BA NHÀ THƠ LÃNG MẠN THỜI VÃN ÐƯỜNG

BA NHÀ THƠ LÃNG MẠN

                            THỜI VÃN ÐƯỜNG

 

                                                MỘNG TUYỀN NỮ SĨ

Thời Tịnh Ðường chẳng những đem lại cho nền văn học Trung Hoa những nét vàng son chói lọi mà còn luôn các bộ môn văn chương khác, có một sắc thái khác thường.

Người có công dấy lên phong trào thi ca trong khắp thiên hạ lúc bấy giờ chính là Huyền Tông –  vị  hoàng đế đam mê về văn học nghệ thuật. Nhà vua đã đề xướng ra sự phối hơp giữa văn học và âm nhạc, nhờ vậy mà kể từ đó nảy ra những sáng tác mới để các con hát trong đám cung nữ vừa vũ lộng vừa ca hát  vào những dịp kỳ đình tá tửu trong triều đình mỗi lần có yến tiệc, dần dà lan rộng ra ngoài dân chúng.

Trong Ngư Dương Thi Thoại của Vương Sĩ Trinh viết rằng:” Nguyễn Tịch , Quách Phác,Ðào Tiem Ta Linh Vận,Tạ Thiếu,Giang Yêm…ø

được xem là tinh túy,vi diệu mà các nhà thơlấy đó làm cái gốcø. Nếu nói về các nhà thơ nổi tiêng thời Thịnh Ðường,không ai ngoài Lý Bạch từng đươc các nhà phê bình cho ông chính là bậc thi thánh vô tiền khoáng hậu.. Ðại khái như Bì Nhật Hưu đã viết:”Thời đại nhà Ðường kẻ gây dựng nên sự nghiệpï “lời thơ  ra ngoài vũ trụ, ý tứ vượt cả sự biểu hiện của quỷ thần…Lỗi lạc khôn cùng phiêu diêu bất tận…. Người đó là Ly Bạch.”

Cùng thời với Lý Bạch là Ðỗ Phủ đươcï xem như vì sao sáng chói. Chẳng những người đương thời ca tụng ông như bậc  thi thánh, mà các đời sau cũng đềụ xem ông như ngôi sao Bắc Ðẩu rực sáng cả vòm trời.

Chẳng những người đương thời xem ông là thi thánh mà luôn cả các đời sau cũng đều ca tụng ông là nhà thơ nhất quán trong thiên hạ. Có lần Tô Thức sửng sốt kêu lên khi đọc xong bài Bắc Chinh bằng câu nói thốt lê từ con tim nói lên sự thán phục của mình:” Ðây đúng là tinh hoa của trời đất kết tụ lại, bố cục đã chặt chẽ mà pháp độ còn cẩn nghiêm khó có ai vượt hơn được nữa.” Chẳng phải riêng Tô Thức nhận thấy như vậy mà còn cả Hoàng Sơn Cốc  cũng thản thốt  phê phán không tiếc lời:

“ Bài thơ Bắc Chinh chẳng những đã ghi lại được sự việc của một triều đại mà còn có thể sánh tày với thơ Quốc Phong,Nhã Tụng…”

Thái Khoan Phu cũng phải ca tụng cho là Ðỗ Phủ có một hướng đi độc đáo, như bài Bình Xa Hành,Thùy Lão Biệt. Oâng đã tự tạo ý,lập đề,không theo cung cách người xưa

Như bài Tẩy Binh Mã,Cổ Bá Hành,tuy dùng nhiều ngẫu ngữ mà khí cốt vẫn giữ được nét trầm hùng,nghị luận lại có phần tuấn vĩ. Có thể nói rằng các thi nhân thời Sơ Ðường không thể nào sánh kịp.

Các bài thơ tuyệt tác có những câu được xem là tuyệt cú như:

Tứ canh sơn thố nguyệt

Tàn dạ thủy minh lâu

Có nghĩa

Canh tư, núi ọi ra trăng

Ðêm tàn,lầu in mặt nước

Hoặc:

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ

Bất tận truờng giang cổn cổn lai

có nghĩa:

Xơ xác lá bay trong vô định

Chẳng bến bờ, sông chảy triền miên.

Thời Thịnh Ðường,thơ Lý Bạch được xem là thi phái lạc quan, có chất

lãng mạng,họ Ðỗ thuộc phái bi quantả chân. Lý Bạch có nhân sinh quan xuất thế,còn Ðỗ Phủ thì chủ trương nhập thế.  Hàn Dũ từng ca tụng  thơ Lý Ðỗ chẳng khác nào ánh sáng trải đi cả muôn dặm đường dài…

Lý Ðỗ văn chương tại

Quang mang vạn trượng trường.

