Chuyện “hồi ký” bà Nhu
Chuyện “hồi ký” bà Nhu
Lữ Giang
Hôm 1.5.2011, đài RFI đã phổ biến bài phỏng vấn ông Trương Phú Thứ, hiện ở Seattle, về tập sách (có người gọi đó là “hồi ký”) của bà Ngô Đình Nhu mà ông dự tính sẽ ra mắt vào năm 2012. Nhiều người đang chờ đọc. Tôi nhớ khi mới viết xong phần đầu của tập này, bà Nhu đã gởi cho Đại Tá Nguyễn Linh Chiêu ở Westminster, California, như muốn thăm dò ý kiến. Tôi và một vài thân hữu được mời tới xem. Tôi đã đọc và thấy bà ấy viết tiếng Pháp với một lối hành văn khá rắc rối và với nội dung có nhiều chỗ rầt khó biết được bà muốn nói gì. Hơn nữa, những điều bà viết không liên hệ gì đến những điều mà nhiều người muốn biết, bà chỉ nói lên những cảm nghiệm của bà về đạo. Do đó, chúng tôi đã “coi như không có”. Nay tập sách nói trên đang được ông Trương Phú Thứ nhờ dịch ra tiếng Việt và sẽ xuất bản, chúng tôi thấy cũng cần trình bày một vài ý kiến. Tuy nhiên, trước khi trình bày, chúng tôi thấy cần nói qua vài nét về bà Ngô Đình Nhu và gia đình bà, cuộc sống của bà tại hải ngoại… mới có thể giúp độc giả nhìn vấn đề một cách dễ dàng hơn. VÀI NÉT VỀ BÀ NGÔ ĐÌNH NHU Như mọi người đã biết, bà Ngô Đình Nhu có khuê danh là Trần Lệ Xuân. Theo một vài tài liệu, bà Trần Lệ Xuân sinh tại Hà Nội (có tài liệu nói sinh tại Huế) năm 1924, mẹ là bà Thân Thị Nam Trân, cháu ngoại của vua Đồng Khánh và em họ của vua Bảo Đại, cha là luật sư Trần Văn Chương. Trần Lệ Xuân lớn lên ở Hà Nội, từng theo học trường Albert Sarraut và đã tốt nghiệp tú tài Pháp. Năm 1943, Trần Lệ Xuân kết hôn với người con trai thứ sáu của dòng họ Ngô Đình là ông Ngô Đình Nhu và theo đạo Thiên Chúa. Trong thời gian ông Ngô Đình Diệm chấp chánh (1954 – 1963) và ông Ngô Đình Nhu làm Cố Vấn Chính Trị, vì ông Diệm không có gia đình, bà Nhu được coi như là Đệ nhất Phu nhân (First Lady) của Việt Nam. Bà đã ra ứng cử dân biểu và đắc cử trong cả hai nhiệm kỳ liền dưới chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà. Trong thời gian này, bà đã làm ba việc được nhiều người chú ý nhất: (1) Ngày 20.5.1958 bà tuyên bố thành lập Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới, mục tiêu chính của Phong Trào là vận động phụ nữ ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm. Bà Đinh Thủy Yến, phu nhân của Tướng Trần Thiện Khiêm, được coi như cánh tay mặt của bà trong Phong Trào này. Lúc đó, ông Diệm không hay biết Tướng Khiêm là người được CIA cài vào để lật đổ ông nên coi Tướng Khiêm như “con cưng”. Trung Tá Nguyễn Hữu Duệ, Tư Lệnh Phó Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống, cho biết có lần được gặp riêng ông Diệm, ông có hỏi rằng trường hợp có biến cố gì xẩy ra, Tổng Thống và ông Cố Vấn bị trở ngại, chúng tôi sẽ xin lệnh của ai. Tổng Thống Diệm trả lời: “Cứ hỏi Tướng Khiêm và Tướng Đính”! (2) Đệ trình dự luật Luật Gia Đình, sau đó trở thành Luật Gia Đình số 1/59 ngày 2.1.1959. Luật này cấm chế độ đa thê vốn đã có từ lâu ở Việt Nam, truất quyền của các con ngoại hôn và không chấp nhận ly dị. (3) Ngoài hai công việc nói trên, bà đã lăng xê thời trang áo dài cổ hở đầu tiên ở Việt Nam, nên nhiều người thường gọi loại áo dài cổ hở đó là “áo dài cổ bà Nhu». Phóng viên RFI có hỏi ông Trương Phú Thứ rằng khi tiếp xúc với bà ông có thấy bà ăn diện không, ông Thứ trả lời: “Không. Khi tôi tiếp xúc với bà thường thường thì bà hay mặc cái áo kimono của Nhật. Bà nói với tôi những cái áo kimono này là của một vài người bạn Nhật, mỗi năm họ gửi cho vài ba cái để mặc ở trong nhà. “Còn về cái áo khoét cổ, thì khi tôi nói chuyện với bà, bà nói ở Sài Gòn nóng quá – bà lấy hai ngón tay ra dấu như cái kéo – thì tôi cắt cái cổ đi cho nó mát. Bà nói là, tôi mặc như vậy thì Tổng Thống không có bằng lòng. Tôi nghĩ là về sau thì nhiều người theo cái mốt của bà Nhu cũng mặc áo dài hở cổ, thì chắc là ông Tổng thống cũng chẳng để ý đến cái chuyện đó nữa”. Ngày 10.9.1963, bà Ngô Đình Nhu dẫn một phái đoàn dân biểu đi dự Hội Nghị Quốc Tế Nghị Sĩ tại Nam Tư và nhân tiện ghé qua nhiều nước Âu Mỹ để “giải độc” dư luận quốc tế về vấn đề Phật Giáo. Ngày 18.10.1963 bà đến Hoa Kỳ, có người con gái đầu là cô Ngô Đình Lệ Thuỷ cùng đi theo (Thật ra đây là một sự xếp đặt của Mỹ cho bà và con gái ra đi trước khi đảo chánh, chúng tôi sẽ nói sau). Ngày 1.11.1963, khi bà Nhu và con gái đang ở khách sạn Wilshire Hotel tại khu thượng lưu ở Beverly Hill, Los Angeles, California, thì ở Sài Gòn xảy ra cuộc đảo chánh, cả ông Ngô Đình Diệm lẫn ông Ngô Đình Nhu đều bị giết. Ngày 15.11.1963, bà và con gái đã rời khỏi Los Angeles sau khi tức tối tuyên bố: “Tôi không thể cư ngụ ở Mỹ, vì lý do đơn giản chính phủ của họ đã đâm sau lưng tôi”. Khi cuộc đảo chánh xẩy ra, ba đứa con nhỏ của ông bà Nhu là hai cậu Ngô Đình Trác, Ngô Đình Quỳnh và người con gái út là Ngô Đình Lệ Quyên đang ở Đà Lạt với toán bảo vệ thân tính của ông Nhu. Có lẻ do sự sắp xếp trước, Tướng Nguyễn Khánh, Tư Lệnh Quân Khu 2, đã ra lệnh cho một toán quân nhân đem máy bay đến nhận ba người con này và nói sẽ đem trả cho mẹ chúng. Toán bảo vệ liền cho Thượng Sĩ Phúc đi theo. Lúc 3 giờ chiều ngày 4.11.1963 ba đứa nhỏ đã được đưa về ở trong nhà của Tưóng Nguyễn Khánh, gần sát cổng Bộ Tổng Tham Mưu. Tướng Trần Văn Đôn cho biết, sau đó ông đã cho người đi mới bà Trần Trung Dung đến gặp ba đứa nhỏ. Tướng Khánh ra đón bà Dung tận ngoài cổng. Tướng Đôn cho biết sau này bà Dung có kể lại với Tướng Đôn rằng khi đi từ cổng vào nhà, Tướng Khánh có nói với bà: “Chúng tôi sẽ trả thù cho ông Cụ!”. Lúc 4 giờ chiều, Đại Sứ Cabot Lodge đã đến nhà Tướng Dương Văn Minh xin nhận 3 đứa con ông bà Nhu và hứa sẽ lo cho ba đứa đi qua Rome bằng một chuyến bay đặc biệt. Tướng Đôn cho biết ông nói với Đại Sứ Lodge rằng ba đứa đang ở nhà Tướng Khánh và “chúng tôi sẵn lòng trao trả”. Đại Sứ Lodge liền gọi điện thoại cho sứ quán Mỹ yêu cầu trong ngày 4.11.1963 phải cho một chiếc máy bay đưa ba đứa nhỏ đi Rome. Lúc 8 giờ tối, Lucien Conein đã đến nhà Tướng Khánh đón ba đứa nhỏ. Tướng Đôn có cho Đại Úy Khấn, tuỳ viên của ông đi theo Lucien Conein lên phi trường. Lúc 9 giờ tối Đại Úy Khấn trở về và cho biết phi cơ đã cất cánh, sẽ ghé Bangkok rồi đến Rome. (Trần Văn Đôn, Việt Nam Nhân Chứng, Xuân Thu 1989, tr. 243 – 244). CUỘC SỐNG Ở HẢI NGOẠI Năm 1963, sau khi rời Mỹ bà Trần Lệ Xuân cùng các con đã về sinh sống tại Rome, nơi Tổng giám mục Ngô Đình Thục đang tá túc. Khi TGM Thục qua Mỹ, gia đình bà vẫn sống ở đó. Đến năm 1990, người em út của ông Diệm là ông Ngô Đình Luyện qua đời tại Paris vì bệnh. Lúc đó bà không đưa các con đến Paris dự đám tang vì trước đó giữa bà và ông Luyện có xích mích với nhau. Nhưng sau khi ông Luyện chết, bà đã qua Paris cứ trú. Các con bà vẫn ở lại Ý. Vào tháng 3/2002, ông Trương Phú Thứ đã qua Paris chơi và có được gặp bà Nhu. Khi về lại Hoa Kỳ, ông có viết một bài kể lại cuộc sống của bà. Ông cho biết bà Nhu sống một mình trong căn hộ của một tòa nhà mới xây gần tháp Eiffel. Bà có hai căn ở tầng thứ 11, tại một khu vực đẹp và đắt tiền nhất Paris. Bà ở một căn, căn còn lại cho thuê để sinh sống. Đó là nguồn thu nhập duy nhất, đủ để sống, không cần nhờ vả đến các con. Căn nhà của bà Nhu khá tầm thường, với hai phòng ngủ và một phòng khách. Trên tường phòng khách còn treo vài bức ảnh lớn của ông Ngô Đình Diệm, ông Ngô Đình Thục, ông Ngô Đình Nhu và con gái lớn Ngô Đình Lệ Thủy. Bà Nhu bác bỏ tin đồn nói một người Pháp giàu có đã biếu TGM Ngô Đình Thục một số tiền lớn, sau đó ông đã cho bà để mua hai căn hộ này. Sự thật không phải thế. Bà Nhu trực tiếp nhận được tiền từ một ân nhân ẩn danh. Sau đó bà nhờ một cựu bộ trưởng thời De Gaulle giúp mua cho hai căn hộ này. Bà kể lại: “Mấy thanh niên Việt Nam mới đến Pháp, bơ vơ, tôi cho tạm trú ở căn hộ này, không lấy tiền nhà và điện nước. Một thời gian sau, họ có thân nhân đón đi hay mua nhà riêng, tôi mới cho một nhà ngoại giao Nhật thuê”. Bà còn tiết lộ vị ân nhân đó chính là bà Capici, một phụ nữ Ý từng nằm trong danh sách những người giàu nhất thế giới. Bà chưa từng gặp mặt vị ân nhân này, và mãi 4 năm sau khi bà này tạ thế, bà mới biết rõ thân thế và sự nghiệp của bà ta. Mỗi sáng sớm, bất kể thời tiết nóng lạnh, bà Nhu đều đi bộ chừng 10 phút đến nhà thờ Saint-Paul dự lễ. Sau thánh lễ, bà ở lại giúp dọn dẹp nhà thờ và xếp đặt trưng bày hoa, nến. Ngày Chủ nhật, bà còn dạy giáo lý cho trẻ con. Ông bà Ngô Đình Nhu có 4 người con. Cô Ngô Đình Lệ Thủy là con đầu, sinh năm 1945, bị chết vào tháng 4 năm 1967 trong một tai nạn xe hơi ở Longjumeau, ngoại ô thành phố Paris. Lúc đó, cô đang lái một chiếc xe nhỏ bị một chiếc xe camion chạy ngược chiều húc thẳng vào đầu xe của cô làm xe cô nát bấy. Người con trai lớn là Ngô Đình Trác, tốt nghiệp kỹ sư nông nghiệp, lấy vợ Italia. Vợ ông thuộc dòng dõi quý tộc, rất giàu có. Ông bà có 3 con trai và 1 gái, người nào cũng cao to. Ông chuyên chế tạo những nông cụ thích hợp cho canh tác những mảnh đất nhỏ. Gia đình ông có một biệt thự to và đẹp ở nội thành Roma, có dáng dấp như một tu viện cổ. Nhà đó cách thủ đô Roma khoảng 10 cây số. Đó là nhà trệt, không có lầu, nhưng ở dưới có một cái tầng hầm. Gia đình ông Trác ở trên, và gia đình của cô em Lệ Quyên ở dưới. Họ sống với nhau cả bao nhiêu năm trời rồi, rất là vui vẻ và rất hòa thuận. Bà Nhu từng ở đây nhiều năm, khiến có tin đồn đoán bà đang sống trong một tu viện Công giáo! Người con thứ hai là Ngô Đình Quỳnh, tốt nghiệp Trường cao đẳng Kinh tế và Thương mại (ESEC) và hiện đang làm đại diện thương mại cho một công ty Hoa Kỳ ở Bruxelles, Bỉ. Ông không có vợ con nên bà Nhu thường nói: “Nó giống ông bác ruột” (Ngô Đình Diệm). Cô gái út là Ngô Đình Lệ Quyên có bằng tiến sĩ luật ở Đại học Roma và đang là luật sư ngành công pháp quốc tế và thỉnh giảng ở Đại học Roma. Cô được mời tham dự nhiều hội nghị quốc tế và đã công bố nhiều tham luận xuất sắc. Cô có chồng người Ý, nhưng có đứa con trai lại lấy họ mẹ là Ngô Đình Sơn khiến bà Nhu rất hãnh diện. Khi sức khỏe quá yếu, bà Nhu về Rome, ở căn nhà của gia đình Ngô Đình Trác. KHÔNG PHẢI LÀ HỒI KÝ HAY TỰ TRUYỆN Trước hết, ông Trương Phú Thứ cho biết tập sách ông sắp xuất bản là do bà Nhu tự tay viết ra và viết bằng tiếng Pháp. Ông nói: “Bà viết ra tự tay bà viết ra chứ không có ai viết thay bà hết, vì bà không có liên lạc với bẩt cứ một người nào hết. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai: các con bà ở mỗi người một nơi. Bà viết cái này khi bà còn ở bên Paris, tức là khi sức khỏe của bà còn tốt. Bà viết trong căn phòng appartement có một mình bà thôi, thì bà đâu có nhờ ai viết được, bà tự viết lấy. “Tiếng Việt của bà thì kém lắm, tiếng Pháp rất là giỏi. Tiếng Pháp bà viết còn hơn cả những người có bằng cấp về văn chương Pháp ở Pháp. Tiếng Pháp của bà rất giỏi nhưng mà tiếng Việt thì kém lắm, thành ra bà phải viết bằng tiếng Pháp. Thế thì bà đưa cho mình, và mình có nhiệm vụ dịch ra tiếng Việt Nam.” Khi được hỏi “liệu cuốn sách đó có đáp ứng được mong đợi của người đọc không?”, ông Trương Phú Thứ trả lời: “Cái này thì tùy theo quan điểm của người đọc. Những người nào tò mò muốn biết về đời tư của bà như thế nào, hoặc thái độ đối xử của bà đối với những người đã gây ra những đau khổ cho bà, hoặc những người vu oan nói xấu bà này nọ, thì không có. Bà không đề cập đến chuyện đó, vì bà coi đấy là những chuyện không đáng để nói tới. Quyển sách của bà truyền đạt những suy tư, tư tưởng của bà đối với thân phận con người, đối với tạo hóa, và rất có thể là nhiều người đọc sẽ thất vọng lắm. Nhưng những cái gì của bà viết ra thì mình sẽ đưa ra cho công chúng như vậy thôi, mình không thể nào thêm bớt được hết. Một dấu phẩy, một dấu chấm mình cũng không thay. Thứ nhất là bây giờ bà chết rồi mình phải tôn trọng cái đó một cách tuyệt đối.” Ông xác nhận đây không phải là một cuốn tự truyện mà cũng không phải là một cuốn hồi ký. Được hỏi trong sách có nói gì về “những lời đồn đãi chung quanh tính cách của bà không?”, ông cho biết: “Chuyện đó thì không có… Bà Nhu không hề động chạm, đề cập đến bất kỳ một chuyện lớn nhỏ nào như thế. Từ khi bà chọn một cách sống, ở một mình trong một căn phòng, tức là bà đã muốn quên hết, muốn bỏ lại đằng sau lưng tất cả. Những chuyện lớn chuyện nhỏ, chuyện vui chuyện buồn bà bỏ hết. Bà sống như một người khổ tu, gần gần như một người khổ tu vậy.” Ông Trương Phú Thứ cho biết thêm: “Trong sách bà không đề cập đến những vấn đề chính trị, những vấn đề mà đa số người muốn biết. Thí dụ như thái độ của bà đối với những người cầm khẩu súng mà bắn vào đầu chồng bà như thế nào. Có nhiều người nghĩ là bà sẽ chửi rủa những người kia, sẽ nói nặng lời với họ, nhưng tuyệt đối bà không nói một câu. Bà không để ý tới những chuyện đó nữa. Bà muốn quên, bà bỏ lại đằng sau lưng tất cả, và đặc biệt là bà muốn tha thứ tất cả. “Bà muốn tha thứ là vì bà là người rất sùng đạo. Bà nói, Chúa đã tha thứ cho bà, thì bà phải tha thứ cho tất cả mọi người, đơn giản vậy thôi. Bà không có thù oán, và không bao giờ nói nặng nhẹ đến những người đã gây khổ đau cho gia đình bà, không nói tới một câu.” MỘT VÀI CẢM NGHĨ Có lần tôi nhờ một người rất có uy tín với bà Nhu giới thiệu tôi qua Pháp nói chuyện với bà về một số biến cố lịch sử. Vị này bảo tôi xem tập cảm nghiệm do chính tay bà Nhu viết rồi nói chuyện. Tôi cho biết tôi đã đọc qua rồi. Vị này hỏi tôi với một người đang có những suy tư và cuộc sống như vậy, có thể tìm hiểu được gì không? Tôi nghĩ lại và không muốn đi phỏng vấn bà nữa. Bà Nhu vì lấy chồng và bị các biến cố về chính trị đẩy đưa vào chính trị, thật sự bà không phải là một chính khách, hoặc một nhà nghiên cứu hay phân tích chính trị. Chồng bà và người anh chồng của bà chắc chắn cũng không bao giờ chia xẻ với bà về các vấn đề chính trị. Bà chỉ được giao phó một vài sứ mạng đặc biệt. Do đó, bà không biết nhiều về các biến cố đã xẩy ra dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Những gì bà phát biểu về chính trị thường là do cảm tính (feeling). Tôi đã được nghe video và đọc phần chuyển ngữ cuộc phỏng vấn bà năm 1982 bằng tiếng Anh dưới nhan đề “Open Vault interview with Madame Nhu, 1982” do nhóm hệ thống thông tin WGBH ở Mỹ thực hiện. Bà nói có khi pha lẫn tiếng Pháp. Có tất cả 32 câu hỏi đã được đặt ra và bà đã trả lời khá gay cấn, có khi bà còn quay lại đặt câu hỏi với người phỏng vấn. Ở câu 22, khi được hỏi: “Thưa bà, ai đứng đàng sau cuộc khủng hoảng Phật Giáo?”, bà trả lời ngay: Tôi tin rằng trước tiên là Cộng Sản, nhưng nó không thể được khơi động lên nếu không có sự giúp đỡ của cơ quan truyền thông Hoa Kỳ, cơ quan truyền thông Tây Phương… Thật ra, đây cũng chỉ là cách suy nghĩ và phát biểu theo cảm tính của đa số người Việt về lịch sử trong 48 năm qua. Về tôn giáo, bà đã có cảm nghiệm về đời sống siêu nhiên sau khi trải qua nhiều biến cố đau thương. Đọc tập sách của bà, tôi có cảm tưởng bà chịu ảnh hưởng khá nhiều đối các tư tưởng của Công Đồng Vatican II, nhưng bà chưa cảm nghiệm được nhiều về đời sống siêu nhiên của đạo Thiên Chúa và đời sống tu đức của bà cũng chưa đạt tới, nên bà chưa thể có những suy nghĩ sâu sắc như thánh nữ Teresa dòng Camelo hay Mẹ Teresa Calcutta. Trong “Truyện một tâm hồn”, thánh nữ Teresa, một nhà ẩn tu, đã ghi lại cảm nghiệm của bà bằng một câu chuyện đơn giản như sau: “Con không hiểu sao chị ấy lại làm nước bắn lên cả người con như thế. Con muốn nói to lên rằng chị đừng làm như thế nữa. Nhưng con chợt nhận ra đây là kho tàng mà Chúa ban cho con, và con vui vẻ giặt đồ tiếp. Ngày hôm sau con sẽ đến giặt bên cạnh chị ấy nữa…” Còn Mẹ Teresa Calcutta viết: “Trong ngày sau hết, chúng ta sẽ không bị phán xét để xem chúng ta được bao nhiêu bằng cấp, bao nhiêu tiền của chúng ta có được hay bao nhiêu điều to tát chúng ta đã thực hiện. “Tuy nhiên, chúng ta sẽ bị phán xét theo điều này: Khi Ta đói, con đã cho ta ăn; khi Ta trần truồng, con đã cho Ta mặc, khi Ta không nơi nương tựa, con đã tiếp rước Ta.” Bà Ngô Đình Nhu cũng đã có một đời sống ẩn dật và chiêm nghiệm để hướng tâm hồn lên, những gì bà đạt được, bà đã ghi lại trong tập sách mà ông Trương Phú Thứ sắp xuất bản. Người đọc có thể hiệp thông phần nào với bà hay không hiệp thông, nhưng đừng mong tìm được ở trong đó những bí ẩn đã xẩy ra dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà hay trong cuộc đời của bà. Ngày 24.5.2011 Lữ Giang