meo của con mèo tam thể. Trong nhà tôi máy hít (cho hơi nóng) vẫn chạy rì rầm ngày lẫn đêm (24/24). Bên ngoài, bóng hòang hôn từ từ êm ả rọi qua vùng tôi ở, trải dài trên cây cỏ lá hoa… Và màu nắng trong sáng dần dần trở thành màu lam của khói, vân vê trên dạng đồi dốc núi xa xa.
Tôi thừ người ra đó, dòng hồi tưởng cuồn cuộn quay về… Không biết bà ngoại tôi sanh bao nhiêu lần? Nhưng sau nầy tôi biết bà có tám người con: Cô Hai Kính (má tôi) cậu Ba Gia, dì Tư, dì Năm, dì Sáu, dì Bảy, cậu Tám, dì Chín Đèo (là con út).
Mợ Ba gả vào gia đình làm dâu ngoại, làm vợ cậu Ba ở tuổi 17. Mợ sinh trưởng ở miệt Châu Đốc, gia đình theo đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Ba mợ đi theo Đức Thầy chu du khắp nơi truyền giáo… Thời gian sau bị Việt cộng bắt, và bặt vô âm tín luôn không ai biết gì về tung tích của đức Huỳnh Phú Sổ, và các đệ tử đã theo bên ông cho đến ngày nay!
Mợ Ba tôi thấp người, tròn trịa, nước da bánh mật. Mợ có khuông mặt chữ điền điềm đạm, ăn nói nhẹ nhàng hiền lành. Từ ngày biết nhận xét, tôi thấy ở nhà, lúc nào mợ cũng quần vo, áo vận. Dù không ra đồng nhưng công việc trong nhà, thợ thầy và một bầy em chồng năm gái, một trai… Nghe nói cũng ớn da gà, thì đừng nói chi vào mùa lúa, mùa trái cây, khoai củ…
Thợ thầy đến giúp phải nấu cơm cho họ ăn mỗi ngày ba bữa cũng mệt ứ hơi. Trong nhà còn nhiều việc phải làm, phải thanh toán hàng ngày như mọi ngày, và quanh năm suốt tháng tiếp nối không ngừng nghỉ! Ấy vậy mà thời gian với mợ vẫn êm ả thoi đưa, và cực khổ thế nào mợ Ba cũng có một tháng ở cử (sanh con), vì năm nào mợ cũng sanh em bé.
Thuở trai tráng cậu Ba tôi thích đánh me (là một loại cờ bạc dùng hột me, nút áo để hốt, để đổ…) Cho đến bây giờ tôi cũng không biết họ đánh me ăn thua thế nào? Nhưng nghe nói có nhiều người cũng bị thua cháy túi, thua không còn tiền ăn Tết, thua tàn gia bại sản, thua đến bỏ vợ bỏ con nhà tan cửa nát đúng với câu “bài bạc là bác thằng bần” đó mà.
Bà ngoại kể cho lũ cháu nghe như kể chuyện đời xưa:
– Năm đó trưa ba mươi Tết, ông ngoại sai câu Ba bây ra chợ xã lấy tiền heo cân bán hai hôm trướ,c cho lái heo ở ngoài chợ. Họ bảo sau mười hai giờ trưa nay, ra nhà họ sẽ trả nốt phần tiền còn thiếu ông bà. Ở nhà trông mãi để cúng rước ông bà… nhưng cái thằng khốn đó đi mất biệt, qua giao thừa cũng chưa về. Mãi đến sáng mùng một Tết nó cùng mầy dì cậu bây nấu nước cúng ông bà và làm tuổi cha mẹ. Đó là tục lệ lễ Tết trong gia đình mình. Cậu Ba bây cùng mấy dì, bưng nước trà đến trước mặt cha mẹ, rồi đồng chúc: “Năm mới chúng con kính chúc cậu má dồi dào sức khỏe sống lâu trăm tuổi…” Rồi ông bà cho chúng tiền lì xì để lấy hên…
Bọn cháu chúng tôi chăm chỉ nghe. Bà dừng lại lấy cục thuốc xỉa lau nước cốt trầu tươm trên môi, rồi tiếp:
– Chúc xong, mợ Ba và mấy dì cậu bây quay lưng đi xuống nhà dưới. Ông ngoại liền gọi cậu Ba ở lại để trả lời ông sai cậu đi lấy tiền heo về hồi nào, và tiền người ta trả đâu? Cậu Ba các cháu quỳ xuống lạy xin tha vì lỡ đã đánh me thua hết rồi! Thiệt trời long đất lỡ, tiền nó thua thuở đó mua được hai lượng rưởi vàng, và gà mái dầu chỉ có một đồng một con (1$/ 1con)… Câu Ba bây tưởng đầu năm đầu tháng cử kiêng, có thua hết tiền cũng sẽ không bị rầy la! Nhưng ông ngoại nổi xung thiên lấy cây chổi đập xối xả vào nó… Cây chổi sút sổ hết mà ông vẫn chưa hả giận… Nhờ mợ Ba các cháu gần ngày sanh can giáng khóc lóc xin ông tha thứ cho cậu… Bởi mợ có thai đầu lòng gần ngày sanh nên ông vị tình dâu mà bỏ qua… Ông giận cho đến mấy năm sau chưa ngó mặt và nói đến tên cậu Ba bây.
Tôi vội xen vào:
– Cậu Ba chắc bị ông ngoại đánh đau lắm, cậu có khóc không bà? Tội nghiệp cậu Ba quá hả bà…
Ngoại tôi thuận tay, lấy lon kế bên phẹt cổ trầu, tiếp:
– Tội nghiệp cái gì? May mà nhờ lúc đó nhà có đồng vô đồng ra. Nếu chờ đồng tiền nó đem về sắm sửa thì cả nhà khỏi ăn Tết! Ông ngoại các cháu bảo: “Đánh con vì không phải mất tiền đó! Mà đánh vì cậu Ba không nghe lời cha mẹ quen tật đi cờ bạc thì chết cả cuộc đời “Cờ bạc quen tay, ngủ ngày quen mắt” hại cho bản thân còn hại cho vợ con và người thân chung quanh… Cũng nhờ Ơn Trên, từ đó cậu Ba con không đánh me hay cờ bạc nữa. Nhưng mấy đứa con của nó từ đứa lớn cho đến đứa út đều là tên trong bài đổ hột me: Con Tảng, con Mễn, thằng Liễm, thằng Cầu, thằng Âu, thằng Khịa, con Mại.
Cậu mợ Ba tôi có một bầy con như bầy cá rồng rồng (cá lóc con mới nở rất nhiều, ví những người đông con lẳn mẳn…) Vậy mà năm sanh thằng Liễm, ngoại còn đem tôi về nuôi, được mợ cho bú thép (bú ké với thằng Liễm, bú nhờ) sữa của mợ. Bởi vì tôi là đứa con “xấu hấy”!
Mợ Ba được cha mẹ chồng và chị em chồng thương mến. Cũng nhờ tánh tình mợ Ba tôi ăn chắc, mặc dầy chân thật, hiền lành, hịch hạc, không ganh tị, không nhiều chuyện, hỗn ẩu… Mợ kính hiếu với ông bà ngoại, thương yêu họ nhà chồng như ruột thịt bên mình. Mợ không khéo léo làm bánh rồng, mứt phụng, cũng không biết buôn bán tính toán giỏi giang như những phụ nữ ở tuổi mợ. Nhưng mợ Ba tôi siêng năng làm lụng, cần kiệm, không hề than vắn thở dài, hoặc ganh tị thường tình như cái quần, cái áo, sanh nạnh trong việc làm… với đám chị em chồng gái.
Bên nội chú bác chúng tôi ở thị thành. Ba tôi đi dạy học ở miệt Hậu Giang, sau đổi về gần quê ngoại. Tôi lại được ngoại đem về nuôi, là con bé Hà lọ lem nay đau mai ốm còm cõi xấu xí của mợ Ba! Cho đến năm tám tuổi tôi mới về với ba mẹ để đi học tiếp Tiểu học. Vì thế, chị em chúng tôi gần gũi bên ngoại nhiều hơn bên nội.
Người đời thường bảo “Mợ dâu nấu đầu trâu lủng trã” nhưng riêng tôi là một đứa có phước phần, nên được mợ Ba thương như con ruột của mình. Đôi khi ngại các con mợ ngon miệng ăn hết, nên mợ thường giấu để dành cho tôi củ co nấu tôi thích, khoai từ cùi nấu tôi ưa, trái chuối xiêm nướng lửa than ép dẹp chan nước cốt dừa ăn hoài không biết ngán… Mỗi năm Tết may áo quần mới cho con, mợ không quên may cho tôi bộ áo quần màu hồng. Cổ bâu lật, tay phùng mình vải có in bông hồng nhỏ bằng đầu ngón tay, màu tím, vàng, lá xanh mà tôi thích lắm. Thêm đôi guốc sơn tím có vẽ chiếc xuồng đậu sát bờ. Quai guốc bằng nhựa trong có vẽ hoa, vẽ bướm… Cùng chiếc nón vải màu xanh nước biển có nơ cài phía sau ót…
Cứ vào tuần đầu tháng chạp là mợ tráng bánh tráng. Gồm có bánh tráng trắng để cuốn bì nem, cuốn gỏi cuốn. Bánh tráng ngọt mỏng có pha nước cốt dừa, đường, sữa, mè để xé ăn sống. Bánh có đường ngọt, tráng dầy để nướng. Bánh có dừa, muối, mè tráng dầy để nướng ăn với gỏi thay bánh phồng tôm… Tôi thích nhứt là bánh phồng nếp… Mợ cùng mấy bà dì tôi khéo tay quết bánh phồng nếp roi roi tròn như cái dĩa nhỏ bằng bàn tay xòe, trẹt, khi nướng bánh nở ra bằng cài sàn để sàn gạo. Bánh phồng nếp đặc biệt nướng lửa rơm, bánh sẽ phồng lên vun chùn như cái mâm. Bánh phồng nếp ăn giòn, ngọt và thao ra trong miệng…
Ngày lễ, Tết về thăm ngoại, mợ Ba biết tôi thích món gì đề nghị như: bánh khọt, bánh canh tôm nấu nước cốt dừa, cá thác lác vò viên nấu canh cải trời… Cá trê vàng kho tộ rắc tiêu cai, ăn với cơm gạo lúa vé vàng, cùng canh chua con mẻ, cá rô don tác đìa nấu với các thứ. Nồi canh chua của mợ Ba tôi luôn có như là: Bông điên điển, rau muống, bông so đũa, bông súng, đậu bắp, giá, cà chua, dưa cải… Mỗi thứ chỉ một ít chừng nắm tay thôi, như vậy thì đầy một nồi lớn! Mướp xào với hến, cá trạch phơi khô dẻo dẻo chiên vàng ăn kèm với canh tập tàng… Thế là trước sau gì mợ cũng nấu cho tôi ăn những món tôi ưa thích. Những món bình dân đó thiệt bắt miệng vô cùng, ăn cái bụng đã cành mà cái miệng vẫn còn muốn ăn hết nồi hết ơ không biết!
Các chị em nghe kể những món tôi thích! Họ trề nhúng, đôi lúc còn mắng nhiếc, chê bay với những lời nghe mắc ghét:
– Thiếu gì món ăn như là gà quay, vịt tiềm, giò heo hầm, thịt nướng, nem, bì, chả… sao không thích? Mầy thiệt là con nhà quê hết thuốc chửa… Tao thấy mầy nên về quê ở luôn thì thiệt là hợp mọi thư, nhứt là khẩu vị… Ờ con kia sao mầy không đòi các thứ mắm như là: Mắm kho, mắm chưn, mắm thái, mắm trộn đu đủ, mắm chà, mắm quết, mắm nêm, mắm nục, mắm lóc, mắm trê, mắm sặc, mắm ruốc, mắm tôm, mắm phệt, mắm và rau, mắm bồ hốc, mắm trèn, mắm rô… và có cả mắm bảy món nữa đó cô Sáu Hà?
Biết tui dị ứng không ăn được mắm, nên bọn họ kê ra cả lô mắm để chọc ghẹo. Nhưng không mắc bẫy để cho họ cười nhạo đâu, tui bèn giả giận làm vui, cười hì hì nhưng ứa gan:
– Tại vì bổn cô nương ăn các món kia ngon ơi là ngon rồi, nên không cần mắm. Mấy người ưa thì xin mợ Ba nấu cho ăn đi…
Tôi vẫn nhớ, dưới mé sông nhà ngoại có hai đống chà. Đống chà được chất bằng những bó nhánh nhỏ ngắn các cây ăn trái. Họ bó lại từng bó, rồi thả trong vòng có đóng những cọc xa xa cao hơn mặt nước, hình tròn hay dài. Để giữ cho chà không bị nước cuốn trôi ra ngoài.
Những bó chà nầy thường là những nhánh cây ổi, mận, xoài, tre bị chết nhác để làm chà. Chà thảy xuống nước lâu ngày chừng đôi ba tháng sẽ là nơi trú ẩn cho bọn tôm, cá, cua đinh, càng đước, hay thủy sản khác…
Ở thôn quê vào mùa đông, gió bấc lành lạnh. Những ngày cận Tết, thì cậu Ba tôi thường rủ thêm vài người, dở chà dưới bến sông nhà để kiếm tôm cá ăn trong dịp Tết.
Cứ chờ con nước lớn đầy sông chạng vạng tối, thì cám rang trộn với đất sét mềm mềm, vò tròn như trái mù u thảy lũm bũm xuống đống chà cho cá bắt mùi thơm mà vào ăn. Canh khi nước nhửng lại (nước chưa ròng chảy ra, và nước cũng không còn chảy vào…) Thì họ lấy đăng bao chung quanh đống chà lại. Rồi chờ cho nước rút, trời gần sáng nước sông cạn còn quá nửa chà thi xuống vớt lấy hết chà thảy ra ngoài đăng…Nước ngày càng cạn dần, tha hồ bắt cá, tôm, ca thác lác, cá leo, cá rô mề… Họ chia nhau để thêm cá tôm sum sê ăn trong ba ngày Tết.
Mỗi năm vào chiều ba mươi Tết cúng rước ông bà, mợ Ba thường nấu mấy món thông thường như là:
* Món gỏi: có củ cải trắng, củ cải đỏ, trái su, dưa leo được xắt mỏng… Tôm càng xanh vỏ nướng, xé tơi, hoặc cá lóc cặp gắp nướng vàng… xé ra rồi trộn vào với thịt ba chỉ thái mỏng. Khi đơm lên dĩa để thêm các loại rau thơm xắt nhuyễn, và đậu phộng cà. Món gỏi nầy ăn kèm với bánh phồng tôm, hoặc bánh tráng nướng.
* Món khổ qua hầm: Cá thác lác bắt ra khỏi nước còn giẫy lạch bạch, (nghĩa là cá sống lấy thịt mới dai) lạn ra nạo lấy thịt bỏ xương. Đem quết với hành xắt nhuyễn, tiêu cà, đường cát, và chút nước mắm đun sôi để nguội. Khổ qua cắt khúc lấy bỏ ruột rồi dồn cá thác lác đã nhồi vào ruột. Nồi nước lèo nấu bằng xương heo, hớt bọt nước trong vắt đun sôi để những khúc khổ qua vào hầm lửa rêu rêu cho thấm cái, thấm nước… nêm nếm vừa miệng. Trên mặt tô canh từng chùm sao mỡ loang loáng với tiêu cà và hành hương ngò rí xắt nhuyễn để mùi canh thêm đậm đà.
* Cá rô mề, hoặc cá trê vàng cặp gắp bằng cành tre tươi nướng vàng, dầm nước mắm gừng và ớt cay. Ăn kèm với các loại dưa như là : dưa cải, dưa giá, dưa kiệu…
* Cải sà-lách bên dưới trải trên bánh tráng nhúng nước, bên trên để rau húng cây, húng nhũi, rau răm, lá quế, dấp cá… non nhẫn, xanh dờn. Và trên cùng là nem chua, hay bì. Mợ Ba tôi cuốn chặt lại rồi cắt ra từng khoanh vừa miếng ăn. Bì cuốn chấm với nước mắm chua ngọt có dưa kiệu, dưa gừng xắt chỉ, và những khoanh ớt sừng trâu chín đỏ…
* Đậu móng chim xào với tôm lột vỏ và thịt ba chỉ.
Ngần ấy món chia thành hai mâm. Một mâm cúng bàn thờ ông bà, một mâm cúng đất đai viên trạch trong nhà trong cửa. Khi đã dọn các món ăn lên bàn thờ, thì ông bà ngoại van vái, cầu nguyện. Rồi cậu mợ ba, các dì cậu cùng bọn cháu chúng tôi cũng quỳ lạy. Không biết cả nhà cầu nguyện, và xin những gì? Nhưng riêng tôi chỉ cầu cúng xong dọn xuống, ăn một bụng no nê cho đã thèm!
Sau khi cúng xong, ngoại cho dọn hết hai mâm lên bộ ván gõ. Cả nhà ông bà, cha mẹ, con, rể, dâu, cháu… ăn uống, nói cười vui vẻ. Quên đi những bận rộn vất vả sau cả năm công việc nhọc nhằn… Trong đại gia đình có ông bà ngoại, cậu, mợ, dì dượng ở chung, gần nhà, hoặc xa, ngày tư ngày Tết về thăm, sẽ tận hưởng mấy ngày Tết ăn uống, bánh trái sum sê… Và rủ nhau đi lễ chùa, dự hội xuân, hay thăm viếng họ hàng gần xa…
Bóng hoàng hôn nắng chói bên kia rặng trâm bầu. Cây bần mé nước cao nghều nghệu, những chùm trái xanh non lặc lìa, hoa trắng điểm những cánh đỏ lung linh lồng bóng nước. Gió mát rượi thổi qua, con chim kêu: “trả chẹt, trả chẹt, trả chẹt…” bay xà mặt nước. Và tiếng chim bìm bịp kêu chiều, từ côi vườn nầy qua côi vườn kia, rền vọng vang vang báo hiệu nước đang lớn chảy vào sắp đầy sông…
Sau cơm chiều thì mợ Ba cùng mấy dì, kẻ nướng bánh, người sắp bánh mứt, chà là, chuối khô ngào đường vào dĩa, nấu trà… Còn cậu thì kê thêm bàn nhỏ, gần bàn thờ ông thiên ngoài sân để chuẩn bị cúng giao thừa, đón mừng Năm mới.
Trên bàn thờ ông bà, có bình hoa mai vàng chấp chóa ánh đèn tây rực rỡ sáng choang. Hương, trà, bánh, mứt, trái… thơm phưng phức trong buổi tối cuối năm… Mười hai giờ đêm là cả nhà áo quần tươm tất bái lạy cúng rước ông bà. Và ông bà ngoại, cậu Ba lắng nghe tiếng kêu con gì trước, thì năm đó con vật vừa kêu ra đời. Để ra giêng nhờ thầy đoán quẻ hên xui cho cả gia đình trong năm đó…
Ngày ba mươi Tết, là nhà nhà thôn dân từ làng nầy qua làng khác, xã nầy qua xã kia trên dưới cúng rước ông bà. Mùi thức ăn, nhang, khói… tỏa bay và chuông từ chùa Phật, chuông nhà thờ đinh đong rền vọng vang vang… Khiến lòng người khoan khoái thương cảm lâng lâng. Không gian yên lặng, nền trời cao huyền hoặc, muôn vì tinh tú lấp lánh chào đón chúa xuân về.
Đại đa số dân Nam luôn giữ gìn truyền thống gia đình ông cha đời đời để lại. Họ thờ cúng ông bà, trọng lễ nghĩa, ngày tư ngày Tết, ở thôn quê đền ơn, đáp nghĩa, thăm viếng thầy, đưa vợ con vể thăm cha mẹ bên chồng, bên vợ. Trước sân đình làng thường tổ chức lể hội mừng xuân, để thôn dân có cơ hội gặp gỡ, vui chơi, ăn uống hả hê suốt những ngày đầu năm mới.
Ngày mùng hai Tết cậu mợ Ba tôi tờ mờ sáng đã rời nhà cho kịp con nước… Nếu đi trễ qua Bà Chát bị cạn thì phải đẩy ghe đầu năm đầu tháng sẽ xui xẻo cả năm và mệt mỏi lắm… Mợ chở các con về mừng tuổi và ăn Tết với họ ngoại, chiều mai mới về.
Mèn ơi, ngày Tết mới thấy mợ Ba diện áo bà ba the màu huyết dụ, dạ chiếc áo túi trắng bên trong. Cái quần lãnh mỹ a nhuộm mạc nưa đen bóng như da cá trê, để mỗi lần mợ bước đi thì hàng cọ vào nhau nghe rồn rột. Mợ mang đôi dép kẹp màu da bò cũ và xưa lắt xưa lơ, nhưng hãy còn tốt. Tôi nghĩ đôi dép lâu đời nầy chắc mợ mua hồi đám cưới mang ngày xuất giá vu qui về nhà chồng! Tóc mợ chải xuôi ra sau, bới cao nằm dưới gấy. Mợ Ba úp vào tóc mới bới, một tóc giả hình bánh tiêu, có quấn vòng quanh tóc bính. Tóc mợ Ba tôi đen như mực Tàu, chải vẻn vang, mướt rượt dầu dừa, mà mợ đã sức sau khi gội đầu để khô trước khi cúng rước ông bà.
Ông bà ngoại tôi là người thưởng phạt phân minh, tiêu xài chừng mực gói ghém liệu cơm gắp mắm… Nhưng không keo kiết bủn xỉn với người ăn kẻ làm hoặc với dâu rể. Như gia đình bà Cả Kẹo bên kia sông. Gia đình bà Cả Kẹo ăn cơm gạo ngon, còn nấu cho người đến phụ giúp ăn gạo dở, nhiều thóc, hoặc bị sâu… Kho nồi mắm toàn là nước, lác đác vài con tép mồn, tép mũi… Cho nên khi cần người, gọi ai cũng né không chịu đến nhà bà làm. Họ còn bảo: “Nhà bà Cả Kẹo kho nồi mắm cho thợ thầy ăn chỉ lỉnh bỉnh mấy miếng cà nâu. Có xăn quần lội cả ngày trong đó cũng không đụng miếng thịt hay miếng cá… Cho ăn được, ăn no thì người ta mới làm tốt chớ! Kẹo quá đổi kéo không ra, thôi thì để ổng bả làm đi… khỏi trả công tốn tiền, và khỏi tốn cơm nước…”
Trong gia đình mọi thứ chi dụng đều do ông bà ngoại phân phát, con cái không tốn một đồng nào. Mỗi năm trước Tết Nguyên Đán thì bà sắm áo quần cho con, cho dâu, cho cháu đang sống chung với ông bà. Riêng mợ Ba thì sau mùa lúa, nếp, trái cây, khoai củ thì bà ngoại luôn cho tiền để mợ chi dụng riêng tư theo ý muốn…
Mỗi lần con Bé Hà về thăm, trước khi đi luôn được bà ngoại cho tiền. Ngoài ra còn có dì, cậu và nhứt là mợ Ba, mợ luôn lén ngoại nhét vào túi cho hoặc kéo ra sau hè lấy từ ruột ngựa cho.
Mợ còn thỏ thẻ dặn dò:
– Cháu cất kỹ để dành mua sách vở học, ăn bánh…
Tôi lắc đầu nguầy nguậy:
– Ông bà ngoại và dì có cho rồi, mợ cất đi con không lấy…
– Bậy nà, không lấy mợ sẽ giận đó… Nếu dư thì để đi xe lần tới về thăm ông bà ngoại cậu mợ và các em nghe…
Năm đó ông bà gả chồng cho dì Bảy tôi, thì cậu mợ Ba cũng đã ngoài bốn mươi, đã có năm đứa con. Cái tuổi lý tưởng mà ở thôn quê con có thể cái gánh vác gia đình thay cha mẹ như cậu mợ.
Một hôm ông bà ngoại bảo với cậu mợ Ba:
– Vợ thằng Gia về làm dâu nhà nầy cũng gần tám năm rồi. Mấy đứa em bây gả chồng gần hết, giờ nhà còn thằng Tám với con Đèo. Ba má tính sẽ chia đất vườn và ruộng cho vợ chồng bây, để ra ở riêng mà lập nghiệp làm ăn lo lường với nhau, không phải sống chung với cha mẹ nữa…
Cậu Ba tôi ngồi đó làm thinh không trả lời. Mợ Ba khều có ý nhắc nhở chồng. Nhưng Ba cậu vẫn yên lặng không nói gì, mợ ngập ngừng rồi thưa liền với ông bà ngoại:
– Thưa cậu mợ (Ông bà ngoại tôi các con gọi bằng cậu mợ, hay cậu má) từ khi con về làm dâu cho cậu mợ. Con nguyện với lòng vợ chồng con và các cháu sẽ sống với cậu mợ cho đến trăm tuổi già, chớ không ra riêng tư gì cả. Nếu con có làm gì sai trái xin cậu mợ rầy la chỉ dạy, chớ đừng bắt chúng con phải ở riêng nơi khác…
Nói đến đó mợ khóc rấm rức như trẻ con. Bà ngoại tôi liền bảo:
– Bây không có làm gì lỗi, ý của tao với ổng là muốn cho vợ chồng bây có căn cơ sự nghiệp riêng vậy thôi… Tao với cha bây cho ra riêng phải vui mừng, chớ sao lại khóc lóc ỉ ôi như vậy?
Mợ kéo khăn lau nước mắt:
– Chú Tám và cô Út không bao lâu sẽ có gia đình, cậu má tuổi già phải có con cái bên mình chăm sóc khi tối lửa tắt đèn… Nên xin cho chúng con ở lại đây với cậu mợ, để có cháu con bên cạnh sớm hôm…
Ông bà ngoại thương con dâu nầy hơn cả con trai mình! Ông ngoại sáng sớm thức dậy uống nước trà với bà, ông bảo:
– Con dâu nhà người ta chưa cho ra riêng, là đã kiếm chuyện vặn nài bẻ ống để được ra ở riêng, sống tự do cho bằng được. Còn con dâu nhà mình cho ra riêng nài nỉ khóc lóc để được ở lại…
Bà uống ngụm trà đồng ý với chồng:
– Thiệt phước đức ông bà xui khiến mình mới có được con dâu như vợ thằng Gia (tên cậu Ba). Dâu mình không có sắc vóc “chim sa cá lặn” nhưng cha mẹ hiền đức biết dạy con, nên từ khi về làm dâu nhà mình đến giờ, nó được lòng đám em chồng như bầy ong bù vẻ chí chóe tối ngày, phát mệt! Con nhỏ lại hiếu đạo biết phải quấy với họ hàng, và có tướng “vượng phu ích tử” Đã sanh cho mình mấy đưá cháu nội kháu khỉnh, gái có, trai có để nối dõi tông đường…
Sau lần đó, ông bà ngoại tôi bàn tính với nhau giao hết mọi chi thu vườn ruộng, cho cậu mợ Ba chăm sóc, cai quản… Nhưng mợ chỉ nhận chi tiền trong việc mua hạt giống, phân bón, công thợ thầy… Còn tiền bạc sanh lợi bán ra về lúa, nếp, trái cây, mọi thứ linh tinh… trong vườn. Bán được tiền, mợ đều giao cho bà ngoại giữ. Mấy dì cậu tôi xì xào bà chị dâu mình làm như vậy không biết bả ngu hay khôn? Vì đời thở nầy có ai ngu sao mà chê tiền mình làm ra đưa cho người kkác giữ?
Khi tôi biết chuyện về thăm ngoại, những khi nghỉ hè hoặc nghỉ lễ, Tết. Lúc rỗi rảnh hay có dịp thì mợ Ba thường thố lộ tâm tình cho đứa cháu nầy nghe.
– Cháu Hà có biết không? Mợ mồ côi cha từ năm sáu tuổi sống lây lất với mẹ, và anh chị dâu… Cho nên mợ rất khao khát có cha, có gia đình đông anh chị em sống hòa thuận với nhau trong một ngôi nhà. Chị dâu mợ cũng người có đạo Hòa Hảo nhỏ lớn sống trong thôn. Chị hiền lành hiếu thảo, có lẽ tiêm nhiễm được đức tánh của chị dâu, mợ nguyện với lòng sau nầy khi lập gia đình mợ sẽ làm dâu chí nguyện, và thương yêu bên chồng như bên mình… Mợ có phước nên Ơn Trên đã cho mợ về làm vợ cậu Ba cháu, làm dâu ông bà ngoại là cha mẹ chồng tốt. Mặc dầu các cô chú em cậu xéo xắc, nhỏ mọn tánh con nít… Khi biết được ông bà ngoại rầy la, nên mối hờn giận ganh ghét dập tắt và tiêu tan ngay.
Vùng quê ngoại đã cho tôi nhiều mật ngọt của thuở thiếu thời. Từ tình cảm chân tình của ông bà đến cậu mợ, dì dượng trong gia đình. Tình chòm xóm láng giềng, những di tích lịch sử như chùa, đình, nhà thờ, ngã ba sông nước xoáy… Và cảnh vật trong thôn làng, có dòng sông nước chảy ra chảy vào đem phù sa nuôi cho cây lành trái ngọt. Khi nước ròng đã chảy ra, thì rải rác ghe lưới, ghe chài, người đã bắt đầu đi săn cá tôm, ốc, hến… Thủy sản bắt được họ để ăn, để bán dạo buổi chiều, hoặc rọng để ngày mai đem bán chợ sớm ở chợ làng…
Tôi thích bầu trời ấm mát của buổi trưa có hoa nắng chói chang rơi rớt trên ngọn xoài nhánh mận… và tiếng “cục, cú, cu…” của loài chim cu kêu giục Tết về. Tôi thích nhìn bầy vịt bầu đang rỉa, rút tìm mồi bên đám lục bình, rau mát ở vàm rạch ven sông. Lác đác trong đám phơi phới lá xanh dờn, hoa màu tim tím nở lung linh trong gió sớm… Tôi thích nghe tiếng hát hò của trai gái làng tát nước, đắp bờ, bón phân… ở ruộng trãng xa xa…
Có lẽ từ thuở ấu thời sống ở thôn quê, nên tôi rất thích cảnh sống êm đềm và tâm tình người dân quê. Cùng những vùng tôi khôn lớn, những vùng quê một lần tôi đã được đi qua… Cảnh vật ở thôn quê nhập tâm tôi hơn là các thị thành bon chen “Ngựa xe như nước áo quần như nêm”. Dù sau nầy tôi đã lớn khôn, nhưng trong gia đình dưới mắt chị em, luôn bị họ chọc ghẹo và lúc nào cũng coi tôi là con bé nhà quê…
Cho đến khi tôi học nghề ra trường, được Sự vụ lệnh Chánh phủ bổ nhiệm việc làm hẳn hoi. Và người ngoài gọi tôi bằng cô (cô, thầy làm việc… ở công, hoặc tư sở) đã ra bươn chải với đời như nhiều phụ nữ trẻ khác, nhưng chị em tôi vẫn chê tàn, chê mạt con nhỏ nầy:
– Xin lỗi nghe Hà, mầy đúng là con nhỏ nhà quê chánh hiệu con nai vàng ngơ ngác! Dù cho qua ba mươi năm sau, có làm bà phủ bà huyện, ăn mặc sang trọng, kẻ hầu người hạ lên xe xuống ngựa đi nữa… thì mầy vẫn là con nhỏ nhà quê không chút gì thay đỗi cả!
Tôi chẩu mõ đớp lại liền:
– Hay quá há, mấy người học làm thầy bói hồi nào vậy? Thôi thì hãy bói cho mình sau nầy làm gì, triệu phú, công nương hay bà hoàng đi? Cảm ơn, khỏi bói cho tui, làm ơn cho tôi xin hai chữ bình an đi mấy mụ giàu sang, phú hộ “thượng đẳng…”
Mợ Ba đứng gần đó cười ngất, lên tiếng binh tôi liền:
– Sao mấy cháu chê em Hà dữ vậy? Hôm đám cưới chú Tám (cậu tôi) nó trông thiệt là lành gái. Mặc áo dài hồng, quần sa ten trắng, mang guốc cao gót. Tóc xỏa bờ vai thiệt là dễ nhìn, ăn đứt các cô phù dâu họ nhà gái đưa dâu qua! Mợ nghĩ sau nầy con Hà sẽ có chồng quan quyền, có nhà lầu, xe cộ… người ăn, kẻ ở đầy nhà, sang trọng hết biết cho mà coi…
Mấy chị tôi được dịp cười ngất nga, ngất nghéo như mấy mụ điên:
– Mợ Ba lại làm thầy bói như bọn cháu nữa rồi! Con Sáu Hà nhà mình mà như mợ nói thì con sẽ cùi đó mợ… Có lẽ nó sẽ gả cho thằng Mười Cồ con út của ông bà Bái Kiết xóm trong, thì đúng hơn…
Mợ Ba tôi trợn mắt, lanh miệng:
– Nói bậy, nói bậy phải phun nước miếng nói lại đi! Cái thằng Mười Cồ mắc toi đó chỉ được cái tốt mả gà đồng, cao, lớn, trắng trẻo, đẹp trai thôi. Bởi biết cha mẹ có tiền nó cứ ăn chơi không chịu khó học hành. Cha mẹ cho đi học nghề thì chê nghề nầy cực, nghề kia xấu, nghề nọ hèn… không chịu học. Tối ngày rong chơi phá làng phá xóm, chẳng làm nên tích sự gì cả. Hôm tháng ba thôn mình cúng đình, có mấy buổi hát chầu thiệt là vui hết sức. Mợ thấy thằng Mười Cồ ăn diện bảnh bao đứng dẹo ne dựa cột đình. Miệng nó nhai cà chóc cà chách miếng bánh tổ. Thấy mợ nó ngốn nhanh miếng bánh, te te lại chào và hỏi thăm con Hà… Thiệt lớn cái đầu rồi mà thằng đó không biết mắc cỡ, không ra gì, không giống ai hết á.