*

Thịnh Ðường có thơ Lý Bạch,Ðỗ Phủ. Ðến thơiø Vãn Ðường thì có ba nhà thơ lớn: Ðó là Ðỗ Mục,Lý Thương Aån,Oân Ðình Quân.

Ðỗ Mục có tư thái phóng khoáng. 6ng tự là Mục Chi,người huyện Vạn Niên,quận Kinh Triệu,tỉnh Thiểm Tây. Người đời thường gọi là Tiểu Ðỗ, còn Ðỗ Phủ được gọi  Lão Ðỗ. Oâng đậu tiến sĩ vào năm Thái Hòa nhị niên,làm chức quan Trung Thư Xá Nhân trong triều. Tính tình lãng mạn nhưng cương trực,không câu chấp,hay lưu tâm đến những chuyện tiểu tiết.

Ðỗ Mục là người đa tình,mê sắc. Lúc ông còn làm thư ký cho Hoài Nam Tiết Ðộ Sứ Ngưu Tăng Nhụ,thường lai vãng chốn thanh lâu đàn hát thi ca,nổi tiếng là khách phong lưu ở Hoài Nam,một nơi phồn hoa đô hội. Thơ ông sáng tác có tính  hỗn hợp giữa văn học và âm nhạc,dành cho các ca nhi kỹ nữ và được giới ca kỹtruyền đi khắp nơi. Cuộc sống phong lưu của ông phản ảnh qua hai câu thơ:

Thập niên nhất giác Dương Châu mộng

Doanh đắc thanh lâu cảnh phụ phàng

Có nghĩa:

Mười năm chợt tỉnh Dương Châu mộng

Chỉ chuốc thanh lâu cảnh phụ phàng

Ðến niên hiệu Thái Hòa mạt niên,ông được cử làm Thứ Sử Tri Châu. Ði nhậm chưc được ít lâu nghe phong thanh đất Hồ Châu có nhiều gái đẹp, bèn đến xem cho biết thực hư. Quả như lời đồn đãi,khi ghé lại một gia đình nọ, thấy một cô bé mới chừng mười tuổi sắc đẹp có thể nói sau này khi lớn lên sẽ thuộc vào hàng chim sa cá lặn. Oâng bèn nhờ người địa phương mai mối,tặng cho gia đình cả rương lụa và bạc vàng đầy đủ như một lễ dạm hỏi,hẹn mười năm sau sẽ làm lễ vấn danh và cử hành hôn lễ.

Oâng dâng sớ xin làm Thứ Sử Hồ Châu,nhưng mãi đến mười bốn năm sau mới được đổi theo lời thỉnh nguyện. Nhưng than ôi,khi đến nơi thì cô gái kia đã đi lấy chồng cách đó ba năm sau thời gian đợi chờ mòn mỏi.

Ðỗ Mục không ngăn được nỗi đau thương bộc lộ qua lời thơ:

Tự thị tầm xuân khứ giảo trì

Bất tu trì trưởng oán phương thì

Cuồng phong lạc tận thâm hồng sắc

Lục diệp thành âm tứ mãn chi

Bài thơ nói lên nỗi đau lòng của Ðỗ Mục,kể từ khi ông đi tìm mùa xuân,ôi thôi đã quá muộn rồi. Không oán trách đã bỏ lỡ thời gian  vàng son, trận cuồng phong làm rơi rụng hết thời đỏ thắm. Lá xanh biếc nay đã trở nên rậm rạp,trái trỉu đầy cành.

Gẫm phận tìm xuân quá muộn rồi

Dám đâu oán trách  lỡ phương thờøi

Cuồng phong giũ sạch màu hoa thắm

Lá biếc đơm cành trái trổ thôi

Từ đó ông đâm ra tương tư  thờ thẫn rồi ngã bệnhqua đời,năm ông vừa tròn 50 tuổi, để lại một tác phẩm bất hủ.mang tên Phàn Xuyên Văn Tập. Bài thơ Bạc Tần Hoài của ông mang đậm nét hào diễm,tuấn sảng:

Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa

Dạ bạc Tần Hoài cận tử gia

Thương nữ bất tri vong quốc hận

Cách giang do xướng Hậu đình hoa

Khói in nước,cát trăng soi

Ghé kề bến rượu Tần Hoài đêm khuya

Gái buôn quên nhục sơn hà

Cách sông hát mãi khúc ca Hậu Ðình

Tchya

MỘNG TUYỀN NỮ SĨ

Bình luận về bài viết này