Kinh Vô Thường tác giả Võ Thạnh Văn

Kinh Vô Thường

CÁT BỤI

1

thơ

phù hư dật sĩ

VÕ THẠNH VĂN

Vanitas

Vanitatum

Omnia Vanitas

Phù vân

Phù vân của phù vân

Tất cả đều phù vân

Quỳ dâng THƯỢNG ĐẾ

Đấng Hóa Công kỳ vỹ

vô thủy, vô chung

Cúi dâng SONG THÂN

để tri ân giọt máu

thủy chung, khiêm hạ

Trao tay TRI KỶ

những người đã một lần

gặp gỡ trong đời

Thương gởi TRI ÂM

những tao nhân, mặc khách

đang cầm trên tay

tập CÁT BỤI nầy.

KINH VÔ THƯỜNG

chứa 10 nghìn câu thơ lục bát

được phân thành 10 tập

từ Cát Bụi 1 đến Cát Bụi 10

mỗi tập 1000 câu.

Như vậy,

Toàn bộ KINH VÔ THƯỜNG

có 70 nghìn chữ

mỗi tập Cát Bụi chứa 7 nghìn chữ

KINH VÔ THƯỜNG

được đóng thành 2 quyển

Quyển Thượng

từ Cát Bụi 1 đến Cát Bụi 5

Quyển Hạ

từ Cát Bụi 6 đến Cát Bụi 10

TỰA

cho toàn bộ 10 tập CÁT BỤI

của KINH VÔ THƯỜNG

Giáo Sư Tiến Sĩ Khoa Học Gia Nhà Văn

Toàn Phong NGUYỄN XUÂN VINH

xxxxxxxx

TỰA

CÁT BỤI  #1

Thi Lão HÀ THƯỢNG NHÂN

Cuộc đời vốn vô thường, nay còn mai mất. Sinh để mà diệt, có để mà không, còn để mà mất. Lão Tử nói: “Tạo Hóa bất nhân.” Thật ra, không phải Tạo Hóa bất nhân, mà, Tạo Hóa vô tình trước mọi sự, thản nhiên trước mọi việc.

Cổ nhân khắt khe ư? Nhiều người đẹp cỡ Tây Thi, Chiêu Quân mà cổ nhân nỡ bảo đó là “cái túi da đựng mớ thịt thối.” Sự thật vốn tàn nhẫn. Sự sống là tự đánh lừa mình bằng những ngôn từ hoa mỹ. Thật ra, chỉ vì cổ nhân đã thấu suốt tận ngọn ngành nguyên ủy mà thốt lời chân thật vậy.

Suy đến cùng thì đời người chẳng có gì cả. Sống lâu hay chết yểu thì cũng có lúc bắt đầu và chấm dứt. Cho nên cổ nhân lại nói: “Không có thọ yểu, không có  sang hèn.” Dù biết đời không có gì cả mà tác giả Võ Thạnh Văn lại làm KINH VÔ THƯỜNG dài đến mười nghìn câu thơ lục bát!

Con người quả là một con vật phi lý. Lỗ Trí Thâm vừa đi tu vừa ăn thịt chó và uống rượu. Nguyễn Công Trứ thì lên Chùa lễ Phật mà “theo sau đủng đỉnh một đôi dì…” Đời người vốn vô nghĩa như cuộc đời vốn vô nghĩa vậy. Con người vốn vô lý như cuộc đời vốn vô lý vậy.

Tác giả Võ Thạnh Văn chắc chắn thừa biết câu: “Hữu danh bất như vô danh, vô danh bất như đào danh.” Đào danh là chạy trốn sự nổi danh. Trốn danh lại còn viết sách! Viết sách để làm gì? Để khoe kiến thức, thông thái, uyên bác, tài năng?… Hay ít nhất là “thốn tâm thiên cổ” gởi gắm tấc lòng mình lại cho mai hậu, mong gặp được kẻ tri âm, người tri kỷ.

Người xưa, Khổng Minh và Châu Do là hai kẻ thù bất cộng đái thiên. Du than: “Thiên sinh Du hà tất sinh Lượng.” Trời đã sinh Du sao còn sinh Lượng?! Thế mà khi Chu Du chết, Khổng Minh đã khóc bằng một bài điếu văn vô cùng thảm thiết. Hóa ra, giết Du mà Khổng Minh vẫn thật tình thương Du. Bởi, trong đời, Du mới đáng mặt tri kỷ của Khổng Minh Gia Cát Lượng Vũ Hầu vậy.

Tôi nghĩ Võ Thạnh Văn chẳng muốn khoe mình, cũng chẳng mong gì tìm được tri kỷ tri âm trong mai hậu. Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ chỉ muốn kiếp sau làm một cây thông đứng giữa trời mà reo, nhưng vẫn làm hết tập thơ nầy đến tập thơ khác. Bởi, không viết thì không chịu được. Bất bình tắc minh là thế đấy.

Chung cuộc, kẻ tài tuấn trong thiên hạ, từ đông sang tây, từ kim chí cổ, bất đắc dĩ mà phải viết, bất đắc dĩ mà phải làm văn chương đấy thôi. Âu cũng là cái nghiệp dĩ của một kiếp tài hoa nghiệp chướng nặng nợ văn chương. Võ Thạnh Văn cũng nằm trong cái định luật thường hằng muôn kiếp ấy.

Viết tại chung cư Sommerset park, San Jose, California, Đêm mồng 10 tháng Sáu, năm 2007.

HÀ THƯỢNG NHÂN

TIỂU TỰ

Của Tác Giả Nhân Ngày Hoàn Thành

CÁT BỤI #10

Của Toàn Bộ KINH VÔ THƯỜNG.

KINH VÔ THƯỜNG là lời kêu thương bi thống của một kiếp nhân sinh bi lụy trong cõi trần bi ai. Đó là lời ca cùng tột bi tráng chứa đựng ngậm ngùi chất ngất đau thương của những tâm hồn vươn lên từ nỗi bi thiết thường hằng.

Từng chữ trong KINH VÔ THƯỜNG là từng bước chân rời rạc rã riêng của hành trình đi vào tâm thức, một tâm thức tuyệt đối cô đơn khép kín riêng tư. Từng chữ, từng lời là những bước chân hành giả trên đường hành hương, ngơ ngác dọ dẫm đi vào tự thức để tìm lại chính mình.

Nhìn lại cho rõ chính mình, cái bản lai diện mục, là nhận diện nỗi bi thương to lớn của kiếp nhân sinh. Nỗi bi thương to lớn ấy chính là con người đã đánh mất bản thể từ lúc chưa sinh. Từ đó, con người hoang mang và miệt mài tìm kiếm chính mình trong huyễn vọng.

Trong suốt cuộc hành trinh đơn độc đi vào tiểu ngã để tìm kiếm đại ngã, con người vừa hân hoan bắt gặp, vừa ngậm ngùi chua chát cho thân phận. Đó là hình ảnh ngậm ngải tìm trầm giữa rừng thiêng nước độc của non ngàn bát ngát.

Giữa đoạn đường tìm kiếm đó, con người chợt mê chợt ngộ, chợt tỉnh chợt say, chợt ngủ chợt thức, chợt mừng chợt tủi, chợt mù chợt sáng. Càng mê càng băn khoăn, trăn trở, thao thức. Càng (tiểu) ngộ càng chập chờn, khắc khoải, mất ngủ, nghi hoặc.

Đông Thiên, Tây Trúc và miền Đất Hứa… càng đi càng lạc, càng đến gần càng giạt xa. Đứng sát bên Linh Thứu vẫn thấy mình trôi giạt, lạc lõng, quạnh hiu. Quỳ dưới chân núi Sinai chợt biết mình mất hướng, bồng bềnh, vong lạc.

Đó chính là nỗi bi tráng, nhục nhằn, thống hận, lạc hướng, hoang mang, khắc khoải, bất lực, ngờ vực… của kiếp người, của từng kiếp người, của muôn thuở, của muôn nơi, của bất cứ không gian hoặc thời gian nào.

Có lẽ, thái độ khôn ngoan duy nhất mà con người có thể là nên khiêm nhượng lựa chọn cho chính mình, qua khuôn thước mà cha ông đã vạch sẵn, đó là: Gần với trời, hòa với đất, vui với đạo, yên với đức, bằng lòng với mệnh, chấp nhận an bài.

Như thế cũng có nghĩa là: Không xa đời, không lánh người. Đối với đời cũng như đối với người: không oán, không ghét, không giận, không hờn… mà, chỉ thương, chỉ nhớ, nên vui, nên mừng… để tích hợp diệu nghĩa, để biểu đạt lương duyên.

Từ đó, từ trong nỗi quạnh hiu tuyệt đối, con người nhận chân Đấng Tạo Hóa để điềm nhiên cười cợt với cô đơn hiện hữu, ve vuốt khổ đau thường hằng, mơn trớn những bất hạnh chung quanh, chiêm nghiệm lẽ sắc không vô thường từng niệm, kết thân với sự chết đang rình rập phút giây.

Từ đó, cùng với đức khiêm hạ chân cần thiết, lấy thiên nhiên làm thầy, lấy sương khói làm bạn, lấy trăng nước làm vui, lấy lá hoa cây cỏ làm sản nghiệp, lấy bốn mùa làm của riêng tư, lấy sắc không vô thường làm thi nghiệp, lấy niềm tin tôn giáo làm thần hứng đầy mãnh lực sáng tạo.