Mấy chị và em tôi có vẻ khoái chí cười hả hê. Chị vừa cười vừa nói:
– Hà à, theo tao nghĩ ăn cắp tiền bạc thì có tội, ăn cắp trái tim không có tội đâu nghe. Nghề không có hèn, chỉ có người hèn thôi! Nhưng cái thằng Mười Cồ đó tệ thiệt, không chịu làm gì cả chỉ long bong, lang bang đi phá xóm phá làng là giõi… Nhưng tao thấy nó đẹp trai xứng với mầy…
Các em tôi thừa thắng xông lên tấn công chọc ghẹo tôi tới tấp! Rồi con em kế xí xọn dựa hơi mấy chị, sửa giọng Bắc Kỳ, lên tiếng:
– Mợ Ba à, vậy là chị Hà nhà mình lọt giếng mắt xanh của cậu ấm Mười Cồ rồi nhỉ? Thôi chừng nào anh ta cậy người mai mối thì ưng đi chị. Nghe nói ông bà Bái Kiết có vườn đất, ruộng nương nhiều đến nổi “cò bay mỏi cánh/ Chó chạy đứt đuôi” đó chị Sáu Hà ơi…
Chị Ba tôi cười hố hố, thiệt vô duyên hết chỗ nói! Chị bắt chước ai, đứng lên ra điệu bộ và sửa giọng như đào hát cải lương:
– Ờ phải đó Hà, trước khi mi ưng nó thì bảo rằng: “Anh Mười Cồ ôi, nếu có thương em thì hãy bẻ răng làm dây chuyền, làm bông vòng, làm nữ trang… cưới em đi anh Mười Cồ…” Nó mà làm theo lời mầy, thì mới thật sự yêu và tình yêu đó, và tình yêu đó mới thiên thu vạn cổ…
Bỗng chị tôi ngừng nói mắt nhắm nghiền, hai tay chắp tréo ôm lấy ngực mình. Rồi chị gò giọng giả bộ làm tên Mười Cồ thỏ thẻ tiếp:
– “Hãy gả cho anh đi em Sáu Hà xinh đẹp! Anh Mười Cồ nầy sẽ nhổ tóc làm vòng hoa cưới cho em nữa…” Thần hoàng thổ địa ơi, tao đang nổi da gà vì cảm động quá “chời” quá đất đây nè Hà ui…
Trông điệu bộ chị ai cũng cười ré lên, nhưng riêng tui thấy ghét chị vô cùng! Đã biết tôi không ưa cái tên Mười Cồ đó, vậy mà họ vẫn còn ông ống cái miệng chọc ghẹo.
Đến phiên con em út cười già, lên tiếng cà khịa:
– Ờ anh Mười Cồ trông cũng đẹp trai ra phết! Anh ta ăn nói cũng “đường hoàng” cũng được lắm chớ! Thì cớ “nàm thao” mà chị lại ghét anh ta dữ vậy? Có phải ghét là đi song đôi với thương không chị Sáu Hà?
Tui tức trong bụng lắm, sừng sộ rồi réo rắc mỉa mai:
– Mầy không lên tiếng không ai nói mầy câm! Ừ thì tao sẽ ưng liền nếu hắn bẻ răng làm sính lễ đi hỏi, và nhổ tóc kết thành vòng hoa cưới… cho mấy mụ khỉ bây vừa lòng!
Tui bèn gằn giọng đay nghiến quay qua họ:
– Tui cũng không quên cho mấy người biết là hôm trước đi với mợ Ba ra ruộng coi người ta cắt lúa. Tui thấy tên Mười Cồ đó đứng bên kia bờ mẫu dưới đám trâm bầu râm mát. Hắn gò giọng ngọt ngào như ong bầu kêu trong thùng thiết: “Hò hơ, ơ, ơ…. Tôi chào cô Sáu như cuốn sách chạm bìa vàng, như chim oanh uốn lưỡi trên cành/ Chào rồi tôi chụp hỏi rành rành/ Hỏi căn cơ hà xứ phụ mẫu cùng huynh đệ thiểu đa/ Hỏi cho biết cửa biết nhà/ Nhờ ông mai tới nói, nay tới chết tôi cũng quyết giao hòa với một cô… hò hơ, ơ, ơ… hởi hò!” Gần đâu đó, giọng hò nữ lanh lảnh: “Hởi nầy cái anh Mười Cồ kia ơi/ Chớ… Cầu trơn em té xuống ao/ Bùn dính, quần tuột chỗ nào anh hun?” Một trận cười hô hố vang rang trên cánh đồng lúa mạ… Anh Mười Cồ ta có vẻ chùn lại, nhưng cũng gống gân cổ giọng ồ ồ hò đáp: “Hò hơ, ơ, ơ… Quần tuột bùn dính chẳng sao/ Tùy em, em thích chỗ nào anh hun…” (Thế Nhân). Lại một trận cười như vỡ chợ vang vang giữa đồng ruộng bao la, bát ngát hương đồng, gió nội. Và tên đó trợt chưn té ùm xuóng ao kế bên… làm mọi người cười muốn nghẹt thở!
Thật ra tên Mười Cồ chẳng chọc ghẹo gì tôi! Nhưng bị mấy chị và em chọc quê, cười nhạo khiến tôi ức lòng lắm tỏ ý không phục, khinh khỉnh gật gù cười nửa miệng ,chê bay tên Mười Cồ vô tội vạ đó cho hả tức:
– “Miệng chó không mọc ngà voi” Hắn ta chắc bắt chước ai đó hò lấy le để làm đẹp lòng các cô gái nhẹ dạ! Chớ bộ gió cái thằng đó có ra gì, cho hắn ta chút ánh sáng thì chói sáng cả bầu trời sao? Hoặc cho hắn ăn thóc thì hắn sẽ đẻ trứng gà hả? Mấy người đúng là nói bậy, nói bạ không hà… Khen hắn quá trời, vậy có giỏi thì mấy người cứ ưng hắn đi! Còn tui hả, ưng hắn thà để tui nhảy xuồng cầu Bình Lợi cho mát mẻ khỏe khoắn tâm hồn…
Mấy chị em tôi khoái chí cười ha hả, vỗ tay bôm bốp… Mợ Ba tội nghiệp con cháu gái, đến ôm đầu và vuốt tóc tôi cười tươi, nhẹ giọng vổ về:
– Cháu đừng có hờn giận chi cho mệt! Nói giỡn cho vui thôi, chớ cái thằng mắc toi đó ỷ lại cha mẹ có tiền không chịu học hành. Tối ngày nó ăn no rồi đi cà nhổng, giỏi cái là phá làng phá xóm, chọc ghẹo cho chúng chưởi chớ có ra tích sự gì đâu. Nó có cho “chiếu phết đàng/ Vàng phết ngỏ” mợ cũng không làm sao bằng lòng, cho thằng Mười Cồ cưới đứa nào trong các cháu của mợ! Nó tưởng bở hả, và đừng có nằm mơ giữa ban ngày!
Lời ngon ngọt vuốt ve đó đã làm thỏa lòng cô cháu nhỏ “ăn chưa no lo chưa tới” Bé Hà của mợ Ba!
