Dường như có thêm các nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc biến mất
Dường như có thêm các nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc biến mất
Michael Wines
02-09-2011
Bắc Kinh – Hôm ngày 27 tháng 1 vừa qua, bà Govruud Huuchihuu, một nhà hoạt động nhân quyền người Nội Mông bỗng nhiên biến mất sau khi rời khỏi bệnh viện nơi bà đang điều trị bệnh ung thư. Hôm 16 tháng 2, Đường Cát Điền, luật sư nhân quyền Bắc Kinh biến mất sau khi các viên chức cảnh sát cưỡng bức bắt đi. Ngày 30 tháng 5, Ershidin Israel, người Tân Cương, bị biến mất sau khi bị trục xuất từ Kazakhstan về Trung Quốc như một nghi can khủng bố. Hai tuần lễ tiếp theo, ba người Tân Cương khác cũng biến mất.
Họa sĩ người Bắc Kinh và là nhà bất đồng chính kiến, ông Ngải Vị Vị đã bị biến mất trong đồn cảnh sát ngày 23 tháng 4 và không hề xuất hiện trở lại cho đến tận ngày 22 tháng 6, ông là một nhà hoạt động nổi tiếng nhất ở Trung Quốc bị “cưỡng chế mất tích “ theo cách gọi của các viên chức nhân quyền về các tình tiết như thế. Các chuyên gia này nói, trong năm 2011 có sự gia tăng nhanh và đáng ngại ở Trung Quốc về một chiến thuật an ninh mà Công ước của Liên Hợp quốc đã đặt ngoài vòng pháp luật.
Hiện Trung Quốc đang trả lời các nhà hoạt động nhân quyền về cáo buộc liên quan đến những vụ mất tích trái luật và vô nhân đạo của những người nói trên và những người Trung Quốc khác bằng cách: chính quyền đang viết lại bộ luật tố tụng hình sự để làm cho các hành động đó trở thành hợp pháp.
Bản dự thảo mới hiện đang được công chúng xem xét, đã được một ủy ban Quốc hội của đất nước – giống như lập pháp – soạn thảo. Bản dự thảo sẽ sửa đổi bổ sung luật hiện hành, nhằm cho phép các quan chức chính quyền quản chế tại gia những nghi phạm kéo dài tới 6 tháng. Đề nghị sửa đổi này sẽ cho phép cảnh sát giam giữ bất cứ người nào tại các địa điểm bí mật, những người mà theo điều khoản giam giữ tại gia bị coi là cản trở công việc điều tra. Gia đình của những nghi phạm sẽ được thông báo trong vòng 24 giờ, trừ khi việc thông báo đó có thể cản trở việc điều tra liên quan đến an ninh quốc gia và khủng bố.
Các nhà chỉ trích mô tả bản đề nghị sửa đổi là một trong những bước thụt lùi rõ rệt nhất về việc bảo vệ pháp lý cho người dân, những người làm chướng tai gai mắt các nhà chức trách Trung Quốc, kể từ khi đất nước bắt đầu chuyển sang bắt chước hệ thống luật pháp kiểu phương Tây ba thập niên trước. Luật sửa đổi cho phép các quan chức an ninh một khoảng thời gian rộng rãi để làm cho các nhà bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động khác “biến mất”, mà không báo cho bất cứ người nào biết, nói cách khác, nó sẽ hợp pháp hóa các thủ đoạn [được coi là bất hợp pháp] hiện nay của cảnh sát.
Bản dự thảo là một phần trong một sửa đổi lớn hơn về luật tố tụng hình sự, trong đó một số lĩnh vực khác được các chuyên gia pháp lý khen ngợi, vì bản dự thảo sẽ cho nhiều nghi phạm liên quan đến những tội thông thường có được sự bảo vệ về mặt pháp lý mới, cũng như chế ngự khả năng lạm dụng quyền lực của các nhà chức trách. Chẳng hạn như nội dung của bản đề nghị mới được công bố ngăn cấm việc sử dụng chứng cứ thu thập được bằng tra tấn. Dự thảo này cũng cho hầu hết các nghi phạm quyền tuyệt đối để gặp luật sư, và sẽ mở rộng yêu cầu các nhân chứng phải thực sự xuất hiện tại phiên xử để đưa ra các lời khai làm chứng.
Trong khi các điều nói trên là những nguyên lý căn bản trong thủ tục hình sự khắp nơi trên thế giới (tất nhiên, ngoại trừ các nước dân chủ vạn lần hơn dân chủ tư bản – ND), có khả năng tiến bộ đột phá ở Trung Quốc, nơi mà hệ thống tòa án không phải là một nhánh độc lập với chính quyền, mà chỉ phục vụ cho Ðảng Cộng sản với mối quan tâm lớn nhất là duy trì quyền lực nhà nước.
Vẫn còn phải đợi xem liệu các sửa đổi, nếu chúng được [phê chuẩn] thành luật, có được thi hành như đã viết ra hay không. Một số nhà phân tích bày tỏ hoài nghi, chẳng hạn như, liệu việc cấm [sử dụng] bằng chứng thu được từ tra tấn [thực sự] có hiệu lực hay không, bởi các luật sư chưa được quyền có mặt trong các cuộc hỏi cung, là nơi mà hầu hết các hành động tra tấn xảy ra.
Theo ông Joshua Rosenzweig, một nhà phân tích nhân quyền độc lập, có trụ sở tại Hồng Kông và là một chuyên gia hàng đầu về các thủ tục hình sự Trung Quốc, đã nói: “Sự cân bằng giữa sử dụng luật để bảo vệ xã hội và sử dụng luật để bảo vệ các quyền cá nhân vẫn bị đè nặng về phía bảo vệ xã hội. Và mọi người có thể nói một cách giễu cợt hơn nữa là phía bảo vệ Ðảng“.
Nếu quá khứ là một chỉ dấu nào đó, thì các đề nghị sửa đổi liên quan đến việc mất tích do bị cưỡng chế, có lẽ sẽ ảnh hưởng đến một số người tương đối nhỏ, hầu hết là những người bất đồng chính kiến và những cái gai khác trong mắt chính quyền. Tuy vậy, ảnh hưởng hẹp [của những sự biến mất cưỡng chế đó] không làm giảm tầm quan trọng của chúng, ông Rosenweig lập luận.
Mất tích do bị cưỡng chế được quan tâm rộng rãi, xem như sự lạm dụng về các quyền con người, bởi vì chúng không cho những người bị tình nghi có được sự bảo vệ pháp lý, bắt họ hàng của những người bị mất tích phải chịu căng thẳng tinh thần một cách không cần thiết, và nói chung làm tăng khả năng các viên chức sẽ thực hiện tra tấn do không bị giám sát khi giam giữ những người bị bắt ở những nơi không được tiết lộ. Ông Lưu Hiểu Nguyên, một luật sư biện hộ nổi tiếng được biết do tham gia vào những vụ án “nhạy cảm”, gọi đề nghị sửa đổi là “đáng sợ”.
Ông nói: “Việc mất tích cưỡng chế đó theo đúng nghĩa đen của nó là cho cảnh sát một cái vé để thoát khỏi mọi hình thức của sự giám sát. Luật hình sự nên bảo vệ các quyền của công dân và giới hạn quyền của các nhà chức trách. Bản sửa đổi mới này hoàn toàn làm ngược lại“.
Caixin, một tạp chí thương mại điều tra dũng cảm, đã gọi điều khoản này là “sự biện hộ kiểu hổ lốn (grab-bag) dẫn tới việc các cơ quan điều tra sẽ quyết định theo ý thích của họ, nên hay không nên thông báo cho các thành viên gia đình, [đồng thời] dẫn đến việc giam giữ bí mật trở nên tràn lan”.
Bản dự thảo vẫn chưa được chấp thuận, và vẫn có thể thay đổi mặc dù hầu hết các chuyên gia cho rằng điều đó khó xảy ra. Bản dự thảo đã trở thành đối tượng để công luận chỉ trích dữ dội trên các blog chính của đất nước; một bài viết cáo buộc rằng, nó đã “nâng cảm giác bất an của người dân Trung quốc lên một mức mới”. Một bài khác nói “Luật hình sự mới này nên được gọi là ‘qui định kiểm soát người đặc biệt vào những thời điểm hỗn loạn’ “.
Một số nhà phân tích cho biết, họ thấy có sự tiến bộ trong các kiểu chỉ trích đó. “Công dân Trung Quốc ngày nay không còn chấp nhận như một việc đương nhiên, rằng chính quyền được Thượng Ðế ban cho cái quyền đưa ra bất cứ luật lệ nào mà họ thích“. Ông Nicolas Bequelin, môt nhà nghiên cứu của tổ chức Theo dõi Nhân quyền có trụ sở ở Hồng Kông đã nói như vậy.
Hồi tháng 6, một nhóm làm việc của Liên Hợp quốc về các trường hợp bị mất tích cưỡng chế, đã bày tỏ mối quan ngại ngày càng nhiều về việc gia tăng các trường hợp mất tích như thế ở Trung Quốc, và gọi chúng là “sự tiếp tục của một xu hướng đáng ngại trong việc đàn áp những người bất đồng chính kiến“.
“Không có bất cứ lý do nào có thể bào chữa cho việc mất tích của người dân, đặc biệt khi những người đó bày tỏ bất đồng chính kiến với chính phủ nước họ một cách ôn hòa“, nhóm làm việc của Liên Hợp quốc đã nói như vậy trong một bản tuyên bố.
Hai công ước của Liên Hợp quốc, một được thi hành năm 1976 và một vào tháng 12 năm ngoái, cam kết với các nước thành viên là phải kiềm chế trong việc làm cho công dân của họ bị mất tích cưỡng chế và bảo vệ các quyền pháp lý của dân. Trung Quốc đã hứa phê chuẩn cả hai công ước đó, nhưng cho đến nay vẫn chưa thực hiện điều này. Hoa Kỳ cũng chưa phê chuẩn công ước 2010, trong đó cấm việc mất tích do bị cưỡng chế (*).
Giống như ông Ngải Vị Vị, nhiều người Trung Quốc bị mất tích cuối cùng cũng đã xuất hiện, một số dấu hiệu cho thấy [họ] đã trải qua sự đối xử tàn tệ trong thời gian bị cầm tù. Những người khác đã bị biến mất mà không có một sự giải thích nào trong thời gian dài, kể cả cây viết được giải thưởng Nobel và là nhà bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba, đã bị biến mất 6 tháng trong năm 2008 và 2009.
Và một số người hoàn toàn không trở lại, giống như luật sư nhân quyền Cao Trí Thịnh, không được nghe nói đến kể từ khi ông ấy mất tích hồi tháng 4 năm 2010. Một số người khác cũng đã bị mất tích lâu hơn thế.
——-
Ghi chú:
(*) Sở dĩ Mỹ và nhiều nước phương Tây không ký vì cho rằng công ước này chưa đạt yêu cầu (nguyên văn: did not meet our expectations), khác với trường hợp Trung Quốc, không ký là vì Bắc Kinh muốn những người bất đồng chính kiến tiếp tục “biến mất”.
Nguyễn Trùng Dương dịch từ : The New York Times