Từ đó, con người biết thực là thực, biết hư là hư, biết hư là thực, biết thực là hư; biết có là có, biết không là không, biết có là không, biết không là có; biết còn là còn, biết mất là mất, biết còn là mất, biết mất là còn; biết tụ là tụ, biết tán là tán, biết tụ là tán, biết tán là tụ, biết hợp là hợp, biết tan là tan, biết hợp là tan, biết tan là hợp…

Bởi vì cuộc sống biến động vô thường, từng giây, từng phút. Do đức hiếu sinh của Tạo Hóa mà cuộc sống sinh hoại dị diệt xảy ra từng sát na, từng niệm… Cho nên, cây lá phải rã mục cho hạt nẩy mầm. Con người muốn trổ hoa cũng phải tự vác thập giá đi lên đỉnh Golgotha, phải bước qua sa mạc để đến Đất Hứa, phải chết đi để được phục sinh.

Từ đó, từ hiểu biết và thái độ lựa chọn trên đưa con người đến sự thức tỉnh. Với tinh thần thức tỉnh, con người sẽ vừa rong chơi, vừa ca hát nghêu ngao… để an nhiên thư thái đi hết chặng đường thánh giá nghiêu khê như một cái nghiệp phải trả trong kiếp nhân sinh hữu hạn để bước vào thế giới vô hạn mai sau.

Viết tại Phù Hư Am

Vùng Bắc Vịnh, Mùa Đông năm 2000.

VÕ THẠNH VĂN

 

BẠT 1

 Cao Mỵ Nhân

BẠT 2

 Ngô Đức Diễm

CẢM TÁC

Hải Phương

KINH VÔ THƯỜNG

Quyển Thượng

CÁT BỤI

I

[001]

phận ta hạt bụi mê lầm

trong cơn say tỉnh gọi thầm giai nhân

lạc nhau cát bụi bần thần

gác khuya trở giấc gieo vần ngả nghiêng

[002]

vốn ta hạt bụi ưu phiền

trong cơn ngái ngủ triền miên gọi người

luân hồi gợn thoáng tâm hư

sắc không dậy chút tâm từ hỗn mang

[003]

trong mơ cát bụi bàng hoàng

trong ta còn trắng vành tang tình dài

trong em mờ cuộc tình phai

trong tình còn đẹp dấu hài nghìn sau

[004]

sương chia khói lạc chờ nhau

cát xa bụi khổ nỗi đau phận nầy

tương tư giọt bụi rạc gầy

thủy chung cát lịm ngất ngây cõi ngoài

[005]

chờ nhau cát bụi mệt nhoài

gặp nhau dã dượi vòng xoay nghê thường

thương nhau tình rộn ràng vương

tìm nhau cát bụi đêm trường mộng đưa

[006]

kể từ hạt bụi thấm mưa

rơi tài tình tứ – rớt bừa bãi duyên

 đam mê bụi lụy thuyền quyên

lưu vong phận cát ngủ miền giang khê

[007]

cát gầy bụi ốm hôn mê

chiều đông bỏng sốt – đêm hè lạnh căm

với tay sờ cõi nghìn năm

mây che đỉnh tuyết biệt tăm dấu hài

[008]

bụi từ hóa kiếp đầu thai

hóa thân vô lượng tóc dài cõi âm

sóng chìm cát nổi tự thân

vỗ bao nhiêu bến vẫn nần nợ quanh

[009]

truy tầm hạt bụi tiền căn

thấy trong kinh điển mộ phần hoang sâu

 bụi đành gặm nhấm nỗi đau

vết loang tiền kiếp nghìn sau còn hằn

[010]

tình về treo võng băn khoăn

cát ngờ ngợ dậy – bụi vằng vặc lên

mây nghiêng – mưa trộn – trăng chênh

giang đầu thác đổ – cuối ghềnh đẫm sương

[011]

yêu nhau túy mộng triều cương

qua cơn bão loạn xuân nhường thu phong

xa nhau bến gợn nước ròng

đông căm tuyết tụ – hạ nồng son phai

[012]

vầng xoay đất mộng liêu trai

phôi thai nước nhược – hoài thai non bồng

một lần không – vạn lần không

trăm năm trắc trở còn chong mắt chờ

[013]

gặp nhau muộn trễ nẻo mờ

mắt thâm – môi tím – má khờ – tóc bay

rượu nồng sóng sánh men cay

viền sâu khóe đợi cuối ngày sầu mi

[014]

đôi môi phượng đỏ trường thi

cổng hong tình đợi xuân thì nửa trang

nến khuya lệ nhễu hàng hàng

kinh khuya chữ ngọc nét bàng hoàng phơi

[015]

dáng ai gầy rạc tơ trời

nửa lơ lửng giạt – nửa bời bời trôi

thương em ngược gió về xuôi

lụy tình một thuở trầu vôi xa người

[016]

liễu xanh cát trắng chia trời

ngả xô vịnh biển – ngả bồi ven sông

tóc phơi cánh gió biếc dòng

rẽ ngôi ly biệt tình trong nghĩa ngoài

[017]

ta từ phế đế về say

gặp em phế hậu định ngày hợp hôn

phù sa cát nổi bên cồn

phù vân trôi giạt biển dồn lũng hoang

[018]

từ em ân điển chảy tràn

từ em sữa mật nồng nàn hiến dâng

từ em môi mắt vây quanh

từ em ai biết ngọn ngành đâu ra

[019]

người đi lối mộng đầy hoa

lao xao trăng nở quanh tòa hồng lâu

tiếng gà giục rã canh thâu

sương ngơ ngác rụng chân cầu xác xơ

[020]

nghiêng trăng vành khuyết bơ phờ

chút duyên huyễn hóa bên bờ hợp tan

tro than khóc cát bụi tàn

bèo mây cầm sắt ngỡ ngàng dấu tăm

[021]

mưa nguồn gió núi lạnh căm

 đốt trang kinh quý sưởi am giao thừa

khói thiền quyện phấn hương đưa

ta chờ người đến truyền thừa khai kinh

[022]

rằng nghe pháp diệt pháp sinh

động sương viễn xứ lụy tình hư vân

từ người khai thị chuyển tâm

mê trăng lữ khách – mê lầm ảo thân

[023]

tìm nơi tịch lạc dừng chân

ươm cây vũ quý xuất thần diệu hoa

hương thơm ngược gió già la

chiên đàn phấn nực – áo tà trăng tươi

[024]

từ trong cốt lõi chân như

nở bung vạn đóa phù hư thường hằng

chân như nguyên nửa vành trăng

phù hư mây phủ vết hằn chiêm bao

[025]

cho vừa cười nụ em trao

môi son chín ửng – má đào hồng phai

tuyết đêm phong kín hoàng mai

u hương thầm tỏa ngày dài mãn đông

[026]

đầu nguồn chạnh nhớ cuối sông

lao xao hoa đốm hư không chợt về

cuối xuân phấn rụng mê mê

lập đông hương lả tóc thề sương bay

[027]

nâng niu nhụy vữa lòng tay

dấu xe ngựa cũ mây bay lỡ làng

tình yêu nào sớm dở dang

bâng khuâng – chân lạc cổng làng – xót xa

[028]

còn ai dõi mắt giang hà

cánh chim bi lụy về qua tháp mầu

mắt người ướt sũng nghìn sau

mi cong tháp đậm – mày nhàu rêu phai

[029]

gió mưa suốt cuộc đêm dài

giọt rơi cửa tím – giọt cài khung xanh

giọt ngơ ngác lạnh treo mành

một đàn hạc trắng trong tranh chập chờn

[030]

cắn môi bật vỡ máu hờn

gió bay mặc gió – mây vờn mặc mây

người từ nghiệp khảo về đây

sương giăng rợp đất – mưa bay đầy trời

[031]

xa nguồn nước có buồn trôi

xa nhau người có bồi hồi nhớ mong

những con hải tước bên cồn

ngẩn ngơ kêu khản giọng buồn đục sương

[032]

chợt thèm đôi mắt cá ươn

môi chùm chín bói – má hường ủng phai

đồng tiền duyên lúm gió vay

đôi chân liễu ốm – nhánh tay trúc gầy

[033]

mai về chất đá chờ mây

chép thơ đợi gió trăng gầy qua song

ai nghiêng gối mộng se lòng

chuyện xưa ngày cũ bòng bong rối bời

[034]

thuở trăng li dị mặt trời

có ta nhân chứng góp lời phân bua

mặt trời gay gắt hờn thua

trăng non nũng nịu chuốt bùa mây se

[035]

vòng tay mãi đợi người về

chuyền nhau hơi ấm lời thề dở dang

hoa từ lạc bướm lang thang

bướm tìm hoa dẫu phũ phàng gió sương

[036]

chắt chiu chuốt mộng vô thường

lá bay theo gió rụng vườn sắc không

một đời duyên phận long đong

lời thề nước cuốn đá mong manh chờ

[037]

biển nghe lòng dấy rêu mờ

sóng cồn bão nổi đục khờ tâm hoang

lòng mơ ngai ngọc cung vàng

phấn bay mấy cõi sặc làn hơi phai

[038]

bàn tay trổ búp lan đài

ngón lần từng lóng ân dày nghĩa sâu

nhớ về đâu – mộng về đâu

trắng đêm thức đợi trăng sầu giãi hoa

[039]

phù hư trên mỗi phân da

triều ba sóng động – âm ba gió tràn

rừng nghe lòng suối hoang mang

thoảng thơm hương lạ chiên đàn mạc ly

[040]

cát trầm tích dậy xuân thì

đất chôn tuổi mộng nhòe mi lệ vờn

vươn vòng tay níu cô đơn

máu đông vỡ mạch dấu sờn tình đưa

[041]

bụi chìm đáy lạnh cốc xưa

lẳng lơ cười nói mây mưa đêm dài

lả lơi khoe cánh lan đài

nhụy dâng mật hiến dấu phai phong hoàng

[042]