Thuở còn đi học, mỗi năm đôi ba lần tôi được về quê ngoại trong dịp hè, Tết, hoặc cậu, hay dì cưới hỏi… Bởi lâu lâu mới về thăm, nên tôi luôn được nhà ngoại thương yêu chăm chút hơn các cháu ngoại, cháu nội hàng ngày sống chung hoặc ở gần. Ở tuổi thơ, không biết sao tôi thường hay gây ra nhiều chuyện ăn sâu vào ký ức, để nhớ mãi không nguôi!
Tôi vẫn không sao quên, buổi sáng đó các con mợ cùng tôi lấy thùng thiếc cắt lỡ múc nước đổ vào hang dế. Dế đùn làm hang quanh mấy liếp cải bẹ xanh có ngồng trổ bông vàng phơi phới dưới ánh bình minh.
Con dế nhỏ nhoi yếu mềm cũng biết sinh tồn, và khôn lằm chớ! Trong cái hang đào đường lên mặt đất, nó luôn đào thêm một, hoặc hai cái ngách để phòng hờ khi gặp chuyện, lên đường chánh không được, thì bò đường ngách mà tẩu thoát dễ dàng.
Hai đứa con lớn của cậu mợ Ba là thằng Liễm con Tảng, dĩ nhiên là khôn hơn mấy con dế rồi! Chúng nó dùng đất nhét cứng các ngách trước khi đổ nước xuống hang. Dế bị nước đổ dồn dập ngộp thở bò lên, thì anh em nó thộp đầu, bắt dế bỏ vào cái chum lớn đương bằng tre có nắp đậy!
Tui bắt chước chúng cũng thò tay bắt, khi thấy râu nó trồi lên… Bắt dế để chiều về cậu Ba ngắt đầu, ngắt đuôi nhét đậu phộng vào bụng, rồi lăn bột chiên giòn ăn thơm ngon vô cùng kể! Gặp dế mái, có trứng thì ăn bùi, béo ngon tuyệt vời ngon hơn cả trứng cá lóc.
Xui xẻo, lần đó khi thò tay bắt dế thì tôi bị con rít lửa từ hang ngoi lên kẹp chít vào tay mấy mũi… Vừa sợ vừa đau quá tôi khóc lóc và nhẩy lưng tưng rẩy văng con rít rớt xuống đất bò đi mất! Mấy đứa con cậu Ba cũng sợ vạ lây dỗ dành, bảo tôi vô giường trùm mền nằm một hồi sẽ khỏi…
Nghe lời chúng, nhưng nơi rít cắn càng lúc càng nhức nhối thêm và sưng chù vù! Còn bọn con mợ Ba sợ có đòn, chúng nó chun trốn dưới gầm giường, hay ở đâu mất biệt không nghe hó hé!
Ông bà ngoại sáng sớm đã đi chùa, dì, cậu ra vườn kẻ trông chừng thợ thầy hái trái, đào khoai, hoặc cắt cỏ. Nhà chỉ còn con Tảng mười tuổi, thằng Liễm chín tuổi, cùng tôi và em chúng nó.
Mợ Ba đi chợ chòm hõm bên kia sông, khi trở về không thấy đứa nào, nhà vắng hoe… Tìm kiếm một hồi nghe tiếng khóc tỉ tê, mợ vào buồng tốc mền lôi tôi ra thì bàn tay mấy ngón sưng húp như nải chuối ngự. Từ cườm tay trở lên sưng úc núc và ửng đỏ như giò heo bó dây được mấy bà nội trợ nhuộm màu để khìa hay phá-lấu…
Mợ Ba lôi mấy đứa con ra đánh cho một trận, vì tội chạy trốn không cho người lớn biết chuyện xảy ra sau đó. Bi đòn, chúng khai hết, và mợ lật đật đem cục đá bùn và dao ra mài. Mợ Ba tôi lấy chất đá bùn mài ra từ sắt thép của dao, có màu xám sển sệt để vào cái muỗng thiết đem hơ nóng, rồi phết lên những nơi rít chít trên tay tôi…
Nọc rít kẹp làm nhức nhối sưng vù, khiến tôi khóc thảm thê, khóc mùi mẫn, khóc như mưa như gió… Rồi tôi thiếp ngủ luôn một giấc dài cho đến chạng vạng tối. Khi thức dậy nơi rít chít không còn nghe nhức nữa và tay tôi cũng sộp dần… Tiếp tục xức nước đá bùn mài dao vào chỗ rít cắn, đâu hai ngày sau thì tay tôi được trở lại bình thường…
Rồi lần khác cũng con bé Hà nầy đã vào trong mùng ngủ, còn chơi trò đánh giặc chia ranh giới… Mấy đứa chị em con dì, con cậu biết mợ Ba luôn cưng chiều tôi, nên thường có những chuyện chúng nó không dám làm thì xúi qyẩy tôi làm. Để khi gặp sai trái thì tôi sẽ gánh cho bọn chúng, có khi được xử chìm xuồng, có khi lờ đi không đòn bọng chi hết…
Cái mùng bốn nóc, giăng cao khỏi đầu để ngăn muỗi mồng của ngoại mới may hôm trong năm, mình lưới còn trắng hếu. Thường ngày ở nhà không dùng, để dành giăng cho khách khứa ngủ. Vào mùa lễ nên các cháu về đông, lại thích ngủ chung với nhau để kể chuyện đời xưa, hay kể những chuyện vui, lạ cho nhau nghe. Chiều đó bà ngoại bảo mợ Ba lấy mùng mới ra giăng trên bộ ván gõ lớn rộng rãi ở nhà trước cho chúng tôi ngủ.
Eo ơi, thiệt không ai ngu bằng tôi! Nghe lời mấy đứa em, tôi đã dùng kéo cắt ngang cái mùng đang giăng ngủ! Để bọn tôi phân chia ranh giới hai bên đánh giặc! Phe đối nghịch bên kia mùng tôi vừa cắt đôi chia cho chúng!
Lần cắt mùng nầy bị ông ngoại dùng roi tre đánh tôi muốn tét đít… Bị chạy nọc mấy đứa kia cũng bị đòn tơi bời hoa lá. Mợ Ba dùng muối pha nước xức cho chúng tôi… Nước muối vào vết thương vừa đau, vừa rát thấu trời thấu đất! Cũng nhờ nước muối, mà hôm sau chúng tôi không còn bị sưng và đau nữa.
Sau việc làm dại dột bị đòn vì cắt cái mùng của bà ngoại, tôi biết khôn, từ đó không còn nghe lời xúi dại của mấy đứa ranh đó nữa!
Để cho đến bây giờ mấy chục năm sau, mỗi lần nhớ đến cắt mùng chia ranh đánh giặc tôi còn cười thầm! Và đôi khi hứng chí ngâm ca những câu hát có ý nghĩa na ná giống thuở ngày xưa thơ dại của chúng tôi ở quê ngoại: “Chiều bàn giao cho vùng đêm đen biên giới/ Theo cánh quân anh đóng ven lưng chừng đồi/ Nghe muôn côn trùng than trong đêm trường, sầu thương thế nhân/ Hồn rung tìm thức quay trong vùng thương nhớ len lén đưa anh qua bến mộng ngày xưa/ Chuyện ngày xưa chia đều ra hai phe đánh/ Anh lấy cây cầm súng bên em diệt thù/ Phe kia ngang tàng xua quân đốt nhà, đuổi hai đứa ta/ Trò chơi tuổi xanh hai bên cùng nhau đánh/ Tương sát lẫn nhau như oán thù ngàn thu…” Đó là bài: “Ngõ Hồn Qua Đêm” của nhạc sĩ Hàn Châu!
Rồi thời gian cứ lặng lẽ trôi qua không ngừng nghỉ. Năm mười hai tuổi tôi vừa đậu tuyển vào lớp Đệ thất trường Trung học tỉnh… Con Tảng, gái lớn của mợ Ba đã mười bảy tuổi được chồng cưới… Để thưởng và khoe với họ hàng nhà trai về đứa cháu bé bỏng, mợ cho tôi theo nhà gái đưa dâu qua cuối thôn bên kia.
Nhà chồng con Tảng cách nhà ngoại làng Mỹ Thiện rồi làng Hòa Khánh. “Nhà tôi sang nhà người con gái cách nhau con sông dài…” Chúng tôi đi trên con sông lớn nước ngọt quanh năm trong xanh, cho nhiều thủy sảnh nuôi dân làng hai bên bờ. Cây lành cho trái ngọt sum sê quằn nhánh… cùng, nếp, bắp, lúa khoai… nuôi dân đời nầy qua đời khác.
Mấy chiếc ghe hầu chở đưa cô dâu về nhà chồng treo bông hoa, kết tuội đủ màu đủ sắc rực rỡ… Ngoài cô dâu chú rể ăn mặc đẹp đẽ ra, hai họ cũng diện áo quần mới, hàng mắc tiền, màu sắc tươi mát, vòng vàng đeo đỏ cổ đỏ tay… Mọi người ở thôn quê bận rộn quanh năm, chỉ chờ cơ hội đi đám tiệc mà khoe sang, khoe đẹp trong ngày vui của con cháu, làm rỡ mặt ông bà, cha mẹ, họ hàng mà đời người chỉ cưới hỏi có một lần!
Họ nhà gái trở về sau buổi tiệc đưa dâu. Đã được nhà trai đãi khách nhà gái những món ngon thượng đẳng, đầy sơn hào, hải vị…
Bà con bên nội ngoại của con Tảng về dự đám cưới đông đảo. Nếu ở gần thì ai về nhà nấy ngay hôm đó, còn họ hàng ở xa thì sáng mai mới lên đường trở về nhà mình.
Những người còn ở lại dùng bữa cơm chiều vui vẻ. Ăn xong kẻ uống nước trà ăn bánh ngọt, người miệng nhai trầu bõm bẽm. Truyện xưa, chuyện nay kể lể cho nhau nghe, vì mấy khi được gặp gỡ vui vẻ như thế nầy…
Còn riêng tôi sau khi đưa dâu về thì vào buồng nằm. Tôi cảm thấy khó chịu, đầu hâm hấp nóng, chẳng muốn ăn uống gì cả! Tôi cảm thấy mình yếu đuối như không còn sức lực, và cơn nóng mỗi lúc một tăng cao hơn, khiến tôi cảm thấy cổ khô, miệng đắng, tay chân như bủn rủn, bời rời…
Mợ Ba không thấy tôi ăn cơm chiều, vào buồng tìm. Mợ phát giác, lôi xốc tôi dậy la thất thanh gọi người phụ giúp… Khi đó mình mẫy tôi nóng như lửa, tay chân co giật và hai mắt trợn ngược lên như sắp chết…
Trong nhà kẻ nấu nước người đốt lò hơ và đánh mỏ la làng cầu cứu. Ai bày gì làm nấy, cốt để cứu sống người rồi tính sau… Trong lúc mê mang người nhà sợ tôi cắn hoặc nghiến nhầm lưỡi… nên đã chêm cây cứng ngắt giữa hai hàm răng tôi. Vì thế thì làm sao tôi nuốt trọn con thằn lằn để chữa bịnh kinh phong đang giựt từng cơn? Họ đành cạy miệng cho tôi nuốt thằn lằn, trong khi hai hàm răng còn chêm cây thì làm sao tỉnh táo mà nuốt trọn con thằn lằn vào được? Cho nên người ta cạy miệng tôi lớn thêm ra, bắt con thằn lằn để vào rồi ngắt đuôi. Con thằn lằn bị đau điếng hoảng sợ chạy tuốt luốt vào trong cuống họng, vào trong bụng…
Giờ đây mỗi khi nghe nhắc lại chuyện đã qua, mắt mợ Ba mơ màng nhìn trời xa xăm, như đang hồi tưởng những gì khiến mợ ngập ngừng chẳng muốn nói ra! Ai đứng gần đó, biết chuyện, hay bà ngoại thì liền tiếp lời:
– Đã nuốt thằn lằn rồi mà miệng con Hà vẫn còn xùi bọt, và mắt vẫn trợn trừng! Mọi người có mặt đều nghĩ cháu sẽ chết! Bỗng ông Hai Trò là thầy “bùa lỗ ban” chuyên trị rắn cắn bằng miệng ông đọc mấy câu thần chú, thì bịnh nhân khỏi bịnh và con rắn tự động ngoan ngoạn bò đến đế ông bắt! Ông Hai lanh miệng bảo: “Bây giờ còn một cách trị gia truyền nầy… Giờ chỉ nhờ vào phước đức ông bà cha mẹ, may ra cứu sống được con nhỏ! Nếu không được nữa thì đành bó tay vô phương, và lo hậu sự đi…” Mọi người có mặt nhao nhao lên: “Cách gì, cách gì? Xin nói đi… làm ơn nói để cứu cháu tôi! Mau nói đi ông Hai, mau giúp cứu cháu… ông Hai ơi…”
Không nói ra, ai cũng đoán biết: Lúc đó chắc chắn ông bà ngoại, cậu, dì, ba má tôi, mọi người có mặt chạy loạn xạ, kẻ vái, người cầu nguyện… Từ trong nhà, ra đến sân trước sân sau ở các bàn thờ ông Tiên, miếu Thổ Thần, Thổ Địa… Vì mặt mày tôi tái xanh và môi đã trở tím…
Mợ Ba tôi từ nhà sau chạy ra như ngây dại, phóng đến chỗ nằm ôm xốc tôi dậy! Cậu Ba phụ một tay cùng ông Hai Trò cạy mạnh răng cho miệng tôi há rộng thêm ra… Giờ họ không còn sợ cạy miệng tôi đau nữa! Mợ Ba lẹ làng kề miệng sát vào nhổ hết nước ngậm trong họng mợ vào miệng tôi, và xốc ngồi thẳng lên cho nước vào cổ họng đi vào bên trong tôi… Nước trong miệng mợ Ba nhổ tràn vào miệng chảy vào cổ họng, bỗng tôi ợ cái rột, và khóc thét lên! Mặt mày tôi trở lại hồng hào trong giây phút chớp nhoáng… Mọi người thở phào nhẹ nhõm “Tạ ơn Trời Phật, con nhỏ đã được cứu sống rồi…”
Mợ Ba tôi đang bên kia đầu dây điện thoại, cách nơi tôi đang ở xa hơn nửa vòng trái đất! Đã làm tôi quay về thực tế, khi giọng mợ mếu máo ngập ngừng từ tiếng một:
– A-lô, a-lô… bây còn đó không Hà? Cảm ơn bây, năm nào cũng vài lần gởi quà về cho mợ. Hồi còn trẻ mợ đã ăn chay trường đến nay, nên không có tốn kém về ăn uống bao nhiêu… Tiền bây cho tao để dành cứng ruột ngựa… Tao đã giúp cho mấy đứa nhỏ lợp nhà, làm vách… và đôi khi cho chúng bất ngờ bị ốm đau nữa…
Nói đến đó mợ ngừng một chút, rồi tiếp:
– Ờ Hà nè, bây còn nhớ cái thằng Mười Cồ con bà Bái Kiết ở xóm trong nhà ngọai không? Cái thằng đó thiệt cả đời không ra tích sự gì cả! Ngày xưa sợ đi lính đánh giặc bị chết, nên ba má nó cho đi lính nghĩa quân, giữ an ninh cho làng xã. Đến khi “họ” vào, thằng chết tiệt đó hùa theo bọn 30 tháng 4, năm 75 chuyên môn làm chuyện sát nhân, thất đức. Nó chỉ điểm, bắt bớ, hại người ta, hoặc làm tiền những người ta buôn bán đường, gạo mà nhà nước cấm… Mấy năm sau sanh chứng mèo mả gà đồng nên bị vợ con bỏ không cho vô nhà, và cũng bị đồng bọn nó đuổi không cho làm tay sai nữa… Nó lang thang ngủ đình, ngủ chợ…
Mợ ngừng nói như nghĩ lấy hơi, rồi tiếp:
– May mắn đêm đó chạy xuống ghe vượt biên ké của người ta… Qua Mỹ gần hai mươi năm, võng lộng trở về bái tổ vinh qui, sau đó đi cưới con vợ bằng tuổi cháu nội nó. Rồi hùn hạp làm ăn với bên vợ ở đâu trên Biên Hòa, chừng hai năm thì cũng bị con vợ nầy và bên họ vợ đá đít, mình không ra khỏi nhà! Không bao lâu thằng Mười Cồ bị chết bất đắt kỳ tử, với giấy chứng nhận tử vong của y tế là: “đột quỵ tim mạch” Mấy đứa nhỏ của con vợ trước nghĩ tình cha con, nên đem xác nó về chôn bên mộ ông bà Bái Kiết… Không biết sao tao nghe hễ Việt kiều nào về nước bất ngờ chết, cũng đều bị một chứng bịnh đột quỵ tim như nhau cả? Mà nè Hà à, năm nay mợ yếu lắm rồi, chừng nào tụi bây về thăm mợ Ba vậy?
Giọng nói của mợ bỗng dưng nghẹn ngào. Đầu dây bên nầy tôi cũng bồi hồi xúc động:
– Dạ chưa biết thưa mợ… Ông xã con yếu lắm, nên ngồi máy bay đi xa nhiều giờ sợ chịu không nổi… Chừng nào về con sẽ báo cho mợ biết… Mợ nhớ ăn uống và thuốc men cho khỏe mạnh nghe…
– Ờ thì trời kêu ai nấy dạ mà bây… Mợ năm nay đã chín mươi hai (92) tuổi rồi! Chờ bây về tới đây chắc mồ tao xanh cỏ…
Giọng mợ ngập ngừng rồi hụt hẫng trong nước mắt và bỏ lửng giữa chừng câu nói! Thằng Khịa con trai út của mợ đỡ lời… Nó thăm hỏi thêm đôi điều rồi gác máy…
Đã ngoài bốn mươi năm tôi mới được nghe lại giọng nói của mợ Ba! Phu quân tôi ngồi gần đó vẻ mặt bùi ngùi, đôi mắt u buồn nhìn ngoài trời nắng đang nhảy múa trên cây cỏ lá hoa khi gió lướt qua. Con gái tôi rời quê hương còn nhỏ, chưa biết gì nhiều về cố quán, nhưng cháu trầm ngâm có vẻ ưu tư theo tâm tình của mẹ cha! Tôi gác máy điện thoại, kéo khăn lau dòng nước mắt nhớ thương!
Mợ Ba tôi đúng là một người phụ nữ theo truyền thống gia đình Việt Nam. Cả đời nuôi con, thờ chồng, phụng dưỡng cha mẹ chồng đến trăm tuổi già… Mợ là một người vợ đảm đang, người mẹ tốt và con dâu hiếu đạo mà chị em bên chồng ai cũng mắc nợ ân tình của mợ! Ngoài thương yêu tôi ra, sinh mạng của tôi cũng nhờ mợ cứu sống… Ơn nghĩa của mợ không biết bao giờ tôi mới trả hết!
Lúc má tôi còn sanh thời, bà thường nhắc nhở chị em chúng tôi, nhứt là tôi phải nhớ đền ơn đáp nghĩa cho mợ. Bởi lần đó bất ngờ tôi bị bịnh kinh phong tưởng hồn lìa khỏi xác! Thì mợ Ba đã nhai trùng hổ với trầu lương, nhổ vào miệng để cứu sống tôi! Một việc làm ít có người phụ nữ nào dễ dàng làm được, trong khi tôi chỉ là đứa cháu chồng nhỏ bé! Và lúc đó má ba… tôi cũng đang có mặt ở hiện trường. Mợ không so đo, nề hà mà đã cứu sống tôi sát bờ cõi chết!
Sau nầy có ai nhắc đến chuyện mợ nhai trùng hổ cứu tôi, thì mợ Ba cười khì, nhẹ nhàng hiền lành bảo:
– Thấy con nhỏ nóng như cục than đang đốt đỏ. Miệng nó sùi bọt đầy mép, mặt mày tím ngắt, tay chân co giựt hết sức đau khổ! Nếu toan tính, suy nghĩ, hay chần chờ thì nó sẽ mất mạng! Nên không ai sai bảo, tự dưng tôi không đắn đo mà mau lẹ làm chuyện đó… Bởi không phải ông bà ta từ ngàn xưa đã bảo “cứu người như cứu hỏa” sao!
Tôi còn nghe, thấy và biết mà cảm thấy lòng mình se thắt! Tội nghiệp mợ lắm, cả mấy tháng trời sau khi nhai trùng hổ để cứu tôi, mợ còn bị nhợn, bị ói, và không bữa nào ăn được ngon miệng! Cũng kể từ đó mợ Ba tôi không ăn được các loại cá không có vẫy như cá trạch, cá trê, lươn… Mười mấy năm sau mợ vẫn còn giùn mình, phun nước miếng, nhợn ói mỗi khi nhớ đến việc nhai trùng hổ lần đó…
Ngoài trời nắng vàng võ của buổi chiều còn vương nhẹ trên những dãy nhà cao, nhà thấp. Gió hắt hiu lạnh, cái lạnh không tái tê, nhưng làm nổi da gà của tiết trời cuối mùa đông ở California miền Nam nước Mỹ.
Bông hoa, cây trái héo xào với tiết trời lạnh lẽo! Nhưng cây chanh vẫn xanh lá có những chùm vàng trái chín vàng sai quằn nhánh sau nhà. Bên cạnh hồ cá kiểng còn có cây cam tàu, cây quít đường trái no tròn, chín vàng ngã đỏ trông thiệt mát mắt. Có loại cây nở bông hoa vào tiết trời lạnh. Có cây nẩy ra cây con chiếm nhiều đất, nên tôi đã trồng trong những chậu lớn, đặt bên đường đi sau nhà, như là cây:
* Bông mai Mỹ forsythia (liên kiều) giống như huỳnh mai của miền Nam nước Việt. Hoa có năm cánh màu vàng anh, vàng nghệ… dài, nhọn ở đuôi, búp nụ, lâu tàn. Những chùm hoa mai hé nở, nhụy vàng mơn mởn rải rác trên cành. * Huỳnh mai Ochna pretoriensis (Nam Phi) * Mai vàng của Indonesia, nở hoa bốn mùa có tên là Ochna kikii oliv. * Cây quince, là loại cây thực vật có trái ăn được, làm rượu ngon. Bông quince nở thường vào Tết Nguyên Đán, có nhiều cánh, từng chùm. Mỗi cây có màu khác biệt như: trắng, hồng, đỏ… tùy theo ánh sáng mặt trời. Hoa màu đỏ chưng trong nhà sẽ trở màu hồng, hồng thì sẽ trở thành trắng hồng… Bông quince na ná giống hoa đào ở miền Bắc nước Việt. Mùa Tết Nguyên Đán người dân Nam thường dùng những cành bông quince hồng thắm thay thế cành đào…
Những trái chín mọng, những cành hoa sau vườn, ẻo lả phơi phới trong gió xuân chờ cắt vào chưng trong phòng khách có mâm ngũ quả. Chưng cúng bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà với bánh, trà, mứt, trầm hương… Để người Á Đông, nhứt là dân Việt mừng đón xuân về trong an bình hạnh phúc tự do ở xứ người.
Mấy mươi năm qua mọi sự việc thay đổi! Thời gian đã cướp mất đi rất nhiều nhân sự của gia đình bên nội, bên ngoại tôi. Ông bà ngoại, các cậu, dì cùng má tôi cũng đã ra người thiên cổ! Chốn quê nhà thân yêu xa xôi đó, giờ đây tôi chỉ còn các em con dì, con cậu, họ hàng gần xa…
Người lớn tuổi duy nhứt còn sống sót là mợ Ba tôi. Mợ đã trải qua bao nhiêu thăng trầm dâu bể trên đường đời! Mợ đã chứng kiến bao nhiêu hưng phế của thời cuộc đổi thay bằng trái tim chân phương của một phụ nữ quê! Nay mợ Ba tôi cũng đã ở tuổi chín mươi hai (92) đang chờ mong đứa cháu nơi phương trời xa thẵm, trở về thăm lại trong lúc tuổi hạc của mợ cũng đã gần đất xa trời!
“… Kính mợ Ba, khi giặc tràn vào gia đình cháu bỏ nhà, bỏ xứ chạy lấy thân! Chúng cháu đã nhận nơi nầy làm quê hương! Xin lỗi, xin mợ hiểu dùm cho, xuân nầy cháu vẫn chưa về được! Cháu sẽ trở về thăm lại khi nào cố quốc không còn chế độ Cộng sản! Ơn nghĩa của mợ Ba cháu làm sao quên được! Nếu kiếp nầy chưa trả hết, cháu xin kết cỏ ngậm vành đền đáp ở kiếp lai sinh…”
California, lập xuân 2013
Tệ xá Diễm Diễm Khánh An
DƯ THỊ DIỄM BUỒN
ĐT: (530)822 5622
Email: dtdbuon@hotmail.com