Đôi điều về chế độ công hữu ở Việt Nam

Đôi điều về chế độ công hữu ở Việt Nam

     Dân chủ Tự do
     Như chúng ta đã biết, Lê nin đã chỉ ra rằng, dưới sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, một đất lạc hậu vẫn có thể quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội mà không phải trải qua con đường phát triển chủ nghĩa tư bản. Thế nhưng ngày nay, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ và tan rã, liệu Việt Nam có đủ sức để quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội như cương lĩnh chính trị của đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu. Rõ ràng, ở đây các nhà lãnh đạo Việt Nam đang làm trái với luận điểm của Lênin.
     Trước hết chúng ta hãy thử đánh giá, vì sao hệ thống xã hội chủ nghĩa lại sụp đổ. Điều này cũng đơn giản thôi. Bởi vì vào thời điểm đó, lực lượng sản xuất của những nước này đã có dấu hiệu bị trì trệ, không thể phát triển được nữa, quan hệ sản xuất thì tỏ ra không thích ứng, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Rõ ràng rằng, vì lý do yếu kém về mặt kinh tế mà hệ thống này đã sụp đổ chứ không phải là lý do bất ổn về mặt chính trị như các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn thường nghĩ. Chế độ xã hội chủ nghĩa của những nước đó đã tỏ ra thua kém toàn diện so với chế độ tư bản về mọi mặt. Cụ thể như về mặt đời sống, tinh thần và sự tự do dân chủ. Đây là một bài học vô cùng hữu ích cho các nhà lãnh đạo đang tiến hành xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hiện nay, các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn duy trì chế độ công hữu về tư liệu sản xuất có từ thời bao cấp để mà nói rằng, đấy chúng tôi đang phát triển và đang đi theo con đường xã hội chủ nghĩa đấy. Vậy thì công hữu về mặt tư liệu sản xuất phải đảm bảo với những yếu tố và điều kiện nào để thực hiện nó. Theo tôi trước hết là:
     Phải Đảm bảo quá trình tái sản xuất mở rộng của xã hội, phải có thu nhập quốc dân và phải phân phối nó một cách công bằng và hợp lý. Nguời làm nhiều thì hưởng nhiều, người có trình độ và có tay nghề cao thì phải có thu nhập nhiều hơn người bình thường. Không có bất công, không có bóc lột.
     Phải có trình độ tổ chức và quản lý trong quá trình sản xuất của xã hội là rất cao so với các nước tư bản vì đây là phương thức sản xuất tiên tiến của loài người.
     Phải có con người mới xã hội chủ nghĩa, tức là con người đó phải biết đặt lợi ích của nhà nước và của toàn dân lên hàng đầu, sau đó mới tính đến lợi ích cá nhân. Biết hy sinh cái riêng vì cái chung.
     Đảm bảo cho người dân tối thiểu phải có nhà cửa, cái ăn, cái mặc. Về mặt giáo dục thì mọi con em của người dân đều được đi học, không phân biệt đẳng cấp giàu nghèo, không phải đóng bất kỳ một khoản phí nào khác. Về mặt y tế thì phải đảm bảo mọi người dân đều được khám chữa bệnh một cách đầy đủ, theo hết khả năng và năng lực của ngành y tế, không phải tốn một đồng nào cho việc khám chữa bệnh.
      Như vậy, phải đảm bảo các yếu tố và điều kiện như đã nêu ở trên thì mới nghĩ đến chuyện công hữu về tư liệu sản xuất, còn nếu không nó sẽ cản trở sự phát triển của toàn bộ xã hội. Ở Việt Nam, có thể thấy một cách dễ dàng là vẫn chưa hội đủ bất cứ các yếu tố nào để duy trì chế độ công hữu. Việc duy trì các tổng công ty nhà nước và coi đó là sự chủ đạo và là xương sống của nền kinh tế quốc dân là hoàn toàn trái với thực tế. Bởi vì, cứ nói đến các tổng công ty này là nói đến chuyện cha chung không ai khóc, là làm ăn thua lỗ và kém hiệu quả, không những nó không đóng góp những gì gọi là to lớn cho xã hội mà trái lại nó còn bòn rút và lấy đi xương máu của người dân. Như Vinashin là một ví dụ điển hình.
     Cụ thể là, việc tổ chức và quản lý ở đây là hết sức lỏng lẻo và không có khoa học. Các nhà lãnh đạo của Vinashin thì luôn luôn đặt lợi ích cá nhân lên hàng đầu. Nợ nước ngoài thì hàng trăm triệu USD, nợ Vietcombank là một ngàn tỷ đồng và vô số các khoản nợ khác nữa. Họ mua rất nhiều máy móc trị giá hàng ngàn tỷ đồng nhưng có một số đem về thì nằm đắp chiếu và không sử dụng được, số còn lại thì vận hành kém hiệu quả. Mấy con tàu mà Vinashin mua về cũng vậy, trị giá hàng chục triệu USD nhưng cũng đều không sử dụng được. Tất nhiên, giá mua với giá thực tế là vô cùng lớn, một phần chạy vào túi các nhà lãnh đạo của Vinashin, nhưng phần lớn xương máu của người dân lại rơi vào túi các nhà buôn nước ngoài. Hầu như các tổng công ty nhà nước nào cũng đều có cung cách làm ăn giống như Vinashin cả, chỉ có điều là họ được sự đỡ đầu của cấp trên nên rất khó phanh phui.
       Cụ thể như, Vinashin còn được sự ưu ái rất lớn của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Hầu như tất cả các thương vụ mua bán của Vinashin đều được Dũng trực tiếp chỉ đạo, tạo ra những điều kiện hết sức thuận lợi để Vinashin được thực hiện một cách trót lọt với những hợp đồng có giá trị hàng trăm cho tới hàng nghìn tỷ đồng. Việc có một thời gian dài Vinashin tác oai, tác quái đều có sự bao che và nâng đỡ của Dũng.
      Trong nông nghiệp và ở nông thôn cũng vậy, chế độ sở hữu toàn dân là một cản trở lón để phát triển sản xuất. Vấn đề này tôi cũng không muốn nói thêm nữa vì qua vụ việc của Tiên Lãng, báo chí và dư luận cũng đề cập khá nhiều.
       Như vậy, có thể nói rằng việc công hữu về tư liệu sản xuất chẳng đem lại lợi lộc gì cho đất nước của chúng ta cả. Nó chính là nguyên nhân cơ bản và sâu xa, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân để phát sinh ra những tiêu cực của toàn bộ xã hội, đó chính là nạn tham ô và tham nhũng, nó là miếng mồi ngon để nuôi sống giới lãnh đạo Việt Nam mà họ chẳng bao giờ muốn từ bỏ nó cả. Lối sống vô đạo đức về tất cả mọi mặt trong xã hội cũng từ đó mà ra, con người cũng trở nên tàn bạo và nhẫn tâm hơn.
       Ngày nay, đời sống của người dân Việt Nam ngày càng được cải thiện về nhiều mặt cũng chính là nhờ sự phát triển như vũ bão của trình độ khoa học và kỹ thuật trên toàn thế giới. Các công nghệ tiên tiến, hiện đại và có hiệu quả kinh tế cao lần lượt được áp dụng tại Việt Nam đặc biệt trong lãnh vực sản xuất hàng tiêu dùng. Lãnh vực kinh tế tư nhân ngày càng phát triển và tạo ra những sản phẩm có giá trị sử dụng cao với giá thành hạ góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và văn hóa của toàn xã hội, nó cũng đóng góp một phần lớn thu nhập cho đất nước. Rõ ràng, đời sống của người dân được cải thiện là nhờ vào những yếu tố bên ngoài chứ đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước suy cho cùng cũng chẳng đem lại lợi ích gì cho đất nước này cả. Những điều gì họ cho là đổi mới thì ông bạn Trung Quốc cũng đã làm rồi hay đã có cách đây hàng trăm năm ở các nước tư bản phát triển. Ấy vậy mà họ vẫn luôn tự vỗ ngực đó chính là nhờ sự lãnh đạo của Đảng ta mà đời sống của người dân mới được như vậy, thật là trâng tráo, vô học và bỉ ổi.
     Còn xét về bản chất của chế độ này, có phải là chế độ người bóc lột người hay không thì xin thưa là có. Bởi vì, ngày nay ở Việt Nam đã hình thành thị trường lao động, các công ty căn cứ vào đó để ký hợp đồng lao động, một hình thức mua bán và trả giá. Như vậy, sức lao động đã trở thành hàng hóa và rõ ràng là có bóc lột, đây là bản chất của chế độ tư bản. Vậy nên gọi hình thái chính trị và kinh tế của Việt Nam là gì? Thật là khó trả lời cho vấn đề này mà có lẽ người thì cũng chẳng ra người.
      Thôi thì cho dù ở bất kỳ một cái tên gọi nào khác, nếu đời sống, tinh thần và sự tự do dân chủ không được đảm bảo, nếu Việt Nam không thay đổi về mặt chính trị cũng như về mặt kinh tế thì sớm muộn gì Việt Nam cũng giống như các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu mà thôi.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: