Bí mật của “Đốm“ – Nguyễn Hữu Nghĩa

Bí mật của “Đốm“

Cái biệt danh ngộ nghĩnh, trẻ thơ đã làm tôi bật cười. Sao lại là Đốm nhỉ? Em ngoan hiền chứ đâu có “đanh đá cá cầy” như bà buôn chó lậu trong phim hoạt hình “101 con chó Đốm”, vả lại cũng chẳng ai gọi bà ta là Đốm cả. Gọi các chú gâu gâu đó là Đốm thì không sai vì da mấy chú đầy lốm đốm, con lớn con bé, cái lớn cái bé rất đáng yêu. Nhưng Đốm không phải là tên riêng của con nào mà là tên chung của cả bầy, em tuyên bố là em chỉ thích mỗi con “Đốm mập” thôi vì khi ham ăn nó mắc cười lắm, cái thân lớn hơn con heo đất có chút xíu mà lúc đói bụng dám hứa với mẹ là dư sức ăn hết một con voi. Xạo bà cố!

Có lần, trong lúc em vui miệng tôi hỏi.

– Em bị gọi là Đốm từ bao giờ?

– Anh đừng nói là bị, phải nói là được mới đúng.

Tôi vờ vịt nói bâng quơ.

– Sao là được nhỉ, vì Đốm, lang ben hay hắc lào thì cũng thế.

Em buông một câu xanh dờn.

– Anh dốt, Đốm chỉ là Đốm mà thôi.

Tôi cố chọc tức em.

– Lang ben, hắc lào rồi cũng loang ra thành Đốm mà.

Em nghiêm trang dậy dỗ thằng tôi .

– Anh lại dốt nữa rồi, chẳng có con chó Đốm nào bị lang ben, hắc lào cả. Đốm là hoa văn Chúa đã ghi dấu trên da nó để nó là chính nó, không lẫn lộn với thứ nào khác , là đặc ân nó được hưởng chứ có phải là bệnh ngoài da như anh nói đâu.

Tôi cố vớt vát.

– Những người khi được chữa hết ghẻ thì vẫn còn đốm.

Em nhìn tôi như đang phải đối diện với một kẻ thiểu năng trí tuệ.

– Anh không phân biệt được đốm thiên tạo và đốm nhân tạo sao. Anh chỉ cho em biết ai có thể thay Chúa vẽ trên da con hươu sao, con ngựa vằn, con báo gấm. . . và di truyền đặc tính đó theo các thế hệ như là chúng đang có đi. Anh bảo đấy là gì nào? lang ben, hắc lào cũng có thể di truyền à.

Em thêm một câu khiến tôi nghĩ là em đang nghiêm túc.

– Anh càng ngày càng dốt !

Em cho tôi một bài học về sự lý luận dựa trên niềm tin chính xác đã có sức thuyết phục mạnh mẽ dường nào. Em không cường điệu, không áp đặt, đường hoàng trả lời với sự hiểu biết rõ ràng về điều em đang nói. Tôi vốn là kẻ hay cà khịa, thích lý sự và thường là cãi đến cùng trong những cuộc tranh luận; nhưng lần này, riêng em với cách diễn giải dựa trên chứng cứ có sẵn của thế giới tự nhiên, em đã cho tôi biết sức mạnh của sự đơn giản.

Em không biết là em vừa chứng minh một điều hệ trọng có liên quan đến phương pháp luận, là dùng sự đơn sơ của tâm hồn, sự trong sáng của ngôn ngữ để tự tin diễn tả những hiểu biết cặn kẽ về một niềm xác tín. Đây quả là cách lý luận tuyệt vời, tôi thầm cám ơn Chúa đã dùng em như một phương tiện dậy dỗ để tôi ý thức được sức mạnh của niềm tin vững vàng nơi những tâm hồn đơn sơ.

Giờ đây tôi mới hiểu ý nghĩa sâu sắc lời Chúa Giêsu trách các môn đồ khi họ ngăn cản trẻ em đến với Ngài: “Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng cấm chúng nó vì nước Đức Chúa Trời thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai chẳng nhận lấy nước Đức Chúa Trời như một đứa trẻ, thì chẳng được vào đó bao giờ”. Tâm hồn tôi bềnh bồng trong lo lắng, làm thế nào để trở thành như con trẻ trong thời đại toàn cầu hóa này, khi mà chủ nghĩa thực dụng được xưng tụng như một cách sống hiện đại, văn minh.

Tôi nghĩ đến nữ thánh Téresa Hài đồng Giêsu – người trong suốt cuộc đời đã thể hiện tình yêu với sự nhiệt thành hết cả tâm hồn của lòng con trẻ đơn sơ, yêu cho đến tận cùng không tính toán hơn thiệt, yêu như đứa bé hồn nhiên yêu cha mẹ, tin tưởng tuyệt đối vào cha mẹ; hỏi ý kiến cha mẹ về những điều đã nghe, đã thấy; và khi đã lớn thì tâm tình với cha mẹ về những nhận xét, những cảm giác, cảm xúc trong mối quan hệ với mọi người, với công việc; hằng ngày quan tâm đến cha mẹ với lòng con cái chân thành biết ơn. Tất cả kết hợp lại thành một tâm tình được hiến dâng trong đức Tin, đức Cậy, đức Mến; tâm tình ấy được đặt trên nền tảng vô giá không thế lực nào có thể lay chuyển được, là tình yêu được thể hiện qua giá chuộc muôn đời của Giêsu – con Thiên Chúa.

Sức mãnh liệt của tình yêu này đã trở thành tấm gương mẫu mực cho chúng ta, được lan tỏa tự nhiên trong cộng đồng dân Chúa, được xem như đóa huệ ngát hương dâng lên Thiên Chúa. Giáo Hội hoan hỉ đón nhận tấm lòng người con thảo và long trọng tôn vinh người như đã tôn vinh các Thánh Giáo phụ.

*****

Em vẫn không chịu thổ lộ vì sao và từ bao giờ em được gọi là Đốm, nên tôi đoán già đoán non là chắc hẳn đã có duyên khởi ngọt ngào nào đó đã gây hứng khởi cho em chọn, hoặc được ai đó gán ghép với đằm thắm yêu thương, khiến em trong nỗi xôn xao kín đáo đã đón nhận cái biệt danh dễ thương đó.

Tôi chú tâm quan sát vẻ bề ngoài để cố đoán xem động lực thầm kín nào có thể hoặc có dịp biểu lộ ra, đã khiến em vui khi được gọi là Đốm. Y phục em thường mặc chẳng liên quan gì đến Đốm, thật nền nã, kín đáo, giản dị, mọi thứ hướng về mầu sáng nhẹ, đơn sắc; đôi khi có chút phá cách với áo váy xậm mầu thấp thoáng nét hoa văn chìm cùng một sắc độ; quần jean áo pull có họa tiết ngẫu hứng, có khi là vạch sọc hồn nhiên; thảng hoặc đôi lúc cần hiện diện trong những nghi thức hoặc khung cảnh trang nghiêm, em đài các thanh quý trong xiêm y thướt tha cẩn mật, phong cách lễ độ, ngôn từ chuẩn mực. Nhiều lần, nhìn vào mắt em tôi nhận ra nét tinh nghịch thỉnh thoảng lóe lên như đốm lửa nhưng chắc chắn đấy không phải lý do em là Đốm. Tôi hoài công đi tìm bí ẩn từ những dấu hiệu không hề tỏ lộ.

Đã có thể khẳng định không có yếu tố bề ngoài nào chi phối việc em chấp nhận biệt danh này, vậy chỉ còn lý do bên trong ẩn chứa nơi cái đầu bé bé xinh xinh của em mà thôi. Người xưa có dậy rằng “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”, tôi sẽ lên kế hoạch khiến em phải tiết lộ bí mật này. Bước đầu tiên là phải nịnh em thôi (mà thật lòng, tôi rất thích nịnh em nên không cần cố gắng), rủ em đi ăn chè, ăn sương sa hạt lựu, ăn gỏi đu đủ . . . sau mỗi chiều tan lễ. Nghĩ đến con “Đốm mập”, tôi hy vọng đã tìm ra cách “biết người”.

*****

Em thích đọc thơ, các bài thơ tiền chiến được phổ nhạc em thuộc hầu hết, một chiều may mắn, em nhờ tôi đệm đàn cho em hát bài “Ngậm ngùi” – thơ của thi sĩ Huy Cận đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Em thích tác phẩm này.

Tôi hỏi.

– Sao em thích?

Em trả lời.

– Vì đây là bài thơ nói về tình yêu được viết theo thể lục bát dân tộc, lời thơ đẹp và buồn như ca dao.

Tôi hỏi thêm.

– Vậy em thích thơ hay nhạc?

Em xác định rõ ràng.

– Em không phân biệt, em gọi chung đây là tác phẩm đã giữ được toàn bộ thể và lời thơ, không cần thêm gì cũng chẳng thể bỏ được gì khi phổ nhạc.

Tôi muốn nghe thêm.

– Còn gì nữa chứ, em ?

Em nhẹ nhàng nói khẽ.

– Nếu cần nói thêm thì đây là một tác phẩm thể hiện sự phối hợp đẹp đẽ tài năng của hai kẻ sĩ, ghi nhận lại nét lãng mạn đầu đời của văn học nước nhà trong giai đoạn giao thoa với văn hóa Tây phương, em nghĩ nó xứng đáng được đưa vào tủ sách “gìn vàng giữ ngọc” của dân tộc đấy.

Tôi quyết định nhân dịp này tìm ra cơ hội buộc em tiết lộ Bí mật của “Đốm”. Nghĩ là làm ngay.

Tôi buông lời thăm dò.

– Đây không phải là thơ tình đâu.

Em nhìn tôi thách thức.

– Anh đừng có mà . . . , em chấp nhận thua nếu anh chứng minh được điều anh vừa nói.

Tôi mừng thầm.

– Em thua thì phải cho anh biết vì sao em là Đốm nhé.

Khẽ mỉm cười, em nói nhỏ.

– Anh khôn lắm, nhưng không gạt được em đâu. Nếu anh giải thích thỏa đáng, có sức thuyết phục thì biết đâu . . . .

Tôi hân hoan chấp nhận.

– Ừ, anh kể đây.

*****

“ Nắng chia nửa bãi; chiều rồi. . .
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu.
Sợi buồn con nhện giăng mau;,
Em ơi! hãy ngủ. . . anh hầu quạt đây.
Lòng anh mở với quạt này;
Trăm con chim mộng về bay đầu giường . . . . “

Những câu thơ buồn bã dường như đang phân vân giữa thực và mộng đã hòa nhập vào giòng văn học nước nhà từ thập niên thứ tư của thế kỷ trước, nhiều thế hệ đã thưởng thức và đến nay lời thơ đẹp như ca dao vẫn mê hoặc lòng người.

Lời thơ hay lại được nhạc sĩ tài hoa phổ nhạc, sự phối hợp đã chắp cánh cho thơ vượt qua những sàng lọc nghiệt ngã của thời gian và ý thức hệ. Cuộc hôn nhân đẹp đẽ giữa ý thơ và giai điệu khiến không ai dám nghi ngờ hạnh phúc của nó, nhưng cũng chính cuộc đời đã cho thấy hạnh phúc nào lại không thấp thoáng nỗi đau. “ Ngậm ngùi “ cũng không thoát khỏi, tựa đề bài thơ đã tiên liệu cho số phận của chính mình khi rong chơi trong những giai đoạn biến động văn hóa vừa qua.

Ngày còn nhỏ, tôi đã bao lần được nghe “Ngậm ngùi”. Thuở ấy, bài thơ được phổ nhạc này vang vọng đến mọi vùng đất nước; trong quán cà phê, phòng trà, tư gia, qua đài phát thanh, đĩa nhựa, băng từ . . . . cả các chương trình phát thanh tiếng Việt ở nước ngoài cũng nhiều lần trang trọng đưa lên làn sóng. Thanh niên các thế hệ đã hòa tiếng hát với tiếng guitare dìu dặt để thổn thức với “Ngậm ngùi”. Tôi cũng từng như thế và còn làm lây lan “Ngậm ngùi” đến bạn bè và cả người trong mộng. Thật lạ, ngày ấy tuổi chưa đến đôi mươi mà đã hát ca với cách thể hiện dường như muốn chứng tỏ mình cũng đã từng nếm trải đắng cay.

Thế nhưng nội dung bài thơ lại không hiểu được cặn kẽ. Ngay câu đầu tiên “ Nắng chia nửa bãi; chiều rồi…… “ đã là cái gì đó rất đỗi mơ hồ. Tôi thầm mong có ai đó giải thích nhưng chưa biết hỏi ai, đến lúc vừa lớn thì đất nước lại đổi thay triệt để, thế là đành xếp lại mộng mơ để chuẩn bị cho một thực tế đầy khác lạ. Kể từ đấy “Ngậm ngùi” không còn đất sống hoặc chỉ sống lặng lẽ, lây lất trong tâm hồn những ai từng biết và yêu mến nó.

Ngày tháng trôi đi, do công việc nên tôi khá thường xuyên qua lại trên con đường xuyên Việt vào nhiều thời khắc khác nhau. Tôi mê mải ngắm những di tích hoang tàn, các phế tích tan tác đang oằn oại gánh nặng nỗi buồn đau quá khứ; nhưng núi non trùng điệp, biển xanh mênh mông, nương đồi bát ngát và những cánh đồng nhỏ hẹp xanh tươi dọc duyên hải giải đất miền Trung lại gây hưng phấn, thích thú cho kẻ ngao du. Có lẽ không quá lời khi nói rằng, thật may mắn cho những ai có dịp đi đó đi đây mới cảm nhận được cái đẹp nhiều khi đến sững sờ do thiên nhiên ban tặng; riêng miền Trung, ngoài cái đẹp, đâu đây vẫn còn những cảnh sắc buồn đến nghẹn ngào.

Một lần trên đường từ Bắc vào Nam, khi ngang qua vùng Thanh Nghệ Tĩnh vào buổi chiều, một hình ảnh không lẫn vào đâu được đang hiện ra trước mắt. Khi mặt trời theo cách diễn tả của thi nhân “ nắng đã xế về bên xứ bạn ” là lúc mặt trời đã ngả về Tây vượt qua bên kia dẫy Trường sơn. Lúc này phía Trường sơn Tây đang còn nắng thì mé Trường sơn Đông, tùy từng chỗ, nắng chỉ còn thoi thóp hoặc nắng đã không còn; ráng chiều sau những nỗ lực khoe sắc cuối cùng đã ảm đạm dần đi, mầu hoàng hôn bảng lảng, chiều đang phủ xuống, hơi lạnh từ rừng sâu, vách núi bắt đầu tỏa lan che mờ dần thôn xóm, nương đồi. Nhưng điều muốn nói là trên đường cái quan và những cánh đồng ven biển, thì ơ hay! nắng chiều còn vương vấn. Thế đấy, chiều đã chia đôi không gian, nửa còn nắng và nửa đã chiều rồi. Câu lục đầu tiên được giải mã đã giúp những câu sau dễ hiểu hơn.

Nhà thơ quê ở Hà tĩnh hẳn là từng ngắm không biết bao lần cảnh chiều quê trong không gian đôi ngả này, thi nhân bồi hồi chứng kiến cảnh vẻ buồn bã của mầu thời gian đang dần phai, bị nhuốm lạnh trong không gian se sắt buổi chiều tà thưa thớt người qua lại, thi thoảng có ai thấp thoáng trên nương đồi thì bóng cũng nhòa đi trong sương nhẹ; tiếng tù và mộc mạc vang vọng trong không gian, băng qua các lũng đồi nhắc đàn bò đến giờ rồi, về thôi! Chim chóc từng bầy xôn xao quay về nơi ẩn trú. Hoa lá cũng quay mình về cõi miên man.

Trinh nữ – loài hoa dân dã và cũng là một vị thuốc dân gian, mọc bạt ngàn dọc đôi bờ quốc lộ đã đến giờ khép từng cánh lá nghỉ ngơi để tạm kết thúc một chu kỳ sinh học; đó đây trên cành Trinh nữ, lác đác vài con nhện bắt đầu giăng tơ, rồi từng con nhện xuất hiện trong nỗi cô đơn như định mệnh an bài, mượn cành Trinh nữ như một cách nhờ vả cộng sinh đơn giản nhất, từng đường tơ trải ra, chúng mỏng manh nhẹ rung trong gió, từng nút thắt hình thành khởi đầu cho một cuộc sinh tồn mới. Cuộc mưu sinh nhẫn nại đến lạ lùng diễn ra trong thinh lặng, không còn ánh mặt trời, chỉ có ánh sao đêm trong gió mưa tơi tả, trong động đậy hỗn mang nguyên sơ của núi rừng và đôi khi dưới ánh trăng sơn cước tròn đầy theo chu kỳ từ thuở hồng hoang.

Em đang xếp lá, gió chiều nhẹ nhàng như vuốt ve, dỗ dành. Em khép mắt nhưng mở lòng đón nhận những ẩn dấu thiên nhiên đang từ từ hé lộ, những ẩn dấu vốn chỉ mở riêng ra cho những tâm hồn biết thao thức. Em biết từng đàn chim đang quay về tổ ấm, tiếng ríu rít gọi đàn làm rộn rã không gian trong thời khắc chuẩn bị chuyển giao. Em mỉm cười nhủ lòng ghi nhớ những âm thanh ấy như những lời thủ thỉ bè bạn hẹn gặp nhau khi ngày mai tươi sáng, sự quyến luyến lúc chia tay đã nâng tâm hồn em lên một cung bậc mới. Em biết rằng em có bạn bè và được họ yêu thương. Em nhìn lại và hài lòng với công việc đã làm trong một ngày vừa qua, một công việc được thiên nhiên giao phó, dù vô cùng nhỏ bé nhưng nhằm đến mục đích chung là hoàn thành những mắt xích cần thiết cho sự tồn vong của muôn loài trên trái đất này. Không ai chấm công, nhưng em vẫn làm tốt công việc của mình. Em sống và hồn nhiên đón nhận nguồn sống từ đất mẹ bao dung và em trao lại cho đời thành quả đạt được cũng hồn nhiên như lúc nhận.Ngoài kia, là tiếng gió hòa theo sóng rì rào từ bờ đại dương bên kia đường cái quan vọng lại, tiếng ru dào dạt nâng niu, em thiếp dần, thiếp dần vào giấc ngủ hồn nhiên bình thường, không mộng mị xa xôi.

Dọc các sườn đồi, khói lam chiều âm thầm vấn vương trên từng mái nhà sàn cô quạnh; tiếng giục giã nhau “chiều rồi” như tiếng lòng mơ về nơi ấm cúng. Chiều rồi!!! Tiếng kêu thảng thốt thổi bùng lên nỗi nhớ nhà thoáng đến, nó lay động da diết tâm hồn, khuấy động nỗi bùi ngùi trong tâm cảnh kẻ phiêu du. Nhà thơ hẳn là phải buồn hơn, buồn đến mức đã ngậm cả nỗi bùi ngùi trong tâm tưởng, ông muốn tế cáo với Trời cao nỗi buồn muôn thuở “Chiều rồi” trên quê hương bộn bề sỏi đá. Nỗi buồn ấy không dừng lại mà mỗi ngày mỗi cao, cao dần, khi nỗi buồn vượt qua mọi đỉnh điểm để tan chẩy trong tâm hồn, chúng kết tụ lại thành trái sầu như một hành trang gây vấn vương tâm hồn người xa xứ. Khi sầu đã chín, sầu không còn cưu mang nổi chính mình thì chính lúc đó thi nhân đến kỳ khai hoa nở nhụy “Ngậm ngùi”!

Tiếng chuông thu không vang lên trong quạnh quẽ nhắc nhở một ngày đã qua. Về thôi! về với gia đình để được quây quần bên bữa cơm chiều ấm áp tình thân. Đêm đêm, dưới mái nhà sàn, dẫu thẹn thùng, tình yêu vẫn âm thầm triển nở.

Nhà thơ không kiếm đề tài nơi xa xôi, chỉ với tài quan sát và sự nhậy cảm với những thay đổi vốn có nơi thiên nhiên cạnh kề; tắm gội trong nguồn cảm hứng vô tận ấy, một tâm hồn biết lắng nghe, để nỗi xúc cảm đang dâng tràn dệt nên những tác phẩm giá trị lâu dài..
Trong nắng sớm sương chiều, nhà thơ đọc được những chuyển dịch của thiên nhiên, người hòa nhập tâm hồn vào đấy; mặc cho thiên nhiên tâm trạng con người, nhân cách hóa hoa lá cỏ cây để chúng cùng đồng hành với chúng ta trên con đường đi tìm hạnh phúc dù không chắc dài lâu. “Ngậm ngùi” không phải là ảo ảnh mà chính là diện mạo thiên nhiên tại một nơi chốn cụ thể vào một thời khắc nhất định. Nó cũng là tâm trạng của chúng ta khi đối diện với thiên nhiên tuyệt đẹp đang bị đe dọa bởi sự hủy diệt môi trường hàng loạt đang diễn ra.

Rồi đây các đô thị càng lúc càng phát triển, các khu công nghiệp rồi cũng thế và tất cả sẽ tập trung dọc con đường cái quan. Cuộc sống khá giả lên, lòng người không còn đơn sơ nữa, những tính toán tất nhiên của đời sống thị dân sẽ làm diện mạo thiên nhiên thay đổi theo hướng thu hẹp lại, xấu dần đi. Đô thị mở rộng đấy, những dẫy nhà bê tông san sát nhau, vui vẻ sầm uất đấy nhưng lại chẳng còn mối liên hệ nào với thiên nhiên.

Sống hòa hợp với thiên nhiên để được giấc ngủ hồn nhiên như em với chim mộng đầu giường, có thể được không, có thể còn không ? Câu trả lời tùy thuộc vào loài người có còn biết ơn Đấng Tạo Hóa đã ban cho mình một trái đất đẹp đẽ, đa dạng, phì nhiêu; có còn nhớ rằng mình có bổn phận quản lý nó như một người quản lý trung tín không? và kế tiếp là văn hóa, cách sống, thái độ của xã hội và của từng cá nhân trước thảm trạng sinh thái đang diễn ra hằng ngày.

Thật đau xót nếu một mai “Ngậm ngùi” chỉ còn là bức tranh đẹp trong ký ức những người hoài cổ.

*****

Em lặng yên, đôi mắt ngó xa xăm, buông thả tâm hồn cùng trôi về chốn ấy, đôi tay chắp lại trong thái độ nguyện cầu; viền mi đầy nước mắt, em đã biết buồn.

Tôi đâm ra bối rối.

– Đừng trách anh, em nhé.

Tiếng em nhẹ như hơi thở.

– Không đâu anh, từ nay em sẽ cầu nguyện liên lỉ để không thứ gì trên trái đất này sẽ bị mất đi nữa và những thứ đã mất đi có được cơ hội hồi sinh khi niềm hối hận của loài người khiến họ biết xấu hổ mà thay đổi cách sống.

Tôi nài nỉ.

– Có lời cầu nguyện nào em dành riêng cho anh không?

Em thật dịu dàng.

– Có đấy, cầu cho anh luôn nhớ bổn phận của một Kitô hữu là không bao giờ được xao lãng niềm tin, luôn gắn bó mật thiết với cộng đồng và cố gắng tìm hiểu cặn kẽ mọi điều để giải thích khi em không hiểu.

Tôi giả vờ nổi cáu.

– Em ra lệnh cho anh hả?

Đôi mắt vẫn xa xôi, em nói.

– Không anh ạ! Đó là mệnh lệnh của những lương tâm trong sáng, em chỉ cầu nguyện để tâm hồn anh đừng xao động trước những giá trị hữu hạn của vật chất, hãy luôn tỉnh thức hướng niềm tin về Thiên Chúa toàn năng.

Một ánh lửa tin yêu thoáng qua trong mắt em, nhưng đấy vẫn đâu phải là “Đốm”. “Đốm” là gì hả em? tôi sẵn sàng trả hết giá để biết vì sao em là “Đốm”.

Trời đã chiều, chuông nhà thờ nhắc nhở đến giờ đi lễ, em đang bên tôi nhưng Bí mật của “Đốm” vẫn biền biệt đâu đó trong ánh mắt đằm thắm, láu lỉnh của em – Téresa Đốm.

Giải pháp con “Đốm mập” vẫn còn nguyên, tôi sẽ xuất chiêu ngay khi tan lễ chiều, nghĩ đến vẻ hí hửng của em, tôi nhủ thầm, biết đâu . . .mình gặp may!

Nguyễn hữu Nghiã

25.03.2008

Bình luận về bài viết này