tiếng thơ rớt mật đầm hoang

tiếng chuông huyễn hóa từng hàng châu sa

tiếng chân rơi ngọc trầm ngà

tiếng kinh vọng ẩm mấy tòa thiền lâm

[043]

sông xưa quặn chảy bờ thầm

nước xưa mấy cõi phù trầm giạt xa

trăng xưa rải phấn lam ngà

biển xưa sóng vỗ xót xa muối lòng

[044]

mấy mùa tình vẫn long đong

xót người lận đận tình cong môi hờn

cuộc tình nẻo cuối má ươn

một thời bóng xế trăng vờn hiên tây

[045]

lối xưa nắng lụa còn bay

tóc xưa rợp phủ lòng tay chỉ rời

đường nào tình sử mê tơi

nhánh nào tới cõi tuyệt vời bồng lai

[046]

ngả nào dẫn đến thiên nhai

có người xõa tóc trang đài quế hương

chao nghiêng ghềnh thác dị thường

gió neo đỉnh tháp – mây vương chân cầu

[047]

nến vu lan nhễu giọt sầu

khấn hồn từ cõi nhiệm mầu về thăm

chờ người biệt tích vô tăm

tỉnh ra mắt lệ sầu ngăm thẩm buồn

[048]

phận ta lính thú lưu đồn

tuyết lừng khừng chậm – mưa dồn dập mau

nghe sương giá rụng bạc đầu

quê nhà người khép cửa lầu chờ xuân

[049]

sao trên rừng nhớ cố nhân

lạnh căm áo mỏng da ngần sương rơi

nhớ người túy mộng bời bời

chùm sao tinh đẩu phương trời thương chong

[050]

lá rừng tây nhớ biển đông

lắng nghe chim hót thu không ngợp hồn

sóng ngầm xô giạt rêu rong

nhớ nhung rừng đợi – hoài mong biển thề

[051]

những vì tinh đẩu thầm mê

nửa đêm mở cửa phòng khuê tìm người

tin trôi biển bắc xa vời

trời nam động dấu ma hời miếu hoang

[052]

trầm đưa gió chướng chiều hong

bèo giăng gạn sóng lộn giòng thủy ba

tóc vờn dã dượi sương sa

lệ trào ngược chảy chan hòa vào tim

[053]

công danh bèo bọt nổi chìm

giác thân huyễn hợp đường tim nhịp dồn

nầy người tu hạnh sa môn

như ong lấy mật hoa hờn chiều mưa

[054]

ta tên khất sĩ nửa mùa

yêu em toan tính chuốc bùa luyện đơn

chân về guốc gõ cuối thôn

chuông không ếm nỗi lời đồn trăng hoa

[055]

trong triêu dương đã có ta

rót dâng từng giọt nắng ngà ngọc đêm

trong vầng trăng đã có em

nâng niu từng sợi tơ mềm quyện nhau

[056]

sau vườn rụng đóa hoa cau

 hương mùi chợt phảng phất đầu mái đông

người còn đọc sách phòng trong

ta vừa nằm mộng nhũn lòng nôn nao

[057]

trăng thề hờn dỗi non cao

môi thề thấm mặn lời nào trăm năm

chén thề nồng sủi rượu tăm

 lời thề dặm ước xa xăm bay rồi

[058]

duyên xưa gót mỏi lối đời

sáng vầng chướng gió – chiều bời thốc mưa

ai truyền thừa – ai kế thừa

dăm ba cánh hạc lưa thưa chợt về

[059]

có ai trăn trở đêm hè

tiếng quyên đứt ruột nửa mê nửa hờn

nửa xôn xao – nửa bồn chồn

chân ai gõ guốc đáy hồn sơ hoang

[060]

tay tiên nắn gọt từng trang

trải xa thông điệp dặm ngàn nhớ thương

tóc xưa thoang thoảng trầm hương

chờ nhau giây phút vô thường phôi phai

[061]

sát na sinh diệt từng giây

mắt người (vàng lạnh liêu trai) rã bời

bao nhiêu nắng quái hong trời

áng mây tiền kiếp lặng trôi dật dờ

[062]

trong mê môi mắt hững hờ

chiếu chăn xô lệch mép bờ chia xa

mốt mai ấn tích nhạt nhòa

trăng xưa vẫn sáng nhập nhòa lầu không

[063]

có em đập sợi bên cồn

nhường cơm hào sĩ – chia dòng duềnh sâu

chân mây – khói sóng – dàu dàu

chút lòng trinh bạch trầm châu gieo vàng

[064]

trong nhau hồn phách ngỡ ngàng

ngoài nhau da thịt bàng hoàng tìm nhau

mây giăng (dặm ngút) giang đầu

mưa về kín bãi sông ngâu sụt sùi

[065]

đôi tay giận thẫm ngón thù

đôi chân ghen tím trời thu ráng chiều

phố gieo bước vội buồn thiu

bấm lần từng ngón độc chiêu đòn hờn

[066]

thỉnh em đóng kín tim nồng

thỉnh em (khép vạt yếm bông) kêu mời

thỉnh em mím chặt thành môi

thỉnh em khóa cổng vườn đời lỏng then

[067]

nhắn người búi tóc chít khăn

cài trâm giắt lược chờ trăng rằm về

mãn xuân chưa thấy cánh hè

đợi mai tóc rối bốn bề tím vây

[068]

mây giang hoài có về đây

ta hâm trà quý đêm say ngồi chờ

chờ người đầy mấy trang thơ

chờ trăng tàn loãng khói mờ trầm thơm

[069]

gót về ngơ ngác vân môn

trăng am – thất đá – lãnh sơn – dặm dài

tranh vanh u cốc thiên nhai

chênh vênh mây vắt – liêu trai sương vờn

[070]

trang thư ướp cánh phượng hồng

thoảng thơm mùi phấn má nồng hơi xưa

hương trà hoa nữ đong đưa

tóc bay ngày ấy lưa thưa âu về

[071]

giang hoài lãnh nguyệt thê thê

dáng ai côi cút tóc thề sương bay

nhớ thương trũng mắt dài tay

mùa thi tuyết rớt đợi ngày đăng khoa

[072]

trà bách tử ướp tùng hoa

khói giăng – động khẩu giang hà – hương bay

mời người một chén tỉnh say

trăng tình trở gót dáng gầy năm xưa

[073]

chùm môi chín mọng đầu mùa

phí hoang chút mộng mê bùa hộ thân

 lầu khuê phơi mảnh hồng quần

bướm ong về đậu tần ngần lại bay

[074]

xa nhau lạnh buốt tầm tay

trang thơ ướp cánh hoa lay rã rời

hàng hàng chữ trổ nụ tươi

thương ai bến nước còn ngời tóc thiêng

[075]

gió đùa tàu chuối mé hiên

mưa sa rớt hạt triền miên sau hè

dập dồn thoảng tiếng ngựa xe

tiền khê gió dậy – hậu khê sương lồng

[076]

tiếng chân vọng mãi trong hồn

âm vang thuở nọ – bồn chồn mai sau

sân lòng guốc nện quằn đau

dấu hài rớt vội tiếng tàu giục xa

[077]

ai trau chuốt ngọt lời ca

phút ân ái cũ – đêm ngà ngọc xưa

gối chăn giấu giọt hương thừa

đôi môi núi lửa ấm vừa mê si

[078]

người về thôi cứ về đi

buồm xuôi cánh gió kinh kỳ giạt theo

ta về cuối nẻo cheo leo

đón em trên đỉnh đèo heo phận mình

[079]

cuối năm lạnh được mùa tình

em soi nhan sắc qua bình rượu hâm

chiếu chăn ươm ngọt hương trầm

 canh ba gió lọt trăng lầm lũi đi

[080]

những vì tinh đẩu tình si

về xây bảo tháp quy y điện mầu

tụng từng đêm phú na lâu

trang kinh hoa nở nhiệm mầu sắc không

[081]

trở trời rụng quả sầu đông

sơn tăng bỏ động phù không tìm về

dặm ngàn mưa gió thê thê

lòng ai (chợt tỉnh chợt mê) khói chiều

[082]

tóc người từng sợi đìu hiu

chảy buồn ướt nhánh sông triều tịch hoang

kể từ trời đất hỗn mang

kể từ rạc cánh bàng hoàng thiên di

[083]

phượng màu ngơ ngác trường thi

mùa người đơn lẻ ngả chia lối thề

từ ngày giấy mực ngô nghê

phượng rơi  theo bướm – người về theo mơ

[084]

cả đời sạch – mình ta nhơ

còn em thắp ngọn nến mờ chép kinh

soi bàn tay chợt thấy mình

xem trang thơ cổ diễm tình sa oanh

[085]

khêu ngọn vàng – đọc thư xanh

trầm vương nhả điệu – hương quanh quyện hồn

tóc về theo gió bản buông

qua khe cửa lạnh từng luồng nhớ nhung

[086]

trăng nhô sau núi mịt mùng

sương giăng niềm sớm – mưa chùng nỗi đêm

đưa tay vén mảnh tơ rèm

gió thương gò ửng – trăng thèm nụ mơn

[087]

vẳng nghe lòng suối dỗi hờn

nỉ non qua vách đá mòn chảy suông

ngày mai nước trở về nguồn

ta chờ mây tụ nghiêng tuôn lệ trời

[088]

tuyết rơi – giá rụng – gió nhồi

miên miên ba giới bên trời tàn đông

vườn trăng mở cổng mây lồng

mắt môi hạo hạo – tơ đồng hây hây

[089]

tụ mây lợp thảo am mây

kết êm nệm cỏ – xây dày tường trăng

rước em về hội xích thằng

trăm năm thắp ngọn châu đăng sao trời

[090]

lòng qua lối ấy bời bời

như mây – như nước – như trời – như sông

 lúa non thân nhuốm bụi hồng

mắt ai ngày ấy vời trông phương nầy

[091]

phong lưu gió thoảng rạc gầy

trong cơn thần hứng rong dày triều đưa

mây ngàn (hạc nội) duyên xưa

tưởng người trong mộng cũng vừa chiêm bao

[092]

trộn màu khánh hạ hoa bay

nhớ người mắt lệ hờn cay phấn nồng

xa người sông nước ngùi trông

sương giăng đỉnh núi – mây lồng đáy ao

[093]

suốt mùa tuyết rụng xanh xao

đôi chim di trú về trao gởi tình

cánh lơi lả dặm trường đình

bay qua biển lặng rọi hình hài suy

[094]

thương nhau trăng nước thầm thì

triêu dương mật ngất – xuân thì hương ngây

sát na với một tầm tay

xa nhau gang tấc tháng ngày trôi xuôi

[095]

lời thề đậu tạm đầu môi

câu thề cạm bẫy bên đồi cát bay

trở mình thức tỉnh cơn say

dáng ai nhập mộng hoa lay cánh buồn

[096]

giá băng cuộc lữ mưa nguồn

ướt đầm môi mắt nghìn truông dõi tìm

sáng dò biển bắc chân chim

trời nam chiêu cảm mạch tim máu dồn

[097]

nhánh sông nghiêng rót qua hồn

chia hai cát bãi sóng cồn đôi nơi

nước dồn triều dậy phanh phơi

cát dầm tóc đợi – bờ khơi môi chờ

[098]

mấy mùa lệ úa trang thơ

ngôi vương hoa rắc – bệ thờ ráng pha

kêu thương gào thấu giang hà

lưỡi tê tình vị  mắt nhòa dấu chim

[099]

bụi ngầm gờn gợn trong tim

giục người khắc khoải truy tìm vết son

cát thầm vun ốc đảo con

xui người thao thức lối mòn chân qua

[100]

môi trề ngọt lịm chua ngoa

tay vươn dài muốt ngón ngà dối gian

tóc bay rợp nẻo điêu tàn

đường xanh giã biệt – lối vàng chia ly

[101]

thâm khuê từ buổi dậy thì

mùa xuân mang tiếng thị phi tóc bồng

qua cơn hạ bỏng long đong

cuối thu lá rụng bên giòng man khai

[102]

nửa đời bẻ kiếm lau tay

hẹn người bên cội hoàng mai giang đầu

chờ trăng xõa bóng chân cầu

lược ngà gỡ mái tóc nhàu quyện hoa

[103]

rồi mai bụi đỏ thành xa

phấn hương còn đọng áo là lượt bay

cát mềm gió cuộn mây sa

mắt mờ sương đục – môi cay khói mù

[104]

tay dâng của lễ ân thù

dưới ngai cửu ngũ lòng tù ngục nhau

môi lầm – mắt lỡ – mày chau

ngại ngần – thiết thạch vàng thau – mống ngờ

[105]

tầng trời thái cổ ngẩn ngơ

những vì tinh đẩu dật dờ nhớ thương

bỗng dưng rừng trở thê lương

hạt mưa sợi nhỏ vô thường phiêu nhiên

[106]

mốt mai mai một lời nguyền

tóc tơ tơ tóc lâm tuyền kết giao

xưa sau cát lạc phương nào

đưa tay bẻ khóa động đào tìm nhau

[107]

mầm nhân sinh diệt nhiệm mầu

dật dờ tiền kiếp chờ đầu thai tiên

men tình nẩy hạt uyên nhiên

nghìn năm thức ngủ thẩm huyền mắt sâu

[108]

tiếng nghìn xưa gọi nghìn sau

cõi hoang đồng vọng gót nhàu liêu trai

rã canh hồn cuộc mộng dài

chợt nghe nhạn lạc kêu hoài thâu đêm

[109]

dáng hoa nồng ấm môi mềm

đáy sâu ngục tối trăng thèm điêu ngoa

mấy thu tịch mặc chung trà

mấy đông tê buốt mây nhòa nhạt thơ

[110]

khóa xưa cổng cũ khép hờ

cánh chim trốn lạnh bơ phờ bay ngang

nến khuya lệ nhỏ hàng hàng

đèn chong thao thức tụng trang sử tình

[111]

chiếc thân giây phút hiện sinh

hoắt nhiên bỗng đến – thình lình chợt đi

trầm thơm ngát thoảng hương quỳ

phút giây xả mộng lưu li mơ về

[112]

thiết tha như quốc gọi hè

bâng khuâng nhạc trúc hờn ve trang đài

nao nao trầm vọng tiếng hài

người vì thương nhớ tóc mai rạc nhàu

[113]

lao xao vó rụng chân cầu

cá no cắn bóng sao đầu mùa rơi

dầm dề trăng ướt lả lơi

sương khuya thấm lạnh mảnh đời gương trôi

[114]

môi người nở nụ mân côi

ngón tay lần chuỗi rối bời chuông rung

lời kinh trầm tỏa mông lung

uy nghi cung thánh – vô cùng ngôi ba

[115]

nụ tình sinh diệt trổ hoa

chùm mây trắng mộng trôi qua sân đời

bóng che khuất nẻo môi cười

hoa tươi cửa động còn tươi nhiệm mầu

[116]

lời thề luyện hạnh vô cầu

bước vui sóng dậy – gót sầu trăng lên

vách am cỏ dựa sơn căn

chợt nghe từng nụ thường hằng trổ hoa

[117]

dung ba gợn sóng âm ba

loãng tan hư ảo la đà thái sơ

yêu người kẽ tóc đường tơ

giang tay bắt mộng bơ phờ xưa sau

[118]

hẹn hò rung trúc chờ nhau

chén cơm phiếu mẫu gợi đau lòng vàng

nghìn điều giữ lấy thiên chân

trăm đường ân ái trễ tràng nghĩa xưa

[119]

gió ru lắc võng cành trưa

treo nhành tuyết rụng rây mưa nhiệm mầu

hoa vô ưu trắng mái đầu

dỗ người say giấc ưu sầu tịch nhiên

[120]

trái mơ rực chín rừng thiền

hái chùng lén giấu bên hiên trăng vàng

người về lòng chợt hoang mang

bụi hồng ố chợ – trăng vàng úa ga

[121]

đưa tay ấn mắt xem hoa

nghìn bong bóng trổ nhập nhòa bến không

sáng biển xanh – xế trời hồng

rạc rời từng cánh rong bồng bềnh trôi

[122]

bao nhiêu thinh sắc đầu môi

lời sa chót lưỡi – phấn rơi lề đường

dưới cầu con nước chảy suông

người soi bóng xế lòng buồn thị phi

[123]

thiên nhiên một thuở xuân thì

trăng vườn lãng uyển thầm thì chuyện xưa

rằng hôm cuối buổi chiều mưa

cánh hoa hàm tiếu hé vừa nhả hương

[124]

ra đi ngựa ốm đường trường

nước xuôi thuở ấy còn vương lệ dài

thuyền về gió ngược hồng phai

rụng rơi rã cánh lan đài cõi hoang

[125]

dáng ai mờ tỏ sương ngàn

yêu ma – quỷ mị – chú thần – bùa mê

lục trang thư cổ câu thề

lối ra bào ảnh – dặm về hư không

[126]

biển băng đợi gió sưởi nồng

bụi trần ngóng mỏi mưa hồng biệt tăm

em cho tình hẹn trăm năm

ta chờ đành phận duyên tằm lãng tơ

[127]

nhân tâm phiến hoặc mịt mờ

tóc bung chiều rối thẫn thờ huyễn không

trải dài da thịt làm sông

thuyền chao môi thẫm – buồm lồng mắt sâu

[128]

nghìn sau hận trắng bể dâu

thương tang chín cõi suối màu đục trong

ra đi lòng mãi dặn lòng

mai sau về tắm lại dòng trà giang

[129]

cánh bằng hồng hộc trời nam

bay qua biển bắc mù tăm ngô đồng

e gió tã – ngại mưa tầm

tuyết giăng – giá đổ – sương dầm – gió se

[130]

biết đâu một cõi đi về

man man bến đậu thuyền mê thuở nào

bỗng dưng lòng thấy nao nao

dưới trăng buổi ấy khăn trao sương làn

[131]

tỉnh say – mộng mị – bàng hoàng

kể từ binh biến hoang tàn khuê cung

đài lâu – điện các – sảnh tùng

nửa đêm rồng hiện vẫy vùng dọc ngang

[132]

giấc nồng lịm – thuở hỗn mang

có em về giữa sương màn trăng suông

xa nhau là mấy dặm đường

gần nhau (da bỏng tóc vương) trái mùa

[133]

kêu mưa – gọi gió – yểm bùa

 linh phù lãng đãng – gió mưa dã dề

mương – đầm – sông – lạch – giang – khê

tiếng chim tha thiết giọng tê cõi mờ

[134]

mai về thôn vắng nằm chờ

nghiêng vành nón hạ em thờ thẫn qua

nhà nhà trăng – chốn chốn hoa

đêm lên rải mộng sương lòa xòa bay

[135]

khói mù thuở ấy còn cay

lạc nhau ngày ấy còn đau nỗi chờ

có ai biết – có ai ngờ

trăm thương nhớ tụ – nghìn hờ hụt qua

[136]

bóng mây năm sắc khoe hoa

dật dờ sóng úa – nhập nhòa gió tươi

môi nào nếm thử thái hư

mắt nào thấy rõ bụi từ hóa thân

[137]

em phù sa – ta phù vân

lêu bêu trên đỉnh mây tần phù du

phù trầm lạc bến chân như

phù sinh cát bụi trầm tư cửa thiền

[138]

lời thề chép giấy hoa tiên

hàng hàng sao dọi cung thiềm nghiêng song

dẫu rằng ngọc nát còn trong

dẫu cho trúc héo tấc lòng vẫn ngay

[139]

kinh qua một cuộc tình say

tóc bay mặc gió – vai gầy mặc mai

gió bay nối tóc muốt dài

 xuân về trổ mộng trang đài xanh xao

[140]

lối về vằng vặc trăng sao

tìm năm xưa bóng nụ đào tiết đông

nẻo xưa gió cuốn bụi hồng

nhụy đào thuở trước mưa giông rụng rồi

[141]

từ trăng dỗ giấc giang hoài

nghiêng theo cánh gió mệt nhoài đôi chân

ngày đi chưa kịp trối trăn

ta nguyền thắp cụm hương đăng đợi người

[142]

kể từ lạc chốn nhiên như

em về tiếng guốc trầm tư cuối ngày

cuộc tình tóc mượt liêu trai

mắt môi nước lớn – mi mày sóng lên

[143]

mưa sầu gió tạt qua hiên

người về bên ấy tưởng yên phận đời

ai ngờ gió thốc mưa rơi

cánh chim trốn tuyết rối bời đường bay

[144]

trong mơ xót dáng ai gầy

tay thon mười ngón vơi đầy nhớ mong

trầm hôn giấu hạt tơ hồng

dậy men cổ nhã – nẩy mầm tân toan

[145]

nửa mê – nửa tỉnh – nửa hờn

có ai gõ đá tụng rờn kinh ma

sương giăng – trăng lạnh – sao sa

bóng ai về giữa lượt là chiêm bao

[146]

chót môi ái ngữ ngọt ngào

chuôi mày ngọn mắt mưa rào đất khô

đáy hồn sóng vỗ lao xao

đầu ghềnh cuối bãi thuyền chao buồm về

[147]

chợt bừng – chợt tỉnh – chợt mê

chợt ngủ – chợt thức – chợt về – chợt đi

chợt nghe chân tánh thầm thì

trang kinh vô tự tiếng tỳ bà rơi

[148]

khách rong ngủ trọ quán đời

người qua trú tạm một thời trong tôi

xẻ hai hạt mộng luân hồi

cánh ưu đàm nở bên đồi sương lam

[149]

triền non cất vội thiền am

kết mây chờ cụm ưu đàm trổ hoa

phấn lan rừng – nhụy già la

gom sương khuya tụ thếch trà vũ di

[150]

người từ bất chấp thị phi

bưng tai bịt mắt lối đi mịt mù

cuộc tình phía trước thâm u

 sau lưng sóng dậy mưa phù hư giăng

[151]

đêm ba mươi mộng thấy trăng

thấy người dáng mỏi về thăm giã từ

mơ hồ nửa thực nửa hư

mây từ núi dậy – gió từ khe lên

[152]

gặp nhau bèo bọt lênh đênh

xa nhau thoáng chốc chênh vênh nửa đời

thuyền xa bến hận nổi trôi

bụi từ xa cát phai phôi cuộc tình

[153]

tiếng cười gương vỡ thủy tinh

giọng hò ướp đá rùng mình sao băng

lạnh hài nguyệt – buốt áo trăng

cuộc tình thuở ấy đá băn khoăn hoài

[154]

gót chân ngơ ngác cõi ngoài

tiễn nhau mấy dặm quan hoài mây bay

đường xa đẫm giọt lệ dài

nghê thường che rợp chút đài trang xưa

[155]

xót người đi sớm về trưa

thương ai tóc rợp bóng dừa quê cha

bên song gió chuốt tay ngà

lụt tràn quê mẹ nuột nà sông xanh

[156]

ta đan giày cỏ kinh hành

bỏ người bên suối không đành lại thôi

cởi hài mục – nhìn nước trôi

váy xiêm mấy kiếp tưởng thôi ghẹo người

[157]

giữ nhau từng sát na rời

nhớ nhau từng khúc ruột bời bời riêng

hẹn nhau rã mộng cát triền

xa nhau chừ vẫn mộng biền biệt xa

[158]

nhắc nhau mỗi tối xông trà

dặn nhau giữ ấm ngón ngà ngọc chân

hẹn mai trời đất xoay vầng

dâng nhau từng niệm chân lành tâm như

[159]

mưa giăng cổ tháp mịt mù

người chong mắt đợi dáng thù năm xưa

chiều nao mưa vẫn thầm mưa

cành xanh trĩu mộng lưa thưa rụng dần

[160]

mai nầy từ giã xác thân

 xuôi tay về cõi vô ngần ước mong

mốt kia thôi cuộc long đong

vẫy tay phủi nợ tình trong nghĩa ngoài

[161]

vì ai gió dậy phương đoài

trăng chia ải bắc – sao dời biển đông

đáy ly ngọt đắng rượu nồng

đường xưa nở rộn pháo hồng vu quy

[162]

người về thôi cứ về đi

giang tay bắt mộng xuân thì vờn bay

ta về tình trắng đôi tay

trân tàng chút mộng ngùi cay nỗi đời

[163]

cánh hồng bướm phượng gom lời

thầm thương trộm nhớ diệu vời xa trôi

từng dòng thương nhớ chơi vơi

từng trang chữ rã mực rời giấy thơm

[164]

nụ vàng búp ngọc vừa đơm

trên cành nhân bản lá mơn lọc lừa

yến oanh gọi gió rây mưa

đài hoa kiêm ái cũng vừa tàn theo

[165]

từ ngày nhánh mộng vừa gieo

bướm ong về đậu cuối đèo trông sang

áo bay ngất rợp chiều vàng

 tóc bung theo gió lỡ làng từng thu

[166]

trên yên xõa tóc niệm phù

kêu mưa – hú gió – thần tru – nguyệt rằm

sấm rền trời đất mù tăm

cát bay đá chạy dặm ngàn thâm u

[167]

võng treo gió lộng vô ưu

ru em đẫy giấc oán cừu thâm căn

dấy từ tâm thức ăn năn

hoa bâng khuâng trắng mộ phần thụy miên

[168]

phong trần – phiêu sái – như nhiên

khóe cay khuya rợp tóc huyền lẳng bay

mắt sâu (từ độ) ngủ ngày

từ thời khóc mướn thương vay chuyện người

[169]

sao rơi – gió dập – mây dời

tuyết sa lệ đổ ngập đồi trượng nguyên

cơ trời khứ tựu oan khiên

ba quân ngơ ngác – khuôn thiên xoay vầng

[170]

bút mây vẩy gió phê vân

uyên nhiên giây phút xuất thần tinh khôi

trùng trùng – vân vũ – điện lôi

đất trời tứ pháp luân hồi mưa sa

[171]

khói ru đẫy giấc giang hoài

nửa gần gang tấc – nửa xa mịt mờ

trăng nam kinh dáng bơ phờ

về soi phố lạnh vàng tờ thư xanh

[172]

rã rời mộng mị thâu canh

nồi kê chín tới ngún cành đam mê

môi nào chín đỏ bội thề

tóc nào lồng lộng chiều thê thiết dài

[173]

treo sinh tử giữa lòng tay

nhất như một tấm lòng chay tịnh đầy

trái đời chín rụng oằn vai

tế bào phân hoại sốt ngày lạnh đêm

[174]

từng hơi thở vẫn còn em

chợt đi chợt đến mộng thèm ái ân

 đồi thu tuyết phủ trắng ngần

dáng ai ẩn hiện từng phân da ngà

[175]

đã xảy ra – chưa xảy ra

như bèo như bọt như là chiêm bao

ngày lại ngày cứ lao xao

như mây khói tụ – như bào ảnh tan

[176]

trong tâm mọc nhánh trúc vàng

trong ta em sáng trăng bàng hoàng soi

trên cành mộng nở vì sao

sao băng đầu rẫy – mưa rào cuối nương

[177]

trang nghiêm cõi mộng dị thường

dáng ai phiêu hốt dạo vườn trăng xưa

tóc xanh mượt chải lượt dừa

gót quen từng dạo giàn dưa giậu cà

[178]

hài tiên gieo phấn lượt là

áo tiên bay cõi ta bà bụi vương

môi tiên thơm dạ lý hương

tay tiên chép rã vô thường thư si

[179]

trong mây mù có từ bi

trong băng tuyết có kinh thi bút thần

lệ người hóa giọt thủy ngân

trong cơn mưa đá ẩn thân tỏ tình

[180]

ngày em thề thốt băng trinh

khung trăng vĩnh thệ trụy tình chứa chan

trong mơ hoa đợi sương ngàn

trong cơn lâm lụy lệ tràn ướt ngôi

[181]

ngày mai cát bỏ đi rồi

bụi bơ vơ ngóng từng hồi chuông không

tiếng kinh đọng giọt tơ đồng

trăm năm tri kỷ khóc hồng nhan phai

[182]

vữa tàn bến cũ xuân mai

trăng khoe áo cưới lạnh hài đẫm sương

đưa em mấy thuở hoa nhường

hẹn người mấy bận bướm thường thở ra

[183]

nửa lời thề thốt bay xa

 say mê phù phiếm lượt là xiêm y

niêm lòng phong kín xuân thì

trề môi khép mắt thị phi miệng đời

[184]

câu kinh rụng tiếng không lời

hồi chuông thỉnh giáo không nơi dội về

giọng ca thánh nhạc trầm mê

ru người xây mộng đi về cõi mơ

[185]

mở vành tai dại ngu ngơ

giọng người hát ngọt bâng quơ dị buồn

khoa tay bắt ấn mười phương

một con nhạn lạc kêu sương cuối trời

[186]

trừng đôi mắt đục ngắm đời

áng mây ngũ sắc chân trời giạt xa

ai hoang phí giọt ngọc ngà

tiếc thương thẫm mắt – u hoài nhạt môi

[187]

thác nguồn cát cuộn bụi trôi

rẽ trăm nhánh úa chia phôi mây vầng

bởi từ cát bụi phân vân

vai chùng trĩu nặng nợ nần người tha

[188]

mặt trời lỡ thụ thai ta

nên em đầy ắp lụa là phấn son

lối về ngựa nản chân bon

nghiêng ly rượu đắng đáy vờn dáng ai

[189]

nụ hôn dạo ấy chưa phai

dấu son tình mộng chờ ngai phong hoàng

cũng vì bước hụt long đong

còn đâu má nõn mà hong chung tình

[190]

nửa đêm bắc đẩu trở mình

mười phương chư tổ vô tình thuyết kinh

sao khuya thức đợi bình minh

từng dòng thánh sử ngọt tình sao băng

[191]

tiếng ai đập lụa cồn trăng

lao xao sóng cuộn đá lăng loàn chờ

tiếng người xé lụa đêm mơ

trữ la bến cũ bơ phờ nước xuôi

[192]

hồng nhan tri kỷ giao bôi

dấu xưa mấy thuở mắt môi đắng tràn

đợi nhau tròn cuộc truy hoan

lạc nhau ong bướm bàng hoàng như nhau

[193]

bàn tay hóa chủ nhiệm mầu

đúc cung tiên đảo – dựng lầu thiên thai

ta nằm mơ thấy bồng lai

 người về ru ngọt giấc dài chiêm bao

[194]

từ tâm trổ nhánh trúc đào

chứa chan nghĩa biển – dạt dào tình sông

duyên xưa nguyệt lão tơ hồng

chăn đơn đắp vẹn – rượu nồng uống chung

[195]

từ đêm bão nổi trùng trùng

từ em sóng dậy chập chùng biển tâm

từ chớp lạch – đến mưa giông

từ mùa nước lũ băng đồng du phương

[196]

từ hoa muộn nở sân trường

em so đo chút phấn hương dư tàn

từ ta ngái ngủ miên man

nên đêm cổ tích dối gian chợ đời

[197]

rồi mai góc phố chân trời

lạc nhau tình đẫm lệ rời lòng tay

rồi mai am cỏ tường mây

khóc em ta trải lệ đầy trang thơ

[198]

trăng từ xa lắc xa lơ

về đây rắc phấn mịt mờ chung cư

phấn nào thực – phấn nào hư

phấn nào vàng nhạt nhiên như tình gầy

[199]

quần gai – áo vải – đai da

nửa đêm đập cửa vào nhà mắng ngang

trong mơ có kẻ ngang tàng

trần ai tỉnh giấc bàng hoàng tìm đâu

[200]

bóng trăng ướt nhẹp đầm sâu

  soi gương thấy mặt nhiệm mầu phút giây

từ em mượn dối làm thầy

nên đêm chắp chữ – nên ngày ráp câu

[201]

bờ sinh bến tử trở đầu

bọt tan sóng vỡ thẫm màu mê hoang

bùn trôi lũ ngập dòng sông

tình rơi sủi bọt mê lồng trang kinh

[202]

trang thư chợt đọc vô tình

chữ em tiết mật thình lình nhả hương

đóa quỳnh nở vội đêm sương

tóc ai chiều ấy thầm vương trăng đầy

[203]

lao xao mặt nước bọt bày

nghìn bong bóng nổi trên tay rạc buồn

rậm nhánh sông – thưa cội nguồn

mây trôi năm sắc đẫm truông mắt sầu

[204]

đi về mộng ảo tìm nhau

gặp đây thảng thốt trên cầu phố sương

nầy người đài các công nương

ngựa xe chen lấn bên đường bụi hoen

[205]

có loài thủy hạc ăn đêm

tiếng kêu tha thiết lay rèm gió thu

trời nghiêng tây bắc mịt mù

đông nam đất trổ thâm u nhũn lòng

[206]

quỷ sương khóc sóng bên cồn

chiều buông trống điểm thu không thành ngoài

trăng rơi buốt nỗi u hoài

gió lên biển dậy sõng soài ma trơi

[207]

chỉ thề thốt tạm đầu môi

người quay gót ngọc nửa lời bay xa

chiều nao ai chuốt tay ngà

bên khung cửa hẹp nhạt tà áo xưa

[208]

phận ta hạt bụi dầm mưa

công em khai ngộ truyền thừa pháp duyên

ta còn đầy ắp ưu phiền

tóc em bay rợp kín miền thạch tâm

[209]

xưa lên núi thẳm tìm trầm

sương giăng rừng vắng – mưa dầm bãi hoang

chờ em đãi sạn tìm vàng

đầu sông cuối bến tân toan tháng ngày

[210]

trăm năm còn vọng tiếng giày

những vì sao lạc chau mày đổi ngôi

nghìn năm còn thoảng hương môi

dáng người ẩn hiện nổi trôi nẻo đời

[211]

niềm đau dài tận cuối trời

lẻ loi từng giọt mưa rơi đầu mùa

xa người mắt ướt hờn thưa

khuya ngần đếm đợt gió lùa thư hiên

[212]

gót hài còn luyến động tiên

còn đi còn đến trên miền thơ hoang

dấu giày vẫn nhớ trần gian

còn qua còn lại trăng ngàn còn soi

[213]

người từ sinh tử về chơi

bước chân lãng đãng mê tơi động đào

man man bờ cõi chiêm bao

đường đi lối đến đá nào khắc ghi

[214]

từ mùa cách trở sinh ly

bụi về viễn phố – cát đi về rừng

cát về treo võng sau bưng

bụi ngờ trôi giạt lưng chừng cõi mê

[215]

gió đem mưa bụi trở về

trắng non buốt lạnh hồn tê điếng sầu

mưa về đâu – gió từ đâu

dáng ai chờn chợ quyện màu thẫm xanh

[216]

lời người tuyệt diệu vô thanh

hát nghêu ngao đợi duyên lành trao thân

hành trình qua cuối cõi tâm

hồ si –  biển khổ – sông lầm – bến mê

[217]

khung trời đâu suất ai về

thăm vườn xưa mảnh trăng thề tơ giăng

đầm xưa bóng hạc băn khoăn

em xưa lồng lộng dáng hằn nguyệt sa

[218]

bởi ta cát bụi chia xa

bởi ai nên thiện ác hòa chung đôi

bởi tình nên biển sóng nhồi

bởi tâm đời ứa cho trời giọt tuôn

[219]

hoàng hôn vấp sợi tóc buồn

bước chân lãng đãng sương nguồn thu sa

ráng chiều (ửng sắc) yêu ma

tỉnh say một giấc yên hà gió lay

[220]

ưu đàm kín rợp đường mây

năm nghìn năm nở trên tay phật thầy

hoa ưu phiền nở mùa chay

chờ ngày linh hiển dấu giày thánh vương

[221]

càng xa – càng nhớ – càng thương

dáng ai ngày ấy diệu thường tóc bay

gần nhau đêm ngắn mệt nhoài

tóc thôi chờ gió – trăng hoài đợi mây

[222]

lá rừng bụi đỏ ngất ngây

lá trôi về cội – bụi bay về đồng

tình vương đọt lá diêu bông

biết đâu bờ bến mà mong đợi tình

[223]

bồ đề không tướng không hình

không chủ – không khách – không mình – không ta

bên song rũ rượi tóc xòa

không dư – không thiếu – không nhòa – không phai

[224]

người từ lạc bước thiên nhai

cổng trời tịnh độ chờ ai khép thề

sợ nhân: giác – sợ quả: mê

sợ em hương sắc mà tê điếng lòng

[225]

chiều đông gió tạt qua song

ướt trang thư cũ người hong bên thềm

đêm qua trăng lẻn qua rèm

kéo chăn tơ đắp chợt thèm vòng tay

[226]

mai về làm bạn với mây

ngủ trong am gió quên ngày đợi đêm

trong mơ trăng rớt quanh thềm

trang chu hóa bướm về tèm lem say

[227]

một vì tinh đẩu ngất ngây

rụng trên vai nhỏ em gầy rạc mai

sao khuya ngái ngủ thở dài

ai trăn trở mộng thiên thai bồng bềnh

[228]

cát đầu sông – bụi cuối sông

lạc nhau mấy thuở đôi dòng lênh đênh

phân ly bao ngã buồn tênh

trùng phùng (chợt nhớ chợt quên) ngày nào

[229]

nhớ nhau trăng nước rì rào

xa nhau từ buổi yêu đào khắc tên

lạc nhau (bắc đẩu) chênh vênh

lụy nhau nguyệt lão bỏ quên tơ hồng

[230]

ai đầu sông nhớ cuối sông

ta cuối sông mãi ngóng trông ngược dòng

người về lúa trổ đòng đòng

bắp non ngậm sữa dằn lòng ra đi

[231]

người sâu mắt thức mùa thi

kinh qua một nửa xuân thì long đong

tơ vương trăm mối bòng bong

đèn khêu duyên úa – bấc chong đêm tàn

[232]

ôi em quá đỗi nồng nàn

mắt môi chín tới mật hàng hàng tuôn

xin em buông xả ghen buồn

nài người thôi tạm đóng tuồng tích xưa

[233]

chùm môi chín mọng đầu mùa

muộn màng trăng xế dáng bùa chú thiêng

buồn tênh gió lọt tây hiên

gối e ấp lệ triền miên chảy dài

[234]

mộng từ muôn thuở chưa phai

nửa khuya trăng lạc trên vai liễu gầy

rơi từng giọt mộng ướt tay

ai chong mắt thức ngủ ngày chép thơ

[235]

thương nhau cát bụi bơ phờ

thủy chung kết tóc xe tơ một đời

trọn đời kết tóc xe tơ

nghìn sau cõi mộng chưa mờ dấu xưa

[236]

từng chiều mưa vẫn còn mưa

tóc mai gió thốc lưa thưa cuối trời

 giọt rơi – từng giọt – buồn rơi

tịch liêu thầm tụ lạnh lời kinh sa

[237]

ru ta mười ngón nuột nà

em thề chuốc rượu dâng hoa một đời

cuộc tình bến mộng mê tơi

cắn môi muối mặn thốt lời kiên trinh

[238]

xa nhau vẹn kiếp phù sinh

ai nghiêng vạt nắng rây tình nhớ nhung

buộc nhau thề thốt thủy chung

dâng nhau vắt nặn tận cùng tim gan

[239]

người đi cuộc mộng chưa tàn

phấn son rực rỡ trên làn da thơm

xuân hàn – hạ trắng – thu mơn

lập đông tuyết lạnh mắt rơm rớm chờ

[240]

từng đêm thức trắng chép thơ

chiêu hồn thái cổ dật dờ về thăm

gặp nhau ghi vội trối trăn

lời thề thốt gởi giang đăng viễn hoài

[241]

long đong cát bụi mệt nhoài

về xây am nhỏ bên ngòi tịch liêu

qua mùa lũ lụt gió xiêu

vào rừng cất rượu sớm chiều say kinh

[242]

bướm ong một thuở si tình

đãi nhau dâng chút ẩn tình xót thương

u tình phảng phất u hương

chân thường sương ngọt – vô thường khói cay

[243]

người buồn xõa tóc gọi mây

chao đôi vai nhỏ tay gầy nhánh tê

tóc bay mây vẫn chưa về

nón nghiêng tụ gió lời thề heo may

[244]

bên trời bất chợt mưa bay

co ro người đếm từng ngày tháng trôi

trang thư lạnh ngắt tình đời

từng dòng băng buốt dấu môi đợi người

[245]

chim bay hằn vệt cuối trời

người đi lạc dấu rã bời phấn son

mai về ngựa nản chân bon

bụi giang đầu đổ chiều mong ngóng hoài

[246]

sau cơn bão rớt sóng nhồi

cát trôi đoạn thực bên đồi phù sa

tàn mùa nghiệt ngã kinh qua

bụi giăng tuyệt thực trăng tà hé nghiêng

[247]

tựa cửa không – đọc kinh hiền

điển ngôn nhả ngọc – lam điền hóa thơ

hàng dương chân núi bơ phờ

rủ ve về hát bên bờ tịch hoang

[248]

chiếu chăn đá sỏi muộn màng

nửa khuya chợt tỉnh giấc bàng hoàng xưa

hạt gầy bụi sũng cơn mưa

trôi về tiền kiếp chờ mùa hóa thân

[249]

bản lai cát bụi xoay vầng

 bao phen lâm lụy – mấy tầng ngửa ngang

hoa cửa động – khói ven làng

phấn hương nhân thế võ vàng tính linh

[250]

bụi từ thập giá phục sinh

về qua biển đỏ xây linh hiển đài

cát từ sa mạc phôi khai

vượt qua biển chết đầu thai kiếp người

phù hư dật sĩ

VÕ THẠNH VĂN

vothanhvan2000@gmail.com

phuhudatsi.phds@yahoo.com

2000

BẠT 1

CHỐN BỤI HỒNG

PHÙ HƯ AM

CAO MỴ NHÂN

 

Trong “thế giới người” của dân tộc ta thời cận đại và hiện đại, đã từng có những kỳ hoa dị thảo, những nhân vật lúc ma ma, khi Phật Phật, hay những thiên tài nửa tỉnh, nửa say. Thí dụ điển hình như nhà thơ BÙI GIÁNG, gần gủi bạn bè hơn như SAO TRÊN RỪNG, SA GIANG (*).

Hiện nay ở Thung Lũng Hoa Vàng, cũng có một danh sĩ, nửa ẩn, nửa hiện, nửa bí, nửa khỏa… lại cũng thân, cũng thích bạn văn. Nhân vật nầy sinh trưởng ở miền NÚI ẤN SÔNG TRÀ. Chưa viết hết lời ca tụng, quý vị cũng biết ngay đó là người họ , tên VĂN, lót chữ THẠNH.

 

Cứ theo triết tự Bà La Môn, thì danh tính VÕ THẠNH VĂN được thầy bùa của Bà  La giải thích như sau: Khởi từ nghề VÕ (Trung Úy Phi Công bán phản lực cơ CH-47), đã rất thịnh phát ngữ ngôn, dẫn đến nghiệp VĂN —và rồi sẽ tới đâu, để kết thúc cuộc nhân sinh sau nầy, phải hậu tính. Ta chỉ chiêm ngẫm hiện tại, để cùng suy diễn mười thành công lực của bạn ta cho vui.

À, chẳng lẽ hôm nay CAO MỴ NHÂN tôi lướt qua… chiêu bói toán của…Lốc Cốc Tử. Mặc dầu cũng có thời ôm trắp tới cửa đại học Nhân Văn học lỏm thiên văn, địa lý của BỘI PHẢN HỒI, vị giáo sư chuyên khoa khuếch tán Vật Lý Học ĐÔNG ĐÔ, tức HÀ NỘI PHỐ ngày nay, đầu thập niên 80 của thế kỷ trước.

Thế thì, mới trên 60 ngày qua thôi, qua hai dịp liên tiếp đầu hai tháng 4 và 5 (năm 2008) mới đây, MỴ tôi lên SAN JOSE dự hai buổi sinh hoạt theo thứ tự của “Văn Bút Tây Bắc HK,”“Lễ Vinh Danh Các Bậc Thi Sĩ Lão Thành,” được hân hạnh tiếp hiền đệ.

Số là tuổi đời, ngã nầy hơn họ VÕ, nhưng tuổi đạo (?) thì họ lại hơn Lão Bà Bà. Hóa cho nên, theo thuyết tương đối, luật bù trừ… thì chúng tôi là bạn.

Tôi cũng rất đồng ý kiến với VÕ THẠNH VĂN, qua một số nhận xét chung của cuộc thế và sự thể… văn vẻ ở miền thung lũng có rất nhiều hoa vàng xưa nay, rằng, HOA VÀNG nở mãi thì cũng đơn điệu, nên phải thêm chút HOA XANH, HOA TÍM, HOA MUÔN MÀU tùy thung thổ, đất đai, vườn tược… cho riêng mỗi chúng ta.

NGUYỄN ĐỨC SƠN tức SAO TRÊN RỪNG, thuở mới làm thơ đầu thập niên 60, thế kỷ trước, đã cảm thấy thoải mái ở một phần đời nào đó trên bãi biển. Anh ta tự do phóng uế những cặn bã sau khi tiêu hóa, bài tiết ngay trên ghềnh biển, gió mát, sau đó còn làm thơ. Tất nhiên tuyệt đại đa số nhân dân ta không thích kiểu thơ ca như vậy rồi. Sau ngày 30.4.75, NGUYỄN ĐỨC SƠN mang vợ con lên rừng, kiếm sống qua ngày, vì không thích chế độ ràng buộc quản lý.

VÕ THẠNH VĂN khác xa NGUYỄN ĐỨC SƠN, không phải vì VÕ THẠNH VĂN đang sống ở Mỹ, một đất nước đầy đủ tiện nghi, mà, VÕ THẠNH VĂN trong “suốt cuộc hành trình đơn độc đi vào tiểu ngã để truy tầm đại ngã, con người vừa hân hoan vừa bắt gặp, vừa ngậm ngùi chua chát cho thân phận làm người” để viết ra 10.000 (mười ngàn) câu lục bát, với 70.000 (bảy chục ngàn) chữ, lập thành KINH VÔ THƯỜNG, đóng thành  2 quyển Thượng và Hạ, lại có thể nói là 10 tập thơ CÁT BỤI, mỗi tập 1.000 (một nghìn) câu.

Bạn đọc theo dõi lối kể lể ở CHỐN BỤI HỒNG nầy, sẽ hỏi CAO MỴ NHÂN rằng, tác giả đóng bộ 10 tập thơ CÁT BỤI đó, thành 2 quyển Thượng và Hạ, đặt là KINH VÔ THƯỜNG … để làm gì?

Chao ôi, đã gọi là THƯỜNG thì còn hỏi để làm gì nữa à! Huống chi, tiểu đề đã khẳng định chỉ là 10 tập thơ CÁT BỤI. Mà đã CÁT, đã BỤI… thì còn gì thêm để giải thích!? Hoặc độc giả muốn hỏi KINH VÔ THƯỜNG của VÕ THẠNH VĂN mang ý định khuyến đạo gì đây? ĐẠO TRỜI hay ĐẠO PHẬT, hay còn ĐẠO chi khác nữa?

Xin thưa, đã là ĐẠO, thì quý hóa lắm rồi, kể cả ĐẠO ĐỜI cũng mang chân lý sống –một cách sống ý nghĩa:

“Bụi từ thập giá phục sinh

”Về qua biển đỏ xây linh hiển đài

”Cát từ sa mạc phôi khai

”Về qua biển chết đầu thai kiếp người

(Bốn câu kết tập CÁT BỤI 1,

VÕ THẠNH VĂN)

Nhà thơ HÀ THƯỢNG NHÂN đã đề tựa KINH VÔ THƯỜNG của VÕ THẠNH VĂN: “Suy cho đến cùng thì đời người chẳng có gì cả. Sống lâu hay chết yểu thì cũng có lúc bắt đầu và chấm dứt. Cho nên cổ nhân nói: Không có thọ yểu, không có sang hèn. Dù biết đời chẳng có gì cả mà tác giả VÕ THẠNH VĂN lại viết KINH VÔ THƯỜNG dài đến 10.000 (mười nghìn) câu lục bát…” [HÀ THƯỢNG NHÂN].

 

Đặc biệt hơn SAO TRÊN RỪNGVÕ THẠNH VĂN không quá đề cao mình (tiểu ngã), vì đã từ bao giờ VÕ THẠNH VĂN thấy tiểu ngã lẫn vào trong vô cùng đại ngã, khiến xót xa cho thân phận con người như cát, như bụi thôi.

Cho nên, đã một lúc nào đó, VÕ THẠNH VĂN thu xếp sinh hoạt đời mình, để đi ở ẩn, giả dụ tạm ở ẩn giữa cuộc sống xa hoa thực dụng của xử sở Hoa Kỳ, VÕ THẠNH VĂN tự đặt đạo hiệu cho mình là PHÙ HƯ DẬT SĨ, thỉnh thoảng diện bích nơi PHÙ HƯ AM, Vùng Bắc Vịnh, miền Bắc Cali.

Đôi lúc, người bình thường chúng ta tự hỏi là: Tại sao đang hiện diện ở thế kỷ 21 nầy, con người càng lúc càng văn minh tiên tiến hơn, có thể tới thời điểm nào đó, thân xác con người sẽ máy móc hóa toàn bộ đến từng phần tử tế bào, mà lại có những PHÙ HƯ DẬT SĨ, những ẢO HUYỀN ẨN SĨ v.v… để mơ mộng, hoang tưởng kiếm tìm một thế giới không thực, không giống cái xã hội chung quanh, thực tế 100%… là tại sao nhỉ?

Song le, nếu ai cũng như ai, thực tế, thực dụng, máy móc… thì còn đâu, và còn ai biết đến cái lẽ huyền vi, sự vô cùng, cái bất tuyệt của TRỜI ĐẤT, VŨ TRỤ, hay ĐẠI NGÃ… để khép mắt van xin Đấng HÓA CÔNG, Ngài TẠO HÓA (nếu không dám nhắc tới THƯỢNG ĐẾ siêu việt) cho loài người chúng ta thể hiện LÒNG TIN (khó, rất khó diễn giải)… thì bấy giờ, chỉ còn cầu nguyện là thượng sách.

Thành ra, những nhân vật nửa cụ thể, nửa mơ hồ, trừu tượng, ma ma, PHẬT PHẬT… đôi hồi, e cũng rất cần thiết đấy.

Hawthorne, 22.5.2008

CAO MỴ NHÂN

(*) SA-GIANG đây là bút hiệu của TRẦN TUẤN KIỆT, sinh năm 1939 tại Sa- Đéc, theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc (Sài Gòn), từng cộng tác với các báo Văn Hóa, Ngày Nay, Phổ Thông, Nghệ Thuật, Văn, Tiếng Nói, Sống Chủ Nhật… đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm1969 . Đã viết: Thơ Trần Tuấn Kiệt, Bài Ca Thế Giới, Cõng Gió, Triền Miên Ngâm Khúc, Cỏ Nội, Sa Mạc Lan Dần, Tiếng Đồng Nội, Thi Ca Việt Nam Hiện Đại… Khác với SA GIANG, bút hiệu của NGUYỄN VĂN PHẬN cầm bút mới mấy năm gần đây  tại Hoa Kỳ. (NT).

BẠT 2

Ngô Đức Diễm

KINH VÔ THƯỜNG

NIỆM THƯỜNG HẰNG

Mở Kinh Vô Thường, đọc từng chữ, ngẫm từng ý, thưởng thức từng câu, tôi cảm thấy như đang tụng kinh Phật, đang chiêm nghiệm Thánh Kinh, hay hơn nữa, đang tấp tễnh bước vào thiền. Thú thật, tội không  đủ thâm sâu để bắt hết ý của tác giả trong mấy chục ngàn câu thơ, nhưng mỗi câu mỗi chữ, đều cho tôi cảm giác tìm thấy một cái gì mới mẻ, thường hằng trong cái vô thường của  cuộc đời..

Thật vậy, nói đến vô thường là nói đến dâu bể, hình hoại, sắc không, nhưng trong cái chuyển hóa như cơn lốc xoáy như thể là Diện đó, tác giả đã tìm thấy một cái gì vĩnh hằng, không suy suyễn như thể là Điểm. Đó có thể cái Định trong Vô Định, cái Còn trong cái Mất, cái Có trong cái Không:

Vách am cỏ dựa sơn căn

Chợt nghe từng nụ thường hằng trổ hoa

Thường hằng còn nụ, nghĩa là mới chớm,  còn chúm chím, chưa tung khai, và đó mới thực là vẻ đẹp hồn nhiên như thể nét mặt trẻ thơ, hiển lộ cái  Đạo uyên nguyên của Lão Tử. Nhưng điều đáng để ý là nụ thường hằng đi ra khỏi thể tĩnh để trổ hoa,  chính là đi vào thể động, nên người ta mới nghe được tiếng hoa nở, một cách bất chợt, không thể ngờ, như thể một mặc khải.

 

Nói đến mặc khải là nói đến huyền nhiệm, không thể giải thích, minh họa, mà chỉ có thể cảm nghiệm và cảm nhận. Hình như tiếp nhận mặc khải, con người phải đối diện với một thực thể mới, lung linh giữa mơ và thực, giữa tỉnh và mê:

Nửa mê nửa tỉnh bàng hoàng

Có ai gõ đá tụng tràng kinh ma

Thực thể mới đó là một sự trộn lẫn giữa “ gõ đá” và “kinh ma”. Nhìn thoáng  thì tất cả chỉ là ảo ảnh, nổi trôi bồng bềnh, là ma, vì tất cả đều khoác áo “phù” dung, nếm mùi  phù sinh,  phù du, phù trầm và phù hư:

Em phù sa-ta phù vân

Lêu bêu trên đỉnh mây tần phù du

Phù trầm lạc bến phù hư

Phù sinh cát bụi trầm tư cửa thiền

Nhưng thoáng thấy thế mà không phải thế… Tất cả ảo ảnh nỗi trôi đã chìm xuống tại cửa Thiền. Có ba chìm  bảy nổi mới tìm thấy chân lý tại cửa thiền. Tại đây tất cả đã hóa thân thành một thực tại mới vuợt trên vô thường, giã từ nổi trôi bất trắc và bất định:

Môi nào nếm thử chân như

Mắt nào thấy rõ bụi từ hóa thân

Bụi hóa thân hay mắt hóa thân? Đời hóa thân hay người hóa thân? Không cần biết nữa, vì một khi đã nửa tỉnh nửa mê, thì đâu còn biên giới ngăn cách giữa chủ thể và đối tượng. Chỉ cần biết có một biến động lớn, làm thay đổi cả mối tương quan hữu thể giữa chủ thể và khách thể. Thế là trong cái hỗn mang đã có hóa thân, nhưng hóa thành thân  nào? Thưa là thân mới, không còn là thân thường, thân đời, mà là thân tiên:

Môi tiên thơm dạ lý hương

Tay tiên chép rã vô thường thư si

 

Thế  đó! Ngày nào Holderlin bảo “người ở đời thiết yếu là thi sĩ.” Hôm nay, trong Kinh Vô Thường, Võ Thạnh Văn đã mở cửa Đời, cũng là cửa  Thơ và của Thiền để người ở đời – thi sĩ hé thấy hoa Tình như thể thực tại muôn thuở. Ai bảo tình  mong manh dễ vỡ, chóng qua, vô thường… thì mặc ai,  còn Võ Thạnh Văn đã thấy tình thường hằng, vĩnh cửu:

Tựa cửa Không đọc kinh hiền

Lời Tình nhả ngọc – Lam Điền hóa thơ

Rốt cuộc, tất cả  là hư không. Chỉ có Tình là vĩnh cửu, là thường hằng. Nhưng tình lại chính là thơ, nên thơ phải viết bằng chữ hoa. THƠ là thường hằng vĩnh cửu, và đó chính là nụ hoa tô điểm cuộc đời. THƠ phải là KINH vậy..

Chợt nghe từng  nụ thường hằng trổ hoa..

 

Ngô Đức Diễm

 

CẢM TÁC

HẢI PHƯƠNG

Đọc KINH VÔ THƯỜNG

Của VÕ THẠNH VĂN

Em đi cát bụi có nghe

Hồn ta ở lại bến xe đò chiều

Em về cát bụi thương yêu

Con sông rẽ nhánh sóng triều biển ca

Đời nhau mấy ngã đôi ta

Tài hoa cát bụi rộng tà huy bay

Phận người cát bụi như say

Phiêu bồng hát mãi tâm đầy lượng không

Mở trang vô tự đoạn trường

Thấy trong lá biếc vô thường dòng kinh

Một phương ta một phương mình

Còn phương cát bụi lời tình quạnh hiu

Phù vân tàn một cuộc vui

Thì thôi cát bụi ngậm ngùi nỗi đau

Phôi pha vời vợi sắc màu

Đục trong cát bụi tìm nhau mệt đời

Hỡi em cát bụi mịt trời

Lời vô ngôn cũng là lời tình yêu

Vô thường quảy gánh mộ xưa

Qua đây cát bụi như vừa chiêm bao

HẢI PHƯƠNG

khi ở San Jose

tháng chín 2007

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: