HẬU QUẢ CHỐNG THAM NHŨNG – Nguyễn Quang

 

HẬU QUẢ CHỐNG THAM NHŨNG

 

Trong khi đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản những người Cộng sản tự chôn chính mình!

 

Nguyễn Quang

 

Tại Việt Nam với cách tham nhũng ‘thượng vàng hạ cám’ đã nhanh chóng phá đổ những huyền thoại về đảng Cộng sản tự tô vẽ cho mình bấy lâu:

–        Đảng yêu nước ư? – Người ta chỉ thấy tham nhũng!

–        Đảng yêu dân và lo cho dân ư? – Người ta chỉ thấy tham nhũng!

–        Đảng anh hùng và sáng suốt ư? – Người ta chỉ thấy tham nhũng!

–        Đảng là người duy nhất có khả năng lãnh đạo đất nước thoát khỏi nghèo đói ư? – Người ta chỉ thấy tham nhũng!

Huyền thoại ấy không còn nữa và được đánh dấu theo thời gian: Thời đại đồ đểu!

 

Đất nước rồi sẽ chỉ còn trơ lại khung xương!

Tham nhũng tác động ra sao ?

Ngành nào tham nhũng?

Dễ trả lời nhưng không kể hết được vì mỗi ngày ra đường là nhìn thấy tham nhũng!

Tham nhũng đã biến cả cơ thể đất nước gầy nhom, ốm yếu. Mức dư nợ vượt quá 50%!

Tham nhũng vỗ béo quan chức ngày càng to bụng, mập mặt chảy mỡ. Cả nhà quan vinh thân phì gia.

Tham nhũng gậm mòn sức vóc người dân làm họ ngày càng gầy mòn, khẳng khiu, mang nhiều bệnh tật.

Tham nhũng đẩy hàng triệu trẻ em cơ nhỡ ra đường ăn xin. Phụ nữ phải bán thân nuôi miệng.

“Thực đơn” tham nhũng ở VN vô cùng phong phú. Người ta ăn từ bê tông cốt thép đến uống cả xăng, dầu.

Tham nhũng dự án, công trình, quỹ đầu tư, hàng viện trợ là bầu sữa ngọt mà quan chức rất thích…ngậm bình.

Tham nhũng ăn từ tiền cứu trợ, tiền bảo hiểm, ăn luôn cả gạo thóc, áo quần, giẻ rách cho người nghèo vùng lũ.

Tham nhũng lên rừng thì ăn xẻ thịt rừng núi, thú hoang, quặng bauxite.

Tham nhũng xuống biển thì ăn cả tàu bè. cảng biển.

Tham nhũng từ cửa khẩu biên giới cho đến trạm thú phí đi đường, từ nhà ra phố thị.

Tham nhũng tàn phá hết cơ đồ đất nước, biến đất nước rơi vào thời kỳ đồ…đểu.

Tham nhũng sinh dối trá, lọc lừa đã trở thành thứ văn hóa ứng xử mặc nhiên ngoài xã hội.

– Đất nước rồi sẽ chỉ còn trơ lại khung xương!

 

 

 

*******

 

 

Nội Dung

 

I. Tham nhũng chính trị tại Việt Nam

 

II. Viễn cảnh chính trị ở Việt Nam

 

II.1.Nông dân và người lao động ở nông thôn

II.2 Người lao động thành thị

II.3 Tư sản

II.4 Giới công chức và trung lưu

II.5 Nhà nước yếu hay mạnh?

II.6 Các lực lượng xuyên quốc gia

II.7 Sau chế độ một đảng sẽ là gì?

III. Tham nhũng và khoảng cách cuộc sống ở VN

 

IV. Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong những quốc gia tham nhũng nhất thế giới

 

IV.1 Thiệt hại nhiều tỷ đồng từ Sea Games
IV.2 Sai phạm lớn ở công trình Mỹ Đình

 

V. Chuyển đổi văn hóa tham nhũng

VI. Tham nhũng trên phạm vi toàn cầu và Việt Nam

          VI.1 Tác động của tham nhũng ở Việt Nam

          VI.2 Làm kinh tế dân chủ bằng cả lực lượng súng đạn

VI.3 Chống tham nhũng là một quá trình lâu dài

VI.4 Đất nước còn trơ lại khung xương

VI.5 Thời điểm đã đủ để thay đổi

VII. Hậu quả chống tham nhũng: Sự trả thù!

VII.1 Các nhà đầu tư quan ngại

VII.2 Nguy cơ với những người chống tham nhũng

VII.2a Nạn nhân Ông Trần Văn Giáp

VII.2.b Nạn nhân Bà Lê Hiền Đức


VIII.
Các chế độ độc tài thường tự đào huyệt chôn chúng trước khi chúng bị tiêu diệt

VIII.1 Tham nhũng là một trong những hiện tượng phổ biến của nhân loại

VIII.2 Mức độ khác biệt về tham nhũng giữa các chế độ

VIII.3 Tham nhũng trầm trọng tại các quốc gia độc tài

VIII.4 Tham nhũng giữa các nước độc tài cũng khác nhau

VIII.5 Tham nhũng: Giới lãnh đạo CSVN sống trong trạng thái tâm lý phập phồng của những người yểu mệnh

VIII.6 Đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam đang tự đào huyệt cho mình

VIII.7 Họ chỉ còn có súng!

 

IX. Chuyển đổi văn hóa tham nhũng: cái giá của nạn tham nhũng

IX.1 Phân bổ nguồn lực không hợp lý

IX.2 Tiếp tay cho các chính sách và các điều luật sai lầm và vô trách nhiệm

IX.3 Mức độ đầu tư thấp hơn

IX.4 Giảm cạnh tranh và tính hiệu quả

IX.5 Giảm nguồn thu của nhà nước đối với các hàng hóa và dịch vụ thiết yếu

IX.6 Tăng chi tiêu công cộng

IX.7 Giảm năng suất và không thúc đẩy được sự sáng tạo

IX.8 Tăng chi phí kinh doanh

IX.9 Giảm mức độ tăng trưởng

IX.10 Giảm cơ hội việc làm trong khu vực tư nhân

IX.11 Giảm số lượng công việc có chất lượng trong khu vực nhà nước

IX.12 Tăng nghèo đói và bất bình đẳng

IX.13 Xói mòn tính nghiêm minh của pháp luật

IX.14 Gây trở ngại cho các cải cách dân chủ theo định hướng thị trường

IX.15 Tăng bất ổn định chính trị

IX.16 Tăng tỷ lệ tội phạm
X. Sôi sục chống tham nhũng giả hiệu

X.1 Nhiều người biết, nhưng ít người tố cáo

X.2 Doanh nghiệp: chi phí “đen” tới 10%

XI. Tham nhũng thể hiện qua bộ mặt thành thị và nông thôn

XI.1 Mức thu nhập và thực tế trên thị trường tiêu thụ

XI.2 Khoảng cách nông thôn – thành thị là một sự cách biệt sâu xa

XII. Xóm nghèo nơi đô thị

XII.1 Hàng triệu người thành phố vẫn còn trong điều kiện sinh hoạt khó khăn

XII.2 Giá nhà đất ‘trên trời

XII.3 Tham nhũng gây hậu quả môi trường ô nhiễm

XIII. Tham nhũng: Giới trung lưu và chính trị ở Việt Nam

XIII.1 Dân chủ là tiền đề

XIII.2 Dân chủ là chuyển đổi

XIV. Hội thảo về tình hình VN

XIV.1 Không ai nhận mình là cha của kẻ cướp
XIV.2 Tham nhũng lâu nay chưa có CSGT nào vi phạm?

 

XV. Tham nhũng: nỗi xót xa của mỗi người dân và sự ô nhục của Dân tộc!

 

XV.1 Trả giá “chung chi”
XV.2 Mãi lộ: Ghê hơn cướp cạn!
XV.3  “Hạch” cho ra lỗi để… “làm luật”

XV.4 Mãi lộ ở Hà Nội

 

XVI. Kết Luận

Tham nhũng: Bất an trong dân, hỗn loạn toàn xã hội

         

 

*********

 

 

I. Tham nhũng chính trị tại Việt Nam

 

Qua sự kiện gây ồn ào một thời gian việc cha con thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại bị bắt vì cáo buộc nhận tội hối lộ. Các vụ khác được công khai như các tổng công ty Dầu khí, Hàng hải, Thủy sản, Điện lực…và đặc biệt Vinashin với người đứng đầu là Thủ tướng chính phủ!

Ông Phan Diễn, ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban bí thư Trung ương Đảng, được trích lời nói: “Nếu chúng ta thực hiện được dân chủ thật sự ở các cơ quan, nâng cao tinh thần dám phê bình, nhận xét, đấu tranh vì lợi ích chung thì những vụ việc tiêu cực, tham nhũng sẽ khó thực hiện hơn.”

Mối quan hệ giữa tham nhũng và dân chủ đã được nhiều nhà nghiên cứu xác nhận, vì tham nhũng phá hủy các nguyên tắc giúp cho một xã hội dân sự phát triển!

Trong các báo cáo hàng năm của tổ chức Transparency International đều đặt trọng tâm vào vấn đề tham nhũng chính trị. Trong bản báo cáo 2004, Peter Eigen, Chủ tịch Transparency International, tuyên bố báo cáo là lời kêu gọi “Đưa sự liêm chính và trách nhiệm vào việc trị quốc, chấm dứt tệ hối lộ của các công ty đa quốc gia, và ngăn dòng lưu chuyển tài sản đánh cắp vào các trương mục ngân hàng bí mật tại phương Tây.”

Ông Chủ tịch viết tiếp: “Việc lạm dụng quyền lực chính trị để thu lợi riêng khiến những người nghèo nhất mất đi các dịch vụ xã hội cần thiết, tạo nên mức độ tuyệt vọng khơi mào cho xung đột và bạo lực.”

Vậy tham nhũng chính trị chính là sự lạm dụng quyền lực mà các chính trị gia được giao phó để thu lợi riêng, với mục đích tăng quyền lực hoặc tài sản.

Rõ hơn, Robin Hodess, một trong các tác giả báo cáo, đã nhấn mạnh: “Tham nhũng chính trị  không nhất thiết dính đến việc tiền trao tận tay; nó còn có thể mang hình thức của việc ‘trao đổi ảnh hưởng’ hoặc ban phát đãi ngộ để khiến nền chính trị bị đầu độc và dân chủ bị đe dọa.”

Như vậy tham nhũng chính trị – political corruption – khác với tham nhũng ‘cò con’ của các viên chức ở chỗ chỉ xảy ra bởi các lãnh tụ chính trị, những người có thẩm quyền chi phối hoặc chủ động các quyền lợi của người dân.

 

Theo báo cáo 2004 của Tổ chức Transparency International, tham nhũng chính trị sẽ tác hại đến toàn xã hội như sau:

“Tại các nước đang phát triển, tham nhũng chính trị đe dọa sự sống còn của nền dân chủ, vì nó khiến cho các định chế dân chủ trở nên yếu ớt.

“Việc vén màn các vụ tham nhũng có thể gây sốc cho toàn xã hội. Nhưng một thực tế là trên thế giới, rất khó trừng phạt các lãnh tụ bị nghi ngờ tham nhũng.

“Nhiều lãnh đạo đã rời nhiệm sở hoặc qua đời trước khi tội của họ bị phanh phui.

Transparency International đưa ra một bảng những bị cáo tai tiếng, với ước tính tài sản họ đã lấy đi. Nó nhắc nhở người ta về tác động của sự lạm dụng quyền lực đối với một đất nước.

Ví dụ, cựu tổng thống Indonesia, Suharto, bị nghi đã biển thủ từ 15 đến 35 tỉ đôla. Slobodan Milosevic, cựu tổng thống Nam Tư, bị nghi đã lấy đi từ 2 đến 5 tỉ đôla.

Người đứng số mười trong danh sách, cựu tổng thống Philippines Joseph Estrada, bị nghi cuỗm khoảng từ 78 – 80 triệu đôla sau ba năm cầm quyền.

Tham nhũng của các chính trị gia là vấn đề gây bức xúc nhất trong dân chúng.

Phong vũ biểu đo lường thái độ người dân đối với tham nhũng – một phương pháp đo của Transparency International – thấy rằng nếu người dân có cây gậy thần cho phép loại bỏ tham nhũng trong một định chế duy nhất trong xã hội, thì đa số sẽ chọn việc diệt trừ tham nhũng trong các đảng phái chính trị.

Giới doanh nhân cũng cảm nhận các tác động của tham nhũng chính trị.

Một khảo sát của Diễn đàn kinh tế thế giới cho thấy giới doanh nhân tin rằng việc tài trợ tiền có ảnh hưởng lớn đến chính trị, và hối lộ là phương thức đạt các mục tiêu chính sách tại 20% các nước được khảo sát.”[1]

 

II. Viễn cảnh chính trị ở Việt Nam

 

Có khuynh hướng cho rằng phát triển kinh tế dẫn đến mở rộng không gian chính trị, cho nên  chính trị Việt Nam sẽ thay đổi theo chiều hướng nào đã là chủ đề tranh luận của nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài cùng các nhà dân chủ trong nước.

 

Một xu hướng khá phổ biến phát triển kinh tế sẽ giúp tiến trình dân chủ hóa nhanh chóng hơn, nhiều người trở nên khá giả và chính họ sẽ có những nhu cầu đòi hỏi nhà nước chuyên chế phải rộng mở hơn. Thế nhưng mọi thứ ngược lại, tầng lớp mới càng lệ thuộc vào nhà nước và cùng nắm tay đồng hành của tầng lớp mới Tư bản đỏ!

 

Nghĩa là trong kỳ vọng về một xã hội dân sự lành mạnh từ khát vọng của giới trung lưu mới  với các giá trị khác với nhà nước. Qua tác phẩm kinh điển của Barrington Moore, Social Origins of Dictatorship and Democracy (1966). Moore và nhiều người sau này như Rueschemeyer, Evelyne Stephens cho rằng thay đổi chính trị không chỉ phụ thuộc vào sự thay đổi bản chất của từng nhóm xã hội…mà còn phụ thuộc vào mối quan hệ giữa các nhóm này và nhà nước.

 

Theo Martin Gainsborough viết trên tạp chí Asian Survey năm 2002 thuộc trường nghiên cứu châu Phi và phương Đông (SOAS) của Anh, cho rằng: “viễn cảnh thay đổi chính trị ở Việt Nam cần được nhìn qua các thay đổi bên trong bộ máy nhà nước, hơn là nhấn mạnh sự xuất hiện của các lực đẩy bên ngoài nhà nước.”

 

Bài tiểu luận này có tựa đề “Political Change in Vietnam: in search of the middle class challenge to the state.” Tóm tắt như sau:

 

– Tầng lớp trung lưu mặc dù trong lịch sử là lực đẩy dân chủ hóa, nhưng cũng lại thường liên minh với chế độ chuyên chế.

 

Do đó, thực tế vì quyền lợi gắn liền với thế lực cầm quyền khiến họ có xu hướng chống lại tiến trình dân chủ hóa cho đến khi một chế độ mới dân chủ thật sự ra đời, thành phần nầy vẫn còn nhiều tư hữu để trở nên giàu có trong một chế độ hoàn toàn tự do. Đây là tầng lớp được hưởng lợi khấm khá và thật sự chỉ có người nghèo vì nhiếu lý do phải nghèo là thành phần bị thiệt thòi nhất!

Trong trường hợp Việt Nam, nhìn bề ngoài có vẻ như rõ ràng giai cấp này không tồn tại. Những đại địa chủ đã bị loại bỏ tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) trong thập niên 1950, và việc này lại tiếp tục ở các khu miền Nam giải phóng trong thập niên 1960 và sau chiến thắng của đảng Cộng sản năm 1975. Chiếu theo lý thuyết, việc thiếu vắng giai cấp này có vẻ sẽ hỗ trợ một quá trình chuyển tiếp dân chủ.”[1]

“Tuy nhiên, phải chăng Việt Nam không có các địa chủ? Bất chấp quy định hạn mức đất nông nghiệp ở nông thôn, nhưng những năm đổi mới đã đi kèm với tình trạng không có ruộng đất ngày càng tăng. Điều này dẫn đến hệ quả tất yếu là sự tái trỗi dậy của các nhà địa chủ.

Người ta cũng có thể nói rằng mặc dù những người chủ đất của chính thể cũ đã bị loại bỏ, nhưng thay vào chỗ của họ là sự xuất hiện của một tầng lớp chủ đất mới, đó là các cán bộ và viên chức chính quyền. Thông thường chính họ, hoặc thành viên gia đình họ, là người nắm ưu thế trong nền kinh tế nông thôn. Nếu phân tích này là chính xác, thì viễn cảnh cho sự mở rộng không gian chính trị không sáng sủa lắm.”[1]

II.1 Nông dân và người lao động ở nông thôn

“Giai cấp thứ hai là nông dân và người lao động nông thôn. Theo lý thuyết, người nông dân trong lịch sử quan tâm đến dân chủ hóa, nhưng không phải là sức mạnh tạo ra nó, chủ yếu vì họ thiếu tổ chức.

Việc 20 năm sau đổi mới, Việt Nam tiếp tục là xã hội nông nghiệp dường như bao hàm ý là chỉ có một lực đẩy tương đối yếu cho dân chủ hóa.

Kể từ thập niên 1990, bất ổn ở nông thôn có vẻ trở nên thường xuyên hơn. Còn thiếu các nghiên cứu về nguyên nhân của điều này, nhưng dường như chúng thường liên quan đến các tranh chấp đất đai với giới nắm quyền ở địa phương, và đi kèm các cáo giác tham nhũng. Mặc dù không có bằng chứng về sự tài trợ trực tiếp từ nước ngoài cho bất ổn nông thôn, nhưng các nhóm phản kháng đặt ở nước ngoài và các tổ chức nhân quyền nhanh chóng ủng hộ những cộng đồng nông thôn chịu khó khăn, còn các chính phủ nước ngoài, bao gồm Mỹ, đã chỉ trích cách đối phó của chính phủ Việt Nam trước các vụ việc này.

Nhưng ngoài các trường hợp kiện tụng cá nhân, sẽ là sai lầm nếu người ta nói về một sự đối lập tại nông thôn hiểu theo nghĩa là một tổ chức có nền tảng thể chế chung và một lý luận chặt chẽ chỉ trích sự cầm quyền của đảng. Một số học giả nhắc đến sự phát triển của các nhóm độc lập đại diện cho nông dân, nhưng có ít bằng chứng cho điều này.

II.2 Người lao động thành thị

Giai tầng thứ ba là người lao động ở thành thị. Đây được xem là lực lượng quan trọng cho dân chủ hóa. Ở Việt Nam, số người này vẫn còn ít. Tuy nhiên, thời kì đổi mới đã đi kèm với việc đô thị hóa nhanh chóng.

Về khía cạnh lao động có tổ chức, giai cấp lao động thành thị chưa tỏ ra có sức mạnh. Quan hệ lao động đã trở nên phức tạp hơn kể từ đổi mới, và các cuộc đình công cũng phổ biến hơn. Tuy nhiên, không có các công đoàn độc lập, và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tỏ ra vẫn chia sẻ nghị trình của nhà nước là khuyến khích kinh tế và bảo đảm ổn định chính trị, hơn là thật sự đại diện cho người lao động.

II.3 Tư sản

Giai cấp thứ tư là tư sản, ở đây được hiểu là tầng lớp kinh doanh hoặc sở hữu vốn. Quan niệm thông thường xem những doanh nhân là một phần của tầng lớp trung lưu, và vì thế là lực đẩy cho dân chủ hóa.

Tuy nhiên, theo quan điểm của Moore, Rueschemeyer và nhiều người khác, tư sản được xem là có quan điểm không rõ ràng đối với dân chủ hóa. Ví dụ, tác giả Richard Robison nhắc tới một “hiệp ước cùng thống trị” giữa tầng lớp doanh nhân và chế độ chuyên chế Suharto ở Indonesia – một quan hệ dựa trên các quyền lợi chung.

Dù giới doanh nhân là hiện tượng mới nếu xét về các quan tâm kinh doanh của họ, nhưng họ lại là cũ khi xét về quan hệ chính trị.

Tại Việt Nam, những năm qua đã có sự xuất hiện của một giới tinh hoa mới trong kinh doanh.

Tuy nhiên, mặc dù giới tinh hoa này là hiện tượng mới nếu xét về các quan tâm kinh doanh của họ, nhưng họ lại là cũ khi xét về quan hệ chính trị. Nghĩa là, nhiều người trong số các doanh nhân mới này xuất thân từ bên trong hệ thống hiện nay, đang là hoặc từng là viên chức, hoặc là con cái của giới lãnh đạo.

Để làm ăn thành công, các công ty vẫn phụ thuộc nhà nước để có giấy phép, hợp đồng, tiếp cận vốn và đất, và cả sự bảo vệ. Như thế, Việt Nam vẫn thiếu “một giai cấp tư sản độc lập hoặc lớn mạnh” mà Moore xem là yếu tố cần thiết cho dân chủ hóa.

Lý thuyết về dân chủ hóa cũng nhấn mạnh sự quan trọng của quan hệ giữa tư sản với người lao động thành thị. Nếu giới trung lưu cảm thấy bị đe dọa bởi người lao động đô thị, họ có khả năng trở nên bảo thủ hơn. Nếu không, họ có thể liều lĩnh hơn.

Không có mấy bằng chứng là có sức ép mạnh mẽ đòi thay đổi chính trị từ cộng đồng kinh doanh. Đã có những kêu gọi như cần có sân chơi bình đẳng cho mọi công ty, mở rộng thông tin, bớt sách nhiễu – người ta có thể nhìn thấy ở đây giai đoạn đầu của một sự phân rẽ giữa tư sản và nhà nước. Tuy nhiên, những kêu gọi như thế không lớn khi so sánh với việc cũng chính những công ty này rất nhiệt tình (vì bắt buộc) khi tìm kiếm ưu đãi từ nhà nước.

II.4 Giới công chức và trung lưu

Nhóm xã hội thứ năm là giới công chức và trung lưu. Tại Việt Nam, nhóm này bao gồm những cán bộ, công chức nắm giữ các vị trí trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, mặc dù có thể có một số sự chồng chéo với tầng lớp kinh doanh hoặc sở hữu vốn. Một nhóm khá mới trong phạm trù này là các nhân viên Việt Nam làm việc cho công ty nước ngoài.

Một vài năm trước, một số học giả nhấn mạnh đến khoảng cách ngày một tăng giữa các nhóm như vậy với nhà nước, cho rằng con người ngày càng tổ chức đời sống tách biệt khỏi ảnh hưởng của nhà nước. Mặc dù việc một người làm cho công ty nước ngoài có thể quan trọng, nhưng Martin Gainsborough lại nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ liên tục giữa nhóm này và nhà nước, xét về nguồn gốc tương đối đặc quyền của họ, cũng như trọng tâm trung thành của họ, hay sự sẵn sàng gia nhập đảng…Như vậy, giống như giới tư sản, các nhân viên người Việt làm cho nước ngoài vẫn “thuộc về hệ thống”.

Nếu nói về khả năng thay đổi trong khu vực này, có thể nghĩ rằng khi giới trung lưu ngày càng có cơ hội ra nước ngoài, họ sẽ đối mặt với các cách sống và làm việc khác, khiến họ bớt kiên nhẫn với cách hành xử ở Việt Nam. Hiện tượng này có thể là những quan sát về giá cả hàng hóa đắt ở Việt Nam so với các nước khác trong vùng, hay so sánh về tệ quan liêu và tham nhũng.

II.5 Nhà nước yếu hay mạnh?

Bên cạnh việc phân tích thái độ của các tầng lớp xã hội và quan hệ giữa các nhóm này, người ta cũng cần phân tích bản chất của quyền lực nhà nước để soi sáng câu hỏi liệu một nước có dân chủ hóa hay không.

Nhiều năm qua, bản chất của quyền lực nhà nước ở Việt Nam đã thu hút những cách phân tích khác nhau.

Quân đội và công an vẫn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống chính trị Việt Nam

Ví dụ, Joel Migdal (1988) mô tả Việt Nam là “nhà nước mạnh”, đặt nó chung với Israel và Nhật cùng các nước xã hội chủ nghĩa khác. Migdal cho các nhà nước này là mạnh vì theo ông, chúng có khả năng điều động các định chế nhà nước thực hiện các công việc chính sách bất chấp sự tồn tại của các trung tâm quyền lực khác. Một số người khác lại cho rằng khả năng của nhà nước Việt Nam không mạnh như người ta nghĩ.

Martin Gainsborough lại cho rằng tựu trung nhà nước ở Việt Nam mạnh, nhưng nó phụ thuộc vào từng hoàn cảnh, vì thế mà tạo nên các phân tích khác nhau. Nếu quan sát công việc hàng ngày của các định chế và bộ máy nhà nước, người ta thấy thói thường quyền lực ở các định chế nhà nước bị phân lập, và các cơ quan cao hơn trong bộ máy chỉ có khả năng hạn chế khi muốn điều động các cơ quan bên dưới (‘trên bảo dưới không nghe’). Vì thế quyền lực bị phân tán. Nhà nước ở thế yếu. Tuy nhiên, nếu quan sát vai trò của công an trong cuộc sống hàng ngày của người dân, nhà nước lại có vẻ mạnh.

Ngoài ra, trong các cuộc thanh tra định kỳ (periodic) nhắm vào các hoạt động kinh doanh khả nghi, và trong việc truy tố các vụ tham nhũng lớn, nhà nước chứng tỏ khi bộ máy cảm thấy phải chuyển động, nó có thể rất mạnh mẽ.

Như vậy, 20 năm sau đổi mới, việc nhà nước vẫn có một quyền chủ động tương đối có vẻ không thuận lợi cho tiến trình chuyển tiếp dân chủ. Lý thuyết về dân chủ hóa nhấn mạnh rằng sự có mặt thường xuyên của quân đội và công an trong nhà nước đặc biệt bất lợi cho một sự chuyển tiếp. Tại Việt Nam, hai định chế này đã luôn có mặt trong các vị trí lãnh đạo chủ chốt.

II.6 Các lực lượng xuyên quốc gia

Lý thuyết về dân chủ hóa cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các lực lượng xuyên quốc gia trong vấn đề thành công hay thất bại của một tiến trình chuyển tiếp.

Sự chấm dứt chiến tranh lạnh cũng chấm dứt cái nhìn xem Đông Nam Á là các quân bài domino trong cuộc tranh đấu ý thức hệ. Vì thế, các nước này đã chịu sức ép từ Mỹ và EU quanh các vấn đề nhân quyền và cai trị. Việt Nam cũng chịu sức ép này. Nhưng mặt khác, dường như Việt Nam không đến mức dễ bị đe dọa trước các luồng xâm nhập tư tưởng từ ngoài – khác với Lào, chẳng hạn.

Vị trí của Việt Nam ở Đông Nam Á và việc là thành viên của ASEAN cũng đem lại một tấm đệm nhất định ngăn sức ép thay đổi từ Mỹ và EU. Dù có sự khác biệt giữa hệ thống các nước trong ASEAN, nhưng các thành viên đều bộc lộ một mức độ chuyên chế nhất định và duy trì nguyên tắc không can thiệp chuyện nội bộ của nhau.

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc cũng có thể nói góp phần củng cố chế độ tại Việt Nam. Dù hai nước này có khác biệt thế nào, họ đều có chung sự không tin tưởng trước quyền lực toàn cầu của Mỹ và cả hai đều theo quan điểm cải tổ kinh tế mà không mất quyền kiểm soát chính trị.

Ngoài ra, một thiên hướng phổ biến là nhấn mạnh rằng trong thời đại toàn cầu hóa, việc hòa nhập vào nền kinh tế thế giới thường bất lợi cho chế độ chuyên chế. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tài trợ nước ngoài và vốn tư bản đổ vào lại giúp củng cố quyền lực nhà nước, vì chính các định chế và công ty nhà nước thường là người hưởng lợi chính.

II.7 Sau chế độ một đảng sẽ là gì?

Từ đầu, bài viết nhấn mạnh sự quan trọng của việc thoát ra khỏi cách nghĩ rằng Việt Nam nhất định sẽ đi trên con đường lịch sử hướng tới chế độ dân chủ kiểu phương Tây. Như vậy, câu hỏi trong bài đặt ra là còn hướng đi nào khác cho việc mở rộng không gian chính trị tại Việt Nam?

Một phần câu trả lời có thể nằm trong việc xem lại các quan niệm như nhà nước và xã hội. Thay vì đi tìm sự xuất hiện của một xã hội dân sự (civil society) lớn mạnh đối lập với quyền lực nhà nước, bài viết muốn người ta tìm hiểu những gì xảy ra bên trong nhà nước.

Một số học giả khác đã theo quan điểm tương tự. Trong quyển Toward Illiberal Democracy in Pacific Asia (1995), Daniel Bell và Kanishka Jayasuriya viết:

“Động lực cho cải tổ chính trị xuất hiện không phải từ việc khẳng định các quyền lợi độc lập của các giai cấp xã hội, mà từ xung đột bên trong nhà nước; cải tổ chính trị liên quan việc đối phó với xung đột bên trong nhà nước, hơn là liên quan sự tái cơ cấu căn bản quan hệ giữa nhà nước và xã hội.”

Martin Gainsborough cho rằng điều này thể hiện các nhà nước tại châu Á xây dựng trên một di sản triết học và văn hóa khác phương Tây. Khi Lý Quang Diệu nói về nhu cầu hạn chế “cách người dân dùng lá phiếu để mặc cả, ép buộc, xô đẩy” chính phủ, ngôn từ đó không đơn giản là nói lấy được, mà thể hiện một cách hiểu hoàn toàn khác về quan hệ giữa nhà nước và xã hội.

Đã nhiều người nhấn mạnh đến các yếu tố như xã hội dân sự, tầng lớp trung lưu, tôn giáo đối lập, trí thức phản kháng, bất mãn của thanh niên, bất ổn ở nông thôn.

“Sự mở rộng không gian chính trị có nhiều phần khả năng xuất phát từ thay đổi bên trong các định chế nhà nước, hơn là nhờ sự xuất hiện của một xã hội dân sự năng động.”

Martin Gainsborough

 

Theo Martin Gainsborough, tất cả những điều này đều là hiện tượng có thật, nhưng ở Việt Nam, đấu trường chính là ở bên trong nhà nước. Vì thế, nếu quan sát một số các cuộc tranh luận chính trị liên quan mối quan hệ giữa đảng và chính quyền, vai trò Quốc hội, vấn đề tập quyền và tản quyền, hay cách thức điều hành doanh nghiệp nhà nước, thì mức độ thay đổi hay việc mở rộng không gian chính trị phải được xem trong quan hệ với các định chế nhà nước. Ví dụ, đảng có thể vẫn giữ quyền tối cao, nhưng phải chấp nhận cho phép các định chế chính quyền mạnh mẽ hơn, một Quốc hội mạnh mẽ hơn.

Cũng như vậy, các quan tâm của giới kinh doanh, thay vì tìm cách biểu đạt qua một tổ chức tách khỏi nhà nước, thì lại chuyển vào kênh của các tổ chức như Phòng Thương mại Công nghiệp hay Hiệp hội ngân hàng. Ngay cả nếu người ta dự đoán một ngày nào đó các tổ chức này sẽ tách khỏi nhà nước, thì có thể cho rằng họ vẫn duy trì một cách hiểu khác phương Tây về mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội.

Thay đổi chính trị ở Việt Nam tất yếu sẽ diễn ra, nhưng một bài học từ châu Á là sự mở rộng không gian chính trị có nhiều phần khả năng xuất phát từ thay đổi bên trong các định chế nhà nước, hơn là nhờ sự xuất hiện của một xã hội dân sự năng động như tưởng tượng tại phương Tây.

Bài viết kết luận: Liệu điều này có tạo ra sự thoát khỏi hoàn toàn hệ thống độc đoán hay không còn là điều bàn cãi. Có thể đoán rằng khả năng lớn hơn cả là sẽ có sự nới lỏng dần dần những mặt cứng nhắc của hệ thống quản lý nhà nước.” [1]

***

 

 

III. Tham nhũng và khoảng cách cuộc sống ở VN

 

Vấn đề tham nhũng đều được mọi người dân quan tâm cho dù chỉ biết ngửa mặt lên trời mà kêu than một lời ai oán cho hả dạ! Tham nhũng đã tạo ra khoảng cách cuộc sống giàu nghèo ở Việt Nam thật rõ ràng, giữa người có thế lực và nguời cô thế!

Bài báo của phóng viên Matt Steinglass có tiêu đề Corruption probes are stain for Vietnam’s leadership đăng trên Boston Globe ngày 31-10.

Mở đầu bài báo là đoạn nhắc lại scandal gây xôn xao dư luận Việt Nam tháng rồi:

“Mai Thanh Hải, con trai thứ trưởng thương mại Việt Nam, là khách quen thuộc tại các hộp đêm đắt tiền ở thủ đô Hà Nội. Nhân vật 32 tuổi, làm việc ở Bộ Thương mại, sống trong một ngôi nhà mà có tin nói trị giá 1.5 triệu đôla; ông và vợ của mình, một cựu hoa hậu, đi lại trong thành phố bằng chiếc ô tô màu đen hiệu Lexus.”

Cuộc sống hào nhoáng của ông Hải chấm dứt vào ngày 30-9, khi ông bị bắt trong một cuộc điều tra về cáo giác tham nhũng trong việc phân quota dệt may xuất khẩu sang Mỹ.”[1]

Trong các vụ tham nhũng lớn ở Việt Nam thời gian vừa qua đều mang tầm vóc quốc gia và nếu được mang ra chỉ với Tòa án Nhân quyền, tức thời các nhà lãnh đạo CSVN cũng đủ trở thành tội phạm quốc tế!

Tính chất tham nhũng trầm trọng lan tỏa đều có liên quan đến các Bộ ngành thuộc Nhà nước CSVN!

– Ông Trịnh Duy Lân, giám đốc Viện Xã hôi học, nói với phóng viên Matt Steinglass là người dân cảm thấ́y “phẫn nộ” vì các scandal tham nhũng.

Kể từ năm 2002, khi Hiệp định thương mại Việt – Mỹ đi vào hiệu lực, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ đã tăng vọt, ước tính lên đến 2.4 tỉ đôla vào năm nay. Hạn ngạch quota mà Mỹ áp đặt cho hàng Việt Nam được đưa ra vào tháng Bảy 2003.

Theo bài của phóng viên Matt Steinglass, “một công ty may mặc gặp khó khăn với quota là Park’s Manufacturing, một liên doanh Việt – Mỹ ở Hà Nội. Chủ tịch công ty người gốc Nam Hàn, Park Chung Mahn, nói công ty ông xuất khẩu 140.000 tá áo sang Mỹ năm 2002.”

“Nhưng khi hạn ngạch nhập khẩu của Mỹ có hiệu lực vào tháng Sáu 2003, Park’s Manufacturing không nhận được quota nào từ Bộ Thương mại.”

Một viên chức của công ty Park’s Manufacturing, yêu cầu giấu tên, nói: “Chúng tôi có 700 công nhân ngồi chơi xơi nước. Chúng tôi không thể trả lương cho họ. Làm thế nào họ có thể nuôi gia đình?”

Báo chí ở Việt Nam tường thuật là công ty Park’s Manufacturing đã gửi 100.000 đôla cho một người trung gian. Sau đó người này đề nghị trả cho ông Mai Thanh Hải 30.000 đôla để giải quyết vụ quota.

“Công ty Park’s Manufacturing thừa nhận đã có việc hối lộ xảy ra, nhưng nói tiền không phải do công ty chi. Họ nói việc hối lộ là hành động cá nhân của một nhân viên, người mượn món tiền từ gia đình ông ta.”

“Đối tác Mỹ của công ty không chấp nhận hối lộ, và người nhân viên đã lấy lại món tiền, và trình báo vụ việc cho nhà chức trách. Người nhân viên bị buộc rời khỏi công ty nhưng không phải chịu cáo buộc pháp lý.”

“Các khiếu nại tương tự từ nhiều công ty đã dẫn đến một cuộc điều tra của Bộ Công an. Bốn viên chức Bộ thương mại, trong đó có ông Hải, và tám người khác, bị bắt. Không có người Mỹ nào bị vướng vào vụ việc.”

“Chính phủ Việt Nam đã cam kết loại bỏ tham nhũng. Họ vừa lập một nhóm liên bộ để theo dõi việc phân bổ quota. Và thứ Hai tuần rồi, Thủ tướng Phan Văn Khải loan báo việc thành lập một cơ quan điều tra tham nhũng.”

“Các viên chức ngành dệt may ca ngợi chiến dịch của Việt Nam và liên kết nỗ lực trong sạch hóa hệ thống quota với viễn cảnh cạnh tranh gay gắt vào năm tới trong ngành dệt may thế giới.”[1]

-Trong một xã hội luôn có ít nhất hai thị trường chính thức và chợ đen, luật pháp cũng vậy, có luật thành văn và bất thành văn thường giành cho các đảng viên và giới giang hồ. Cho nên ngành dệt may Việt Nam trở thành LỘC TRỜI cho những quan chức hối lộ! Các báo đều tường thuật về đời sống xa hoa của con ông thứ trưởng, có tên Mai Thanh Hải. Và hầu hết con cái các quan chức VC đều vậy, các phương tiện truyền thông thường đưa tin sau những vụ đua xe trái phép, một trong các trường hợp hay xảy ra, đó là chính con cái hoặc bố mẹ của chúng tìm mọi cách hối lộ đển khỏi bị truy tố!

“Năm 2002, con trai một quan chức trong Bộ Giao thông – Vận tải bị bắt khi đang cãi nhau với công an ở Hà Nội. Tin đồn nói người này khi đó hét: “Mày không biết cha ông là ai à?”

“Những scandal như thế góp thêm vào không khí xa hoa ở thủ đô. Những ngôi nhà lớn mọc lên ở các khu vực quanh Hồ Tây, nhưng thường khó mà biết chắc ai sở hữu chúng. Cũng như khó biết ai sở hữu các khách sạn và hộp đêm sang trọng.”

“Một chủ nhà hàng người Mỹ nói với điều kiện giấu tên: “Sẽ không ai nói với ông về cách thức xài tiền của người giàu Việt Nam. Họ không thích phô trương tài sản trước công chúng.”

 

 

IV. Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong những quốc gia tham nhũng nhất thế giới.

 

Tham nhũng ước tích gây thất thoát 400 tỉ đôla mỗi năm! [1]

Đó là theo kết quả của báo cáo thường niên của tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International).

Báo cáo sử dụng thang điểm 10 là điểm cao nhất cho sự trong sách, thì Việt Nam chỉ được chấm 2.6 điểm và xếp thứ 102.

Danh sách hàng năm của tổ chức Minh bạch quốc tế được thu thập từ một loạt các thăm dò dư luận quanh nhận thức về tham nhũng.

Danh sách 146 quốc gia năm nay dựa trên 18 kết quả thăm dò thực hiện từ năm 2002 của hơn 10 tổ chức độc lập.

Bản báo cáo tập trung vào vấn đề tham nhũng trong khu vực công và nó định nghĩa tham nhũng là sự lạm dụng công quyền để thu lợi riêng.

Một điều cần lưu ý các nước bị xếp hạng càng thấp không nhất thiết trên thực tế đó là những nước tham nhũng nhất thế giới.

Báo cáo chỉ ra rằng những nước có điểm thấp nhất là nước mà bị dư luận xem là nước tham nhũng nhất.

Xét trên tinh thần đó, có vẻ như Việt Nam tiếp tục mang tiếng xấu trong nhận thức của công chúng.

Thứ hạng của Việt Nam trong bản báo cáo của năm ngoái với năm nay gần như không thay đổi.

Năm ngoái, Việt Nam, với 2.4 điểm, là một trong sáu nước cùng xếp hạng 100 trên tổng số 133 quốc gia.

Năm nay, trên tổng số 146 quốc gia, Việt Nam là một trong sáu nước đứng thứ 102, cùng với Philippines, Eritrea, Papua New Guinea, Uganda và Zambia.

Mới đây, ngày 14-10, tại hội nghị “Thủ tướng Chính phủ gặp doanh nghiệp năm 2004”, thủ tướng Phan Văn Khải đã lên tiếng về nạn hối lộ và tham nhũng ở Việt Nam.

Báo Thanh Niên khi đó trích lời ông Phan Văn Khải nói:

“Đại diện của Phòng Thương mại Mỹ nói tham nhũng ở nước ta tràn lan, làm vô hiệu hóa bộ máy Nhà nước, có pháp quyền nhưng hóa ra là lại vô pháp quyền. Chúng ta nghe thì có thể cảm thấy khó chịu nhưng đó là thực tế và chúng ta phải thấy đó là điều rất đau lòng. Không biết các đồng chí nghĩ sao nhưng tôi thấy đó là sự thật”

“Ta cứ nói là lo cho dân nhưng đâu cũng có tiêu cực thì người ta đâu có tin mình. Trong nhiều năm làm thủ tướng, tôi canh cánh một điều trong lòng, và chắc là cả đến lúc nghỉ hưu, là bộ máy chúng ta hư hỏng, làm sao đẩy lùi được.”

Chủ tịch Tổ chức Minh bạch quốc tế, Peter Eigen, cho hay là: “Tham nhũng trong các dự án công là một trở ngại lớn đối với phát triển bền vững.”

Những nước được xếp hạng cao nhất về tính minh bạch cũng đa phần là những nước giàu. Nhưng Transprency International cảnh báo những nước nghèo nhất cũng chính là những nước đang cần hỗ trợ để chống tham nhũng.

Transparency International nói thêm rằng một số quốc gia có thể nằm trong những nước tham nhũng nhất lại không được liệt kê trong báo cáo vì không có đủ thông tin qua khảo sát để đưa ra đánh giá.[1]

IV.1 Thiệt hại nhiều tỷ đồng từ Sea Games

 

Các kết quả thanh tra mới nhất vừa được Việt Nam công bố cho thấy sai phạm trị giá nhiều tỷ đồng đã xảy ra từ các công trình phục vụ Sea Games 22 năm 2003.

Tổng giá trị sai phạm sau khi thanh tra 2 công trình SEA Games 22 ở Hà Nội là khoảng hơn hai tỷ đồng.

Đặc biệt, một công trình khác cấp quốc gia, Sân vận động Mỹ Đình, bị nói là 17 trong tổng số 18 triệu đôla giá trị thiết bị sử dụng của công trình đã bị thay đổi so với hợp đồng

Có hai công trình phục vụ SEA Games 22 ở Hà Nội vừa hoàn tất thanh tra là dự án nhà đua thuyền Hồ Tây và nhà thi đấu TDTT Gia Lâm.

Tổng vốn đầu tư cho hai công trình là gần 37.66 tỉ đồng, trong đó sai phạm gây ra ước tính gây thất thoát gần 2.5 tỷ đồng.

Tại nhà luyện tập và thi đấu thể thao huyện Gia Lâm, thanh tra cho biết có một phần trong công trình đơn vị thi công không hề làm nhưng vẫn được Ban quản lý dự án thanh toán tiền giá trị 129 triệu đồng.

Tình trạng gian lận còn thể hiện ở việc thực hiện xây dựng, thanh quyết toán ở các phần xây dựng móng, điều hòa, bảng điện tử của công trình.

Tại dự án đầu tư xây dựng Nhà đua thuyền Hồ Tây, thanh tra phát hiện Ban Quản lý dự án đã giao nhận sai chủng loại, sai xuất xứ hàng hóa một số chiếc thuyền để làm tăng giá trị quyết toán.

IV.2 Sai phạm lớn ở công trình Mỹ Đình

Gây chú ý hơn cả là kết luận thanh tra về Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, công trình trị giá 966 tỷ đồng (tương đương 69 triệu đôla Mỹ).

Trước lúc hoàn thành tháng 12-2003, công trình đã gây tranh cãi trong dư luận và truyền thông ở Việt Nam quanh việc lựa chọn nhà thầu Trung Quốc HISG.

Sau đó, công ty này vẫn được chọn để thực hiện dự án Mỹ Đình.

Nay kết luận từ Thanh tra Chính phủ cho hay 17 trong tổng số 18 triệu đôla giá trị thiết bị sử dụng của công trình đã bị thay đổi so với hợp đồng, trong đó, có gần năm triệu rưỡi đôla giá trị thiết bị không rõ nguồn gốc.

Sau khi trúng thầu, nhà thầu HISG đã ký với các thầu phụ trong nước, nhưng với đơn giá rất thấp để hưởng chênh lệch hàng triệu đôla.

Một ví dụ là phần thép dầm móng ký với giá 408.1 đôla /tấn, hưởng chênh lệch 125.01 đôla /tấn.

Phần lớn thiết bị được sử dụng đều không ghi rõ tên nước sản xuất trên nhãn hiệu.

Thanh tra Chính phủ cho biết trong quá trình điều tra, họ đã nhiều lần đề nghị công ty HISG cung cấp tài liệu để xác nhận xuất xứ hàng hóa để chứng minh.

Nhưng thanh tra nói những đề nghị của họ đã không được HISG đáp ứng.[1]

 

***

V. CHUYỂN ĐỔI VĂN HÓA THAM NHŨNG

Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Mỹ, tháng 12/2006

Lời giới thiệu

  “Tham nhũng không còn là vấn đề của địa phương mà là một hiện tượng có tính xuyên quốc gia ảnh hưởng tới tất cả các xã hội và các nền kinh tế, do vậy hợp tác quốc tế nhằm ngăn chặn và kiểm soát tham nhũng là điều vô cùng cần thiết”
– Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng

“Chúng ta đã nhận ra rằng tham nhũng là cản trở lớn nhất đối với sự phát triển kinh tế-xã hội”
– Ngân hàng Thế giới

“Tham nhũng khiến hàng triệu người không thể thoát khỏi cảnh đói nghèo”
– Tổ chức Minh bạch Quốc tế

“Đã từ lâu, văn hóa tham nhũng làm suy giảm sự phát triển và quản lý hiệu quả đồng thời làm gia tăng tội phạm và sự ngờ vực trên khắp thế giới”
– Tổng thống George W. Bush

Theo Ngân hàng Thế giới, nhìn chung tham nhũng được coi là lạm dụng quyền lực công để tư lợi. Các hình thức tham nhũng bao gồm từ tham nhũng quy mô lớn liên quan tới cấp cao nhất trong chính phủ quốc gia, cho tới tham nhũng quy mô nhỏ, chẳng hạn như hối lộ những khoản tiền rất nhỏ hoặc cho hưởng những ưu đãi nhỏ của những người ở cấp thấp hơn. Bất luận quy mô tham nhũng như thế nào đi nữa thì những hành vi như vậy làm suy giảm sự phát triển của xã hội dân sự và làm gia tăng đói nghèo, đặc biệt khi mà các nguồn lực nhà nước – lẽ ra đã được đầu tư để nhân dân có cuộc sống tốt hơn – lại bị các quan chức nhà nước sử dụng sai hoặc lạm dụng.

Trong những năm gần đây, với một loạt các thỏa thuận quốc tế, một khuôn khổ chống tham nhũng toàn cầu đã bắt đầu được định hình. Mỗi quốc gia giờ đây có thể chống tham nhũng hiệu quả hơn thông qua thực thi mạnh mẽ các biện pháp chống tham nhũng và dựa vào hợp tác quốc tế để hỗ trợ những biện pháp này. Tạp chí Điện tử kỳ này của Bộ Ngoại Hoa Kỳ nhấn mạnh tới vai trò quan trọng của khu vực công, tư nhân và các tổ chức phi chính phủ trong việc xóa bỏ nạn tham nhũng trên toàn thế giới.

Ban biên tập

***

VI. Tham nhũng trên phạm vi toàn cầu và Việt Nam

Somalia một lần nữa được cho là nước tham nhũng nhất trên thế giới – nhiều hơn ngay cả những nước như Miến Điện, Afghanistan và Iraq.

Theo Chỉ số Tham nhũng CPI do tổ chức Minh bạch Quốc tế ở Berlin ấn hành, Đan Mạch, New Zealand và Singapore là những nước có ít tham nhũng nhất trên thế giới.

Chỉ số CPI đánh giá cảm nhận có tham nhũng trong khu vực công tại 178 quốc gia và sắp hạng từ 0 (tham nhũng nhiều) đến 10 (rất trong sạch).

Năm 2010 Somalia sắp hạng 1,1 – Thụy Điển 9,2. Phóng viên BBC sẽ viếng thăm Thụy Điển và Somalia – hai thái cực của chủ đề tham nhũng.

Tổ chức Minh bạch Quốc tế được thành lập năm 1993 ấn hành chỉ số CPI hàng năm sau khi tổng hợp kết quả của 13 cuộc khảo sát độc lập do những tổ chức như Ngân hàng Thế giới thực hiện.

Đề quyết định hạng của một quốc gia, tối thiểu phải có được ba kết quả khảo sát của nước đó.

Trong số những nước có chiều hướng tệ đi thấy được so với 2009 có Italy và Hoa Kỳ. Trong khi Chile và Haiti nằm trong số có tiến bộ. [1]

VI.1 Tác động của tham nhũng ở Việt Nam

Hội nghị các nhà tài trợ khai mạc 7/12/2012 tại Hà Nội sẽ bàn về ổn định kinh tế vĩ mô; xây dựng nền quản trị công minh bạch; hiệu quả của tập đoàn kinh tế nhà nước tại Việt Nam.

Ngoài ra, chủ đề phòng chống tham nhũng; thúc đẩy năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng được coi là quan trọng. Giới đầu tư và dư luận Việt Nam cũng nhắc đến ‘hội chứng Vinashin’ và tình hình tài chính của các tập đoàn nhà nước lớn trong những tháng gần đây. Bên cạnh đó là những trở ngại khác bao gồm tệ tham nhũng cố hữu và thực trạng bất ổn của đồng tiền Việt Nam, bị phá giá ba lần kể từ cuối năm ngoái. Đây là những vấn đề khiến Việt Nam bị hãng thông tấn AFP gần đây gọi ‘Con Hổ khập khiễng’ và dù đã bắt đầu cải cách từ hai thập niên qua, Việt Nam đã và đang tụt lại phía sau các nước láng giềng. Cũng trong tuần này, các ban ngôn ngữ của đài BBC khai trương loạt bài về Tham nhũng trên thế giới.

Chỉ số CPI đánh giá cảm nhận có tham nhũng trong khu vực công tại 178 quốc gia và sắp hạng từ 0 (tham nhũng nhiều) đến 10 (rất trong sạch).

Năm 2010 Somalia sắp hạng 1,1 – Thụy Điển 9,2. Phóng viên BBC sẽ viếng thăm Thụy Điển và Somalia – hai thái cực của chủ đề tham nhũng.

Tổng hợp một số ý kiến về tham nhũng trên diễn đàn BBC như các mối quan hệ xã hội ngày nay đã bị thoái hóa thành những hành vi mờ ám, và nó đang ăn sâu vào tư tưởng, hành động của mỗi người, đến khi họ không còn nhận ra đúng, sai, không còn biết người khác sẽ nhìn mình thế nào, họ không còn biết xấu hổ là gì…miễn là được việc cho mình. Đó có phải là một xã hội dân chủ, văn minh?

Giới lãnh đạo Cộng sản Hà Nội biết rõ tham nhũng bắt nguồn từ đâu nhưng vẫn cứ mời cá chuyên viên Thụy Điển sang “dạy” mình cách chống tham nhũng ra điều ta đây thực sự muốn học hỏi, chống tham nhũng từ nhiều năm trước – quả thật là mị dân!

Rốt cuộc những bài học cách chống tham nhũng của Thụy Điển là giúp các quan học tập rút kinh nghiệm, hiểu biết rộng hơn để tham nhũng tinh vi hơn, giỏi hơn sau này – Thầy chạy!

Doanh nghiệp Nhà nước là “két sắt” cất giấu tiền tham nhũng. Thậm chí nhiều khi có cả doanh nghiệp trá hình của lực lượng vũ trang nhân dân tham gia cạnh tranh thị trường với doanh nghiệp tư nhân trong các dự án từ ngân sách nhà nước, thực chất là tiền từ thuế của dân, được gọi là “dân chủ, công bằng”. Kết quả là doanh nghiệp tư nhân thua, lực lượng vũ trang thắng đóng két sắt lại đầy.[1]

VI.2 Làm kinh tế dân chủ bằng cả lực lượng súng đạn:

Làm kinh tế dân chủ, công bằng kiểu gì lại mang cả lực lượng súng đạn ra cạnh tranh thị trường thì ai thắng ?

Sau đó nghe thua lổ, giải thể, sát nhập!

Lại có một doanh ngiệp Nhà nước…mới… ra đời, mà không giải thích được.

Muốn tồn tại thì một số DN tư nhân buộc phải kết hợp với doanh nghiệp nhà nước, tạo ra những nhóm lợi ích độc quyền, ngạo mạng; nhưng đóng góp ngân sách lại thấp nhất. Số DN tư nhân còn lại phải ngụp lặn, đơn độc với vai trò thật bé nhỏ, nhưng đóng góp ngân sách lại cao nhất. Thật là khôi hài ( ! )

Tham nhũng chỉ có trong khu vực Quyền lực nhà nước. Ngành nghề nào ư ?

Ngành: là ngành lấy tiền thuế của dân mượn danh đầu tư xây dựng phát triển đất nước.

Nghề: là nghề Lãnh đạo từ cấp trung đến cấp cao trong chính phủ và doanh nghiệp Nhà nước.

Muốn giảm tham nhũng đến 80% thì thu hồi tiền tham nhũng của cấp trung và cao để nâng lương công chức. Song song hãy đưa người trí thức tài giỏi vào thay thế các vị cấp trung và cao, thực chất là đa số là thiếu tri thức, bất tài trong hệ thống chính phủ hiện nay, người dân ai cũng biết các quan hiện nay lên làm lãnh đạo từ tài sản ‘trên răng dưới đôi dép hai quai…

Đồng thời phải có xã hội dân chủ, minh bạch và tự do báo chí để kiểm tra chéo. Chắc chắn dân trí được chấn chỉnh, lòng tự trọng được nâng cao, sự tham lam, ăn cắp của công sẽ giảm!

 

Nhưng nâng cao mức sống của đại đa số người dân bằng cách nào đây ông?
Không phải ta có một chỉ số tăng trưởng GDP liên tục hàng năm sao! nhưng đằng sau cái giá của sự tăng trưởng kia có người dân nghèo nào được lợi?
Đây không phải là phát triển KT, nâng cao đời sống, nhưng tham nhũng vẫn tiếp diễn và ngày càng nhiều hơn hay sao!
Tất cả cũng vì một nhóm người đang thao túng quyền lực, cũng như quyền lợi cho phe nhóm mình, bằng cách thiết lập ra một hệ thống hành chánh “hành dân”, và một hệ thống luật pháp phản khoa học mà ra. Cho nên nếu cứ giữ cái quyền lực một cực duy nhất này, và không phát huy dân chủ cho toàn xã hội thời hệ lụy kinh tế càng phát triển, tham nhũng càng lộng hành và hung hăng hơn.
Việt Nam ngày nay chỉ cần bước ra ngoài đường là gặp tham nhũng, hình ảnh không đội mũ bảo hiểm hay vượt đèn đỏ thì chắc mọi người đều muốn bỏ ra mấy trăm cho nó nhanh! Đó là sự thật và đó là một thói quen xoáy mòn đến hủy diệt tất cả!

 

Là người thường xuyên làm việc với các công chức nhà nước, tôi thấy việc chống tham nhũng không hề đơn giản như một công chức mà tận tâm tận lực thì thực sự mệt mỏi vì khối lượng công việc không hề ít, trong khi thu nhập chính đáng nhất lại chỉ có đồng lương và tý phụ cấp ít ỏi.
Vậy giải pháp sẽ là gì? Trong khi bụng đói, vợ con không có gì ăn thì bất kể việc gì cũng có thể làm, kể cả đi ăn cướp!
VI.3 Chống tham nhũng là một quá trình lâu dài, phải kết hợp nhiều biện pháp mà cơ bản nhất là phải nâng cao mức sống, cải thiện thu nhập.

Nạn tham nhũng ở Việt Nam xảy ra bất cứ ở đâu, bất cứ thời điểm nào, bất cứ hoàn cảnh nào và bất cứ con người nào (tất nhiên phải là người có chức, có quyền). Nó không phải chỉ còn là ung nhọt của xã hội, mà giống như những tế bào ung thư đang phát triển. Đến khi nó di căn, không phải mất chế độ mà là mất nước.

Chế độ cộng sản hiểu rất rõ điều này. Nhưng chống tham nhũng tức là chống chính họ. Cho nên chống tham nhũng trong giai đoạn này thực chất chỉ là “hô khẩu hiệu”.

Tham nhũng tác động ra sao ?

Nghành nào tham nhũng?

Dễ trả lời nhưng không kể hết được vì mỗi ngày ra đường là nhìn thấy tham nhũng.

Tham nhũng đã biến cả cơ thể đất nước gầy nhom, ốm yếu.

Tham nhũng vỗ béo quan chức ngày càng to bụng, mập mặt chảy mỡ. Cả nhà quan vinh thân phì gia.

Tham nhũng gậm mòn sức vóc người dân làm họ ngày càng gầy còm, khẳng khiu mang nhiều bệnh tật.

Tham nhũng đẩy hàng triệu trẻ em cơ nhỡ ra đường ăn xin. Phụ nữ phải bán thân nuôi miệng.

“Thực đơn” tham nhũng ở VN vô cùng phong phú. Người ta ăn từ bê tông cốt thép đến uống cả xăng, dầu.

Tham nhũng dự án, công trình, quỹ đầu tư, hàng viện trợ là bầu sữa ngọt mà quan chức rất khoái…ngậm bình!

Tham nhũng ăn từ tiền cứu trợ, tiền bảo hiểm, ăn luôn cả gạo móc, áo quần, giẻ rách cho người nghèo vùng lũ.

Tham nhũng lên rừng thì ăn xẻ thịt rừng núi, thú hoang, quặng bauxite.

Tham nhũng xuống biển thì ăn cả tàu bè. cảng biển.

Tham nhũng từ cửa khẩu biên giới cho đến trạm thu phí đi đường, từ nhà ra phố thị.

Tham nhũng tàn phá hết cơ đồ đất nước, biến đất nước rơi vào thời kỳ đồ…đểu.

Tham nhũng sinh dối trá, lọc lừa đã trở thành thứ văn hóa ứng xử mặc nhiên ngoài xã hội.

IV. Đất nước rồi sẽ chỉ còn trơ lại khung xương.

“Nghĩ đến các mối quan hệ xã hội ngày nay, tương lai dân tộc VN trong 10, 20 năm nữa, Luật pháp không được thực thi, có tiền/ có quyền hoặc cả hai, Tiền/Quyền chính là công lý, là đạo đức. Thày cô giáo, cha mẹ ngày càng ít nói đến những chụẩn mực đạo đức vì làm không đúng như thế thì nói đến sao được? Thay vào đó là dạy cách kiếm tiền, cách để đoạt quyền, cách hòa nhập với chung quanh, hoặc nói một cách mơ hồ chung chung, biến dạng.

Các em sẽ không còn nhận ra đâu là luật pháp, công lý, đâu là những giá trị văn hóa đạo đức, công bằng …cũng như trật tự của chính xã hội đang sống mà sự bảo vệ hỗ tương dưới những hiến chế luật pháp thật cần thiết vế an ninh cho con  người!

Doanh nghiệp Nhà nước là “két sắt” giấu tiền tham nhũng. Thậm chí nhiều khi có cả doanh nghiệp của lực lượng vũ trang tham gia cạnh tranh thị trường với doanh nghiệp tư nhân trong các dự án từ ngân sách nhà nước, thực chất là tiền của dân được gọi là “dân chủ, công bằng”. Kết quả là doanh nghiệp tư nhân thua, lực lượng vũ trang thắng két sắt lại đầy. Làm kinh tế dân chủ, công bằng kiểu gì lại mang cả lực lượng súng đạn ra cạnh tranh thị trường thì ai thắng? Sau đó nghe thua lổ, giải thể, sát nhập. Lại có một doanh ngiệp Nhà nước…mới… ra đời, mà không giải thích được.
Muốn tồn tại thì một số DN tư nhân buộc phải kết hợp với doanh nghiệp nhà nước, tạo ra những nhóm lợi ích độc quyền, ngạo mạng nhưng đóng góp ngân sách lại thấp nhất. Số DN tư nhân còn lại phải ngụp lặn, đơn độc với vai trò thật bé nhỏ, nhưng đóng góp ngân sách lại cao nhất. Thật là khôi hài !

Tham nhũng ở VN đã trở thành quốc nạn từ lâu, nó xảy ra mọi lúc, mọi nơi, mọi ngành nghề, mọi lãnh vực, nhiều mức độ, từ dưới lên, từ trên xuống, không thể kể xiết! Chính quyền các cấp đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ “dạy” cho mọi người dân ai cũng biết lo lót, hối lộ!”[1]

Bất cứ tổ chức nào trên thế giới không đánh giá VN là nước tham nhũng “nhất thế giới”, tổ chức đó chưa đủ “trình độ”!

Ở VN hiện nay, khi hỏi bạn nghĩ sao về tham nhũng như BBC hỏi, thú thật tiếng Việt đã cạn từ!

Ngành nghề nào ư? -Mọi ngành!

Từ địa phương tới trung ương!

Ở địa phương thì cầu, đường, trường học, bệnh viện, hay bất cứ công trình nào, nghiệm thu chừng một tháng là bắt đầu xuống cấp! Nó bị rút ruột 60%!

Ở trung ương? -Nhỏ nhất là Vinashin: cả trăm ngàn tỉ đồng, chưa kể tiền lời phát sinh, chưa kể vốn ban đầu, đem thí điểm môt thời gian ngắn chỉ còn là “một đống sắt vụn” như phó TT Ng-sinh Hùng nói tại QH! Và thiên hạ đồn rằng còn bốn, năm cái Vinashin nữa chưa lộ diện! Nên các công trình có vay tiền nước ngoài đổ vô cái gọi là doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn là tham nhũng nhất vì không thể thanh tra được và không ai chịu trách nhiêm bồi thường cả!

Tham nhũng là con quỷ mà ĐCS đã đẻ ra, nó càng ngày càng hung dữ hơn, nó sẽ không bao giờ ngừng cắn nát Tổ Quốc VN.

Khi người dân phải nai lưng ra làm và đều đều đóng thuế 10% VAT, đến đủ mọi thuế khác, kể không hết!

Công nhân viên chức nhà nước từ đầu đến đuôi làm sao sống nổi với đồng lương “nhà nước”, vì thế VN ta mới có trò hề … bao cấp ngược, nông dân hay doanh nghiệp tư nhân thì tự túc mà cày, mỗi lần đi xin cơ quan nhà nước cho cái gì từ bằng lái xe, cho con đi học, giấy phép xây nhà…thì tự động đưa phong bì cho các quan!

Các ông trung ương thì sạch hơn, không ăn tiền đút lót bôi trơn, nhưng họ rất thích hoa hồng của những chủ thầu những dự án tầm cỡ quốc gia ODA, dự án Bauxite, thuê rừng, xây dựng nhà máy điện, buôn bán vũ khí, đường sắt cao tốc…

Cuối cùng là con cháu dân đen sẽ phải gánh nặng cái món nợ khủng lồ và VN ta không bao giờ ngóc đầu lên được.

VI.5 Thời điểm đã đủ để thay đổi – Time to change, time to say: That’ s enough!

Chống tham nhũng là một mỹ từ trong nền chính trị VN vì ai cũng biết từ cửa miệng này của các quan chỉ để trang trí trên các diễn đàn hội nghị mà thôi. Khi một vị quan lớn lên phát biểu điều này các quan bé ngồi ở dưới hội trường có thể nhẩm tính bất động sản hay dự án nào có tên của ông ta, con cái du học Anh, Mỹ bao năm mỗi năm tiêu tốn mấy chục ngàn Mỹ kim. Những dự án nào ông ta đã hớt tay trên của mình bao nhiêu phần trăm….Các quan bé so sánh: ta với ông ấy hơn kém gì nhau mà tại sao quyền lực và tài sản mình chưa thể bằng ông ấy.
Với một phong trào suy nghĩ chung như thế của lãnh đạo ĐCSVN thì việc một tập đoàn như Vinashin chưa phải là kết cuối cùng. Sẽ còn nhiều tập đoàn như thế nếu không được nuôi dưỡng bằng cách chính sách ưu đải về thuế cho đến đấu thầu dự án hay thu giá rẻ tài nguyên khoáng sản quốc gia.

Tham nhũng đã làm lũng đoạn chính sách pháp luật và khống chế nền kinh tế VN khó thoát khỏi cái ngưỡng: Các nước đang phát triển.

VN không lành mạnh được nền chính trị và xây dựng kỷ cương pháp luật tam quyền phân lập thì không thể nào thoát khỏi cái bóng của Phi, Thái, chứ nói gì đến giấc mơ Hàn quốc và Đài Loan.

Dĩ nhiên TN là điều xấu xa, tuy nhiên kinh nghiệm bản thân tôi không dám cười ai TN cả, bởi lẽ con người muốn sống thanh bạch, liêm chính chỉ có thể là “người không có điều kiện TN mà thôi”.

Ví dụ bạn là “quan” mà nhiều người phải quỳ lụy bạn để được việc thì bạn khó lòng từ chối những bổng lộc mà người ta hối lộ cho bạn. Ngược lại nếu là thợ xây tường, quét vôi, phu quét rác thì những người này ăn hối lộ, tham nhũng gì được của ai? Ai dại gì và ích lợi gì mà cho ăn?

Trong xã hội, người nhân đức, chân chính thì không thể giàu có được; còn người giàu có, xa hoa thì không thể là người có lòng nhân ái và liêm chính- một câu nói của Tây phương tuy có vẻ hơi quá, nhưng cũng đáng cho ta suy nghĩ.

VII. Hậu quả chống tham nhũng: Sự trả thù!

Ông Trần Văn Giáp nói việc ông bị đánh là hành động trả thù cho việc ông đã tố cáo chống tham nhũng,

Nhà báo John Ruwitch, trưởng văn phòng đại diện của Reuters tại Hà Nội, có bài phân tích hôm 24/06 về cuộc chiến chống tham nhũng ở Việt Nam. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Trần Văn Giáp từ từ trở mình trên giường bệnh viện, nháy mắt và kéo vai áo bên trái xuống. Những vết bầm tím do những kẻ tấn công dùng ống sắt đánh hằn trên cả một khoảng lưng ông.

Ông Giáp cho biết vụ ông bị đánh xảy ra hồi đầu tháng Sáu là hành động trả thù cho việc ông đã tố giác một quan chức địa phương, người mà ông nói đã bán khoảng 70 kg thóc gạo đáng phải được phân phối miễn phí sau trận lũ lụt năm ngoái.

“Người con trai của viên chức này là một trong số những kẻ tấn công,” ông Giáp nói.

Bên cạnh ông trong căn phòng bệnh viện với bảy giường bệnh ở thành phố Vinh, cách Hà Nội 250 km về phía nam, là người anh em trai của ông, một bệnh nhân đang nằm và được truyền nước qua ven tay và ngón tay chỏ trên bàn tay bên phải được băng kín.

Ông nói là ông suýt bị mất ngón tay này trong vụ bị đánh bị thương đó.

Những nguy hiểm có thể là tương đối nhỏ trong trường hợp của ông Giáp, nhưng nó đã trở thành hàng tin chính trên một số tờ báo có lượng độc giả đông đảo tại Việt Nam, và cùng với các trường hợp khác nó một lần nữa nhắc lại câu hỏi về hiệu quả của những nỗ lực chống tận gốc rễ tình trạng tham nhũng đang tràn lan.[1]

VII.1 Các nhà đầu tư quan ngại

Các chuyên gia nói tình trạng ăn hối lộ có ở mọi nơi mọi chỗ tại Việt Nam và ở mỗi cấp chính quyền, và các nhà đầu tư phương Tây từ lâu đã được đặt vấn đề này là trong số những lo ngại hàng đầu khi làm ăn kinh doanh ở đây.

Cuối năm 2008, Nhật Bản, nhà tài trợ lớn nhất của Việt Nam, đã tạm thời đình chỉ các hỗ trợ chính thức do một vụ bê bối về tham nhũng.

Các nhà lãnh đạo cao cấp trong Đảng Cộng sản cầm quyền đã gọi tình trạng hối lộ lan tràn là một nguy cơ cho sự phát triển của quốc gia.

Nhưng các nhà phân tích và vận động chống tham nhũng nói đã có đôi chút tiến bộ trong những năm gần đây và những trường hợp đứng lên tố giác như ông Giáp có thể sẽ gia tăng.

VietnamNet, tờ báo điện tử được ưa chuộng tại Việt Nam, trong tháng này đã đưa tin một cựu chiến binh chống tham nhũng trong một trường hợp khiếu kiện về đất đai ở tỉnh Hải Dương, đã bị giết hại hồi tháng Giêng.

Ông Trần Đình Triển, một luật sư vốn hay lên tiếng, cho biết lòng tin vào khả năng của chế độ có thể giải quyết vấn đề này dường như đang giảm dần.

“Đây là một vấn đề nóng bỏng và là một chủ đề mà tôi có thể thấy đang làm cho người dân mất lòng tin vào các cơ quan của nhà nước,” ông nói.

Cách đây 5 năm, Việt Nam có thể đã có nhiều lý do để hy vọng.

VII.2 Nguy cơ với những người chống tham nhũng

Trong năm 2006, các nhà báo phát hiện một vụ bê bối cờ bạc và tham ô biển thủ rất lớn, được gọi là vụ PMU-18 và vụ việc này đã buộc Bộ trưởng Giao thông phải từ chức và đẩy vấn đề tham nhũng lên đầu chương trình nghị sự tại Đại hội Đảng Cộng sản.

Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam khi đó là ông Nông Đức Mạnh, và ông đã gọi vấn đề này là một mối đe dọa cho chế độ.

Nhưng vào năm 2008, hai trong số những phóng viên tích cực nhất đưa tin về câu chuyện này đã bị bắt giữ và các Tổng biên tập viên hàng đầu đã bị sa thải. Điều đó gửi đi một tín hiệu rõ ràng tới “những nhà báo thích bới móc”.

Năm ngoái, trong dòng lũ xoáy liên quan tới tình trạng gần phá sản của tập đoàn đóng tàu lớn do nhà nước quản lý, Vinashin, đã có rất ít tin tức về tham nhũng mặc dù có nhiều đồn đại lan rộng rằng chính tình trạng tham nhũng đã góp phần vào sự sụp đổ của tập đoàn này.

Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục quảng bá chống tham nhũng nhưng trong các bảng xếp hạng chính thức, chẳng hạn như theo Chỉ số về Tham nhũng của tổ chức Minh bạch Quốc tế thì vị trí xếp hạng của Việt Nam gần như không xê dịch.

Việt Nam đứng thứ 111 trên 163 nước trong thang chỉ số này vào năm 2006. Việt Nam được đánh giá đạt 2,6 điểm trên thang điểm 10, trong đó 10 điểm là trong sạch nhất, không có tham nhũng và zero là tham nhũng cao. Tháng Mười năm ngoái Việt Nam đứng thứ 116 trong tổng số 178 nước, với 2,7 điểm.

Chính quyền bị rơi vào tình thế buộc phải có cách đối phó với tham nhũng,” ông Jacob Ramsay, một người chuyên theo dõi các vấn đề của Việt Nam thuộc công ty Tư vấn Kiểm soát Rủi ro, nói.

Chính quyền bị rơi vào tình thế buộc phải có cách đối phó với tham nhũng.

Jacob Ramsay

“Đây là một vấn đề cố hữu và những nỗ lực còn chưa đủ so với mức độ của vấn đề.”

Người Việt phải dò đường trong một mạng lưới phức tạp của các quy tắc và tiêu chuẩn được rỉ tai hàng ngày về những ai phải trả tiền và trả bao nhiêu. Chẳng hạn như thế này: một chiếc xe hơi sẽ không bao giờ qua được kiểm tra nếu quý vị không kín đáo lót tay những người thợ cơ khí một khoản tiền 100.000-150.000 đồng (5-7 đôla). Hoặc như thế này: nếu quý vị muốn cảnh sát tìm một chiếc xe máy bị đánh cắp thì quý vị sẽ phải tốn phí một nửa giá trị của chiếc xe đó.

Và đấy mới chỉ là chuyện nhỏ. Ông Matthieu Salomon, Cố vấn cao cấp quốc tế thuộc tổ chức Hướng tới Minh bạch, đối tác Việt Nam của tổ chức Minh bạch Quốc tế, cho biết khi đấu thầu các dự án, các công ty nói rằng quan hệ tốt với giới chức trách, tạo mạng lưới quan hệ có chiều sâu và chọn lựa cẩn thận các đối tác địa phương có thể tạo ra sự khác biệt giữa thành công và thất bại.

“Hiểu ẩn ý trong các câu nói – tôi cho rằng tất cả mọi người đều có thể đoán được đôi chút nó là chuyện gì”, ông Salomon nói.

Tuy nhiên, ông cho biết nhờ tình trạng ổn định chính trị và triển vọng thị trường tại Việt Nam mà nhiều công ty đã thử liều trước những rủi ro.

Nhiều người Việt Nam tin rằng quà biếu và tiền mặt đóng một phần vai trò thường lệ trong các đề cử vào các chức vụ trong chính phủ, nhưng không ai từng cung cấp bằng chứng chắc chắn về điều đó và các phương tiện truyền thông nhà nước chưa bao giờ đưa tin về các trường hợp như vậy.

“Ai trong cơ chế lại đi làm công việc xóa bỏ (tham nhũng) khi đó chính là cách họ đã đạt được vị trí hiện nay?” một nhà ngoại giao phương Tây từ chối không muốn nêu danh tính, nói.

VII.2.a Nạn nhân Ông Trần Văn Giáp

Một chiến thuật mới của nhà nước được thông qua vào cuối năm ngoái là trao giải thưởng về chống tham nhũng cho các công dân chống tham nhũng và công khai công nhận nỗ lực của họ như một cách tạo cảm hứng ở người dân để cảnh báo các quan chức địa phương có hành vi tham nhũng.

Nhưng số phận của ông Giáp dường như nhấn mạnh những giới hạn của phương pháp tiếp cận này: ông nói ông đã được chính quyền tỉnh Nghệ An công khai công nhận về vai trò của ông trong việc vạch mặt một viên chức đã bán đất công, dẫn đến việc người này bị kết án tại tòa.

Công an tỉnh đã đóng sổ trường hợp mới đây nhất của ông Giáp, ít nhất là vào lúc này, và họ nói rằng các thương tích của ông chỉ đơn thuần là kết quả của một cuộc đánh nhau sau khi ông Giáp xúc phạm một ai đó lái xe trái đường.

Người chống tham nhũng nổi tiếng nhất ở Việt Nam, bà Lê Hiền Đức, cho biết tình trạng tham nhũng ngày một tồi tệ hơn.

VII.2.b Nạn nhân Bà Lê Hiền Đức

Bà Lê Hiền Đức, một người chống tham nhũng được giải thưởng của tổ chức Minh bạch Quốc tế

Bà cụ 80 tuổi, bà nội của 8 người cháu, cũng là người đã từng làm việc giải mã tin tức cho ông Hồ Chí Minh – cha đẻ của nước Việt Nam hiện tại, đã từng bị gửi vòng hoa tang tới nhà, và bị đổ xăng trước cửa nhà như một lời đe dọa.

Mặc dù bà cho biết những việc như vậy đã giảm xuống kể từ khi bà đoạt Giải thưởng Liêm chính của tổ chức Minh bạch Quốc tế vào năm 2007, bà nói bà phải cẩn thận bất cứ khi nào đi khỏi nhà tại Hà Nội.

“Tôi luôn luôn phải thận trọng. Tôi không dám đi đâu một mình.”

Trong 5 năm qua, người giáo viên đã nghỉ hưu này đã dồn tất cả năng lực của mình vào việc chống tham nhũng. Một góc phòng khách của chất đống tài liệu các vụ tham nhũng và thư từ của những người trên khắp cả nước yêu cầu giúp đỡ. Những lời đề nghị xin được giúp đỡ đến mỗi ngày qua điện thoại và qua bưu điện.

Bà cho biết rất ít người dám làm như vậy. “Tôi thường cảm thấy cô độc trong công việc này và tôi đã khóc. Thật khó và có cảm giác như chẳng đi tới đâu được,” bà nói.

Vậy, liệu có thể thay đổi được gì? Bà Đức thực xúc động trước tinh thần yêu nước thể hiện trong chuỗi các cuộc biểu tình của quần chúng chống Trung Quốc trong thời gian gần đây.

“Tôi hy vọng giới trẻ ngày nay sẽ tiếp tục xuống đường, con đường mà tôi đã đi. Tôi tin là như thế. Chúng tôi có truyền thống yêu nước vì vậy tôi vẫn tin như thế, mặc dù điều đó chưa xảy ra,” bà nói.

Nhà ngoại giao người nước ngoài không nhìn thấy có thể có thay đổi đáng kể bằng con đường nào khác.

“Cách duy nhất có thể mang lại điều đó là một phong trào quần chúng,” ông nói. “Nhưng nói chính xác ra thì Đảng không khuyến khích phong trào quần chúng đó.”

Những người đã dám đối mặt bất chấp những bất lợi có truyền thống lâu năm như vậy hẳn biết quá rõ các rủi ro mà họ có thể phải gánh chịu.

“Tôi nghĩ tôi sẽ bị giết hại Ông Giáp – một người chống tham nhũng nói.[1]

***

VIII. Các chế độ độc tài thường tự đào huyệt chôn chính mình trước khi chúng bị tiêu diệt. Ngay cả khi chúng bị một lực lượng nào đó tiêu diệt thì thường, bên cạnh chúng, cũng đã có sẵn một số huyệt do chúng tự đào rồi.

Chúng tự đào huyệt bằng cách nào đó? Có nhiều cách, nhưng cách phổ biến nhất là tham nhũng.

Ở đây, có mấy điều cần được nhấn mạnh:

VIII.1 Tham nhũng là một trong những hiện tượng phổ biến của nhân loại

Có lẽ không ở đâu và không thời nào lại không có tham nhũng. Hai nguyên nhân chính của tham nhũng là lòng tham và quyền lực. Lòng tham thì gắn liền với bản chất của con người; còn quyền lực thì gắn liền với quan hệ giữa người và người. Khi con người tụ tập lại thành một cộng đồng, dù nhỏ đến mấy, ý niệm về quyền lực cũng bắt đầu xuất hiện. Biết vậy, ngay từ rất sớm, nhân loại đã biết sử dụng luật pháp để vừa hạn chế lòng tham vừa hạn chế quyền lực, qua đó, hạn chế cả tham nhũng. Nhưng luật pháp lại do con người diễn dịch và thực thi. Tham nhũng, do đó, khó mà bị trừ diệt hết được.

VIII.2 Mức độ khác biệt về tham nhũng giữa các chế độ

Nếu tham nhũng là hiện tượng phổ biến thì sự khác biệt giữa xã hội này và xã hội khác chỉ là ở mức độ. Không ai ngây thơ cho rằng ở các nước dân chủ, ngay cả dân chủ nhất, lại không có tham nhũng. Ở Mỹ, ở Úc và nhiều quốc gia Tây phương, lâu lâu báo chí lại phanh phui ra vài vụ tham nhũng, đặc biệt trong ngành cảnh sát. Hầu như ai cũng biết: sự tồn tại dai dẳng của vấn nạn buôn bán ma túy, không nhiều thì ít, cũng dính dáng đến tệ nạn tham nhũng ở cấp nào đó. Bởi vậy hầu như chính phủ nào cũng đều quan tâm đến việc củng cố việc thanh tra trong nội bộ ngành cảnh sát. Những nỗ lực ấy chỉ làm giảm thiếu chứ khó trừ diệt được hoàn toàn vấn nạn tham nhũng.

VIII.3 Tham nhũng trầm trọng tại các quốc gia độc tài

Tuy các nước dân chủ cũng có tham nhũng, nhưng hầu như ai cũng thấy không ở đâu nạn tham nhũng lại trầm trọng như ở các quốc gia độc tài. Điều này có thể dễ dàng chứng minh cả bằng thực tiễn lẫn bằng lý luận. Một là, nếu tham nhũng gắn liền với quyền lực thì quyền lực càng bị giám sát, tham nhũng sẽ càng giảm thiểu. Hai là, nếu quyền lực gắn liền với luật pháp thì ở đâu luật pháp càng minh bạch thì nạn tham nhũng càng ít có cơ hội nảy nở. Ba là, nếu tham nhũng gắn liền với lòng tham thì ở các xứ nghèo (thường cũng là xứ độc tài), người ta càng khó tự kiềm chế trước sự quyến rũ của sự tham nhũng. Tại sao, ở Tây phương, khi lái xe quá tốc độ, chẳng hạn, bị cảnh sát chặn lại, bạn không dám dúi vào tay hay túi cảnh sát vài chục đô để khỏi bị phạt? Trả lời: tại bạn sợ. Tại sao bạn sợ? Trả lời: bạn có thể bị bắt về tội đút lót, và trong trường hợp đó, hình phạt sẽ nặng nề hơn rất nhiều. Nhìn từ góc độ cảnh sát, tại sao cảnh sát Tây phương thường không dám ngửa tay nhận hối lộ kiểu như vậy? Câu trả lời cũng rất đơn giản: Số tiền ấy quá nhỏ so với lương của họ. Vì quá nhỏ, không ai dám liều lĩnh hay dại dột phiêu lưu. Như vậy, bản chất của tham nhũng bao giờ cũng là một sự tính toán. Khi số lợi do tham nhũng mang lại nhiều hơn các nguy cơ họ phải đối diện, người ta sẽ tham nhũng: Các chế độ độc tài thường cung cấp đầy đủ các điều kiện để tham nhũng phát triển và hoành hành.

VIII.4 Tham nhũng giữa các nước độc tài cũng khác nhau

Tham nhũng trầm trọng ở các nước độc tài hơn các nước dân chủ, mặt khác, giữa các nước độc tài, mức độ tham nhũng cũng khác nhau. Trong bài báo “Sources of corruption in authoritarian regimes”, đăng trên Social Science Quarterly số 1, ra vào tháng 3 năm 2010, Eric Chang thuộc Đại học Michigan State và Mariam A. Golden thuộc Đại học California ở Los Angeles, khảo sát hơn 40 chế độ độc tài khác nhau và phát hiện ra một số điểm chung. Một, các chế độ độc tài cá nhân trị (personalistic hay personalistic-hybrid regime) thường tham nhũng hơn các chế độc độc tài đảng trị (single-party) hoặc quân phiệt (military regime). Hai, chế độ càng yểu mệnh bao nhiêu càng tham nhũng bấy nhiêu.

Theo mẫu này, Việt Nam thuộc chế độ độc tài đảng trị. Kể về mức độ tham nhũng, Việt Nam được xem là đỡ hơn một số quốc gia độc tài cá nhân trị ở châu Phi. Điều này phù hợp với các bảng xếp hạng do tổ chức Minh Bạch Quốc tế (Transparency International) thực hiện hàng năm. Ví dụ, theo số liệu mới nhất, Việt Nam đứng hàng thứ 116 trên tổng số 178 quốc gia theo chỉ số tham nhũng. Bản báo cáo cũng nhấn mạnh là so với năm trước, mức độ tham nhũng ở Việt Nam vào năm 2010 còn tệ hại hơn năm 2009.

VIII.5 Tham nhũng: Giới lãnh đạo CSVN sống trong trạng thái tâm lý phập phồng của những người yểu mệnh

Điều cần chú ý là các bảng xếp hạng thường căn cứ vào dư luận của các doanh nhân và thường dân trong mỗi nước. Ở đây, chúng ta thấy kết quả sẽ rất tương đối. Nó thường “lạc quan” hơn là sự thật. Lý do, thứ nhất là vì, không phải ai cũng dám tiết lộ chuyện tham nhũng. Khác với các tội phạm khác, tham nhũng được tiến hành với sự đồng lõa từ cả hai phía: người hối lộ và người nhận hối lộ. Bởi vậy, người ta dễ có khuynh hướng bao che cho nhau. Lý do thứ hai là tùy văn hóa. Có những văn hóa xem tham nhũng là điều xấu xa và bất khả chấp nhận. Nhưng cũng có những văn hóa xem việc tham nhũng như một trong những cách giao tiếp và làm ăn, cho nên, trên nguyên tắc, nó có thể chấp nhận được nếu người ta không phải trả một cái giá quá đắt. Ví dụ, ở Việt Nam, đi làm một thứ giấy tờ gì đó, người dân thường đút lót một ít tiền cho công an hoặc cán bộ. Nhiều người chấp nhận chuyện đó vì nhờ nó, công việc được tiến hành trôi chảy và nhanh chóng hơn. Nói cách khác, họ nhìn những chuyện tham nhũng như thế từ góc độ “business” chứ không phải từ góc độ đạo đức. Do đó, trong mọi cuộc điều tra hay thăm dò dư luận, số lượng tham nhũng ở Việt Nam sẽ tự động bị giảm xuống.

Luận điểm cho các chế độ yểu mệnh thường tham nhũng nhiều hơn các chế độ được kéo dài cũng nên được hiểu một cách linh động. Ví dụ, so với nhiều chế độ độc tài khác, chế độ cộng sản ở Việt Nam thuộc loại thọ cao. Nếu tính từ năm 1945 đến thì nó đã gần 70 tuổi. Nhưng về tâm lý thì sau sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Nga và Đông Âu rõ ràng là giới lãnh đạo Việt Nam sống trong trạng thái tâm lý phập phồng của những người yểu mệnh. Họ không biết chế độ sẽ sụp đổ lúc nào. Do đó, hầu như ai cũng lo vơ vét càng nhiều càng tốt. Và chuyển ra nước ngoài càng nhiều càng tốt. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà mức độ tham nhũng không những không giảm mà còn có khuynh hướng càng ngày càng tăng. Lớn ăn lớn. Nhỏ ăn nhỏ. Ở đâu cũng có tham nhũng.

VIII.6 Đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam đang tự đào huyệt cho mình

Thật ra, chính bằng những sự tham nhũng tràn lan như vậy, đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam đang tự đào huyệt cho mình.

Cần nói ngay là tham nhũng tự nó không dẫn đến cách mạng. Trạng thái tham nhũng là một thái đồng lõa, do đó, tuy thiệt hại cho đất nước thì vô cùng lớn, nhưng với từng cá nhân, người ta hiếm khi thấy quá bức bối để có thể vùng dậy. Đó là lý do chính khiến người dân ở nhiều người có thể chịu đựng và sống chung với tham nhũng từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, thậm chí, từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, tham nhũng lại có tác động sâu sắc ở khía cạnh khác: nó phá đổ những huyền thoại mà đảng Cộng sản tự tô vẽ cho mình lâu nay. Đảng yêu nước ư? – Người ta chỉ thấy tham nhũng. Đảng yêu dân và lo cho dân ư? – Người ta chỉ thấy tham nhũng. Đảng anh hùng và sáng suốt ư? – Người ta chỉ thấy tham nhũng. Đảng là người duy nhất có khả năng lãnh đạo đất nước thoát khỏi nghèo đói ư? – Người ta chỉ thấy tham nhũng.

Mất đi những huyền thoại ấy là mất gần hết sức mạnh truyền thống của đảng cộng sản.

VIII.7 Họ chỉ còn có súng!

Nhưng súng của quân đội và công an ở Tunisia, Ai Cập và Libya vừa rồi rõ ràng là không đủ sức để bảo vệ Zine el-Abidine Ben Ali, Hosni Mubarak và Muammar Gadhafi.[1]

***

IX. CHUYỂN ĐỔI VĂN HÓA THAM NHŨNG

Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Mỹ, tháng 12/2006

Cái giá của nạn tham nhũng

John Sullivan và Alexsandr Shkolnikov

    John Sullivan là Giám đốc điều hành của Trung tâm Doanh nghiệp Tư nhân Quốc tế (CIPE), một tổ chức trực thuộc Phòng Thương mại Hoa Kỳ. Aleksandr Shkolnikov là cán bộ chương trình của CIPE. Dưới đây là đoạn trích từ một bài báo của hai tác giả này viết về cái giá của nạn tham nhũng đối với các doanh nhân và các tầng lớp công dân nói chung. Phần trích này xuất hiện lần đầu tiên trong bài báo “Đấu tranh chống tham nhũng: Triển vọng và giải pháp cho khu vực tư nhân”, tháng 9/2004, in trên cuốn Cải cách Kinh tế – một ấn phẩm của CIPE.

Tại sao phải đấu tranh chống tham nhũng? Tại nhiều nền kinh tế, tham nhũng mang tính định chế và việc hàng ngày đối mặt với nạn tham nhũng còn có vẻ dễ hơn là việc đấu tranh chống lại nó. Coi tham nhũng là một vấn đề kinh tế có nghĩa là tham nhũng không chỉ đơn giản là một hành vi ứng xử sai trái. Điều này có nghĩa là khi nó mang lại lợi ích cho một số ít cá nhân thì nó cũng gây ra những tổn thất cho xã hội, cho khu vực tư nhân và cho chính phủ trong dài hạn. Tham nhũng cần phải được loại bỏ tận gốc vì những lý do sau:

IX.1 Phân bổ nguồn lực không hợp lý

Các nguồn lực nếu không được trực tiếp dành cho sản xuất hàng hóa và dịch vụ thì thường là mục tiêu cho tham nhũng. Những nguồn lực này bao gồm cả các nguồn lực trực tiếp trong chuyển tiền mặt và các nguồn lực gián tiếp như việc duy trì quan hệ với các quan chức chính phủ hay việc cung cấp giấy phép hoạt động hoặc giấy phép sản xuất cho một doanh nghiệp ít hiệu quả hơn. Tham nhũng cũng khiến các nguồn lực bị phân bổ thiếu hợp lý trong khi lẽ ra chúng phải được sử dụng để cung cấp các dịch vụ công cộng. Số tiền thu được do cấp phép hoặc số thu từ thuế, thay vào việc được sử dụng để đóng góp cho ngân sách, lại chạy vào túi các quan chức chính phủ tham nhũng. Như vậy, các nguồn lực không được sử dụng một cách hiệu quả nhất; nói cách khác, chúng chỉ trở nên có hiệu quả nhất đối với các doanh nghiệp có quan hệ tốt và có được hợp đồng với chính phủ.
IX.2 Tiếp tay cho các chính sách và các điều luật sai lầm và vô trách nhiệm

Trong các hệ thống bị tham nhũng, các nhà làm luật thường đưa ra các chính sách và các điều luật không có lợi cho môi trường kinh tế chính trị nói chung. Trái lại, các điều luật và chính sách này thường mang lại lợi ích cho một số ít người thân của các nhà hoạch định chính sách hoặc cho những người mua chuộc các quan chức chính phủ để họ thông qua một điều luật ưu đãi.

IX.3 Mức độ đầu tư thấp hơn

Tham nhũng gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư chắc chắn sẽ xa lánh những môi trường có nạn tham nhũng hoành hành, bởi lẽ tham nhũng sẽ làm tăng chi phí kinh doanh của họ và sẽ hủy hoại sự nghiêm minh của pháp luật. Tham nhũng cũng thường đi đôi với mức độ rủi ro cao, và điều này luôn khiến các nhà đầu tư e ngại.

IX.4 Giảm cạnh tranh và tính hiệu quả

Việc các quan chức chính phủ đòi hối lộ để cung cấp hoặc từ chối các dịch vụ (như cấp môn bài và giấy phép) sẽ hạn chế số lượng các công ty có thể tham gia vào thị trường, tạo ra một môi trường “xin-cho” buộc các công ty không muốn hoặc không có khả năng chi các khoản tiền hối lộ gia nhập vào nền kinh tế phi chính thức. Cơ chế xin-cho thường dẫn đến chủ nghĩa bảo hộ thương mại và cũng dẫn đến thực tế là những đầu vào được sản xuất kém chất lượng hoặc không có hiệu quả sẽ làm giảm năng suất, tính hiệu quả và tính cạnh tranh. Nhìn một cách tổng thể, sự thiếu cạnh tranh gây tổn hại cho người tiêu dùng vì họ phải chấp nhận những hàng hóa hàm chứa tiến bộ công nghệ thấp, những hàng hóa kém chất lượng và phải trả những mức giá cao hơn cho những hàng hóa này.

IX.5 Giảm nguồn thu của nhà nước đối với các hàng hóa và dịch vụ thiết yếu

Trốn thuế – một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với nguồn thu ngân sách của chính phủ – là hiện tượng phổ biến tại các quốc gia có nạn tham nhũng hoành hành. Lý do là các doanh nghiệp trong khu vực phi chính thức không báo cáo lợi nhuận của họ và kéo theo đó là hiện tượng trốn thuế. Ngoài ra, các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực kinh tế chính thức cũng sẽ chi các khoản tiền hối lộ thay vì đóng thuế khi cơ quan thuế có hiện tượng tham nhũng hoặc khi cơ hội vi phạm luật thuế trở nên lan tràn. Hơn nữa, các viên chức chính phủ tham nhũng cũng chiếm đoạt các khoản phí và tiền thuế mà họ thu được từ các doanh nghiệp lẽ ra phải được nộp vào ngân sách nhà nước. Hiện tượng này làm giảm nguồn thu mà chính phủ cần để cung cấp các hàng hóa và dịch vụ thiết yếu.

IX.6 Tăng chi tiêu công cộng

Các dự án đầu tư công cộng thường tạo nhiều cơ hội để các quan chức chính phủ nhận hối lộ. Đơn giản là để có nhiều cơ hội nhận được những lợi ích trực tiếp mỗi khi cung cấp một hợp đồng cho các “chiến hữu”, các quan chức chính phủ sẽ tìm mọi cách để có càng nhiều dự án đầu tư công cộng càng tốt. Trên thực tế, những vụ bê bối kiểu này không chỉ xảy ra ở các nước đang phát triển và có nạn tham nhũng hoành hành mà còn xảy ra tại nhiều quốc gia phát triển, nơi mà nạn tham nhũng hoành hành ít hơn. Tại nhiều quốc gia, đôi khi còn xảy ra trường hợp các dự án được cấp cho các “chiến hữu” không bao giờ kết thúc được do nguồn vốn nhà nước bị ăn cắp. Tham nhũng cũng là nguyên nhân gây ra việc quản lý yếu kém các dự án đầu tư công cộng, khiến cho thâm hụt công khố trở nên trầm trọng và đe dọa giảm tính hiệu quả của chính sách tài chính của nhà nước.

IX.7 Giảm năng suất và không thúc đẩy được sự sáng tạo

Trong các hệ thống tham nhũng, các cá nhân và công ty thường dành thời gian và nguồn lực để tiếp tay cho nạn tham nhũng (đưa hối lộ, nuôi dưỡng quan hệ với các quan chức tham nhũng) hơn là để đẩy mạnh các hoạt động phát triển. Ngoài ra, tham nhũng cũng kìm chế sáng tạo vì các hệ thống tham nhũng thường thiếu các quy định của các thể chế pháp luật nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

IX.8 Tăng chi phí kinh doanh (được coi như một khoản thuế đối với hoạt động kinh doanh)

Thời gian và tiền bạc để hối lộ các quan chức chính phủ và để xoay sở với các điều luật phức tạp sẽ làm tăng chi phí kinh doanh. Các chi phí này sẽ được chuyển sang cho người tiêu dùng thông qua việc tăng giá bán hoặc sản xuất ra các sản phẩm chất lượng thấp, hoặc trở thành vật cản đối với các công ty muốn gia nhập thị trường. Ngoài ra, các hệ thống tư pháp tham nhũng cũng sẽ hạn chế khả năng thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp, cản trở các hoạt động bình thường và làm mất đi các cơ hội mới.

IX.9 Giảm mức độ tăng trưởng

Tham nhũng gây tác động tiêu cực đối với các doanh nghiệp nhỏ vì các chi phí về thời gian và tiền bạc cho các quan chức chính phủ tham nhũng trở nên quá sức đối với các doanh nghiệp nhỏ hơn là đối với các doanh nghiệp quy mô lớn. Nói chung, các doanh nghiệp nhỏ thường khó tránh được nạn tham nhũng, và những doanh nghiệp này có xu hướng hoạt động trong những môi trường cạnh tranh cao, vì thế, họ không thể chuyển chi phí dùng cho hối lộ lên vai người tiêu dùng. Vì vậy, trong một môi trường tham nhũng, các doanh nghiệp nhỏ rất khó tồn tại và điều này làm tổn hại đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế vì các doanh nghiệp nhỏ chính là động lực phát triển của hầu hết các nền kinh tế trên thế giới.

IX.10 Giảm cơ hội việc làm trong khu vực tư nhân

Tham nhũng buộc các doanh nghiệp phải gia nhập khu vực phi chính thức, tạo ra các rào cản đối với việc gia nhập thị trường và làm tăng chi phí kinh doanh; do đó làm giảm cơ hội việc làm trong khu vực tư nhân vì các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tăng trưởng và mở rộng quy mô.

IX.11 Giảm số lượng công việc có chất lượng trong khu vực nhà nước

Các chính phủ tham nhũng thường đưa ra các cơ hội việc làm được trả lương thấp nhằm bảo trợ cho các thành phần quan trọng. Ngoài ra, chất lượng của các nghề nghiệp trong khu vực nhà nước cũng thường rất thấp tại các nền kinh tế có nạn tham nhũng hoành hành, bởi lẽ các quan chức chính phủ thường dành các nguồn lực để moi tiền hối lộ hơn là để cung cấp dịch vụ. Ví dụ, trong nhiều trường hợp, tại các cơ quan cấp giấy phép, các viên chức thường trì hoãn và kéo dài thủ tục cấp phép nếu họ không nhận được tiền hối lộ hoặc quà biếu.

IX.12 Tăng nghèo đói và bất bình đẳng

Tham nhũng làm giảm thu nhập tiềm năng của những người nghèo vì nó khiến khu vực tư nhân tạo ra ít cơ hội việc làm hơn. Ngoài ra, thông qua việc hạn chế chi tiêu trong các dịch vụ công cộng, tham nhũng cũng làm gia tăng bất bình đẳng – nó hạn chế cơ hội tiếp cận của người nghèo đối với các nguồn lực quan trọng như chăm sóc y tế và giáo dục.

IX.13 Xói mòn tính nghiêm minh của pháp luật

Tham nhũng tạo ra một nền văn hóa trong đó các quan chức chính phủ không phải chịu trách nhiệm đối với những việc họ đã làm. Ngoài ra, trong một hệ thống tham nhũng, luật pháp và các quy phạm pháp luật trên giấy tờ không được thực thi một cách thích hợp, nhất quán và công bằng. Các vấn đề được giải quyết không phải dựa trên luật pháp mà phụ thuộc vào việc bạn quen biết những ai và sẵn sàng chi ra bao nhiêu tiền.

IX.14 Gây trở ngại cho các cải cách dân chủ theo định hướng thị trường

Để xây dựng thành công nền kinh tế thị trường và xã hội dân chủ, các quốc gia cần phải xây dựng và phát triển các thể chế có khả năng thực thi pháp luật và bảo đảm tính minh bạch của chính phủ, kể cả quá trình hoạch định chính sách. Trong các hệ thống tham nhũng, việc thực hiện yêu cầu này và việc xây dựng các thể chế như vậy là một nhiệm vụ hết sức khó khăn. Các quan chức chính phủ tham nhũng có trách nhiệm thực hiện cải cách nhưng lại tìm mọi cách để tư lợi từ các khoản hoa hồng và các khoản tiền hối lộ. Ngoài ra, do nó hạn chế sự tham gia của dân chúng, tham nhũng còn làm xói mòn tính hợp pháp của các cơ quan nhà nước và làm tổn thương tiến trình dân chủ vì nó không khuyến khích sự tham gia của người dân.

IX.15 Tăng bất ổn định chính trị

Nạn tham nhũng hoành hành sẽ làm tăng bất ổn định chính trị vì người dân luôn muốn thay đổi các lãnh đạo tham nhũng vì họ là những người không thể đại diện cho lợi ích của nhân dân.

IX.16 Tăng tỷ lệ tội phạm
Tham nhũng nuôi dưỡng một hệ thống có thái độ coi thường luật pháp cao và tạo ra một xã hội trong đó hệ thống lập pháp, tư pháp và các thể chế thi hành pháp luật đều không có hiệu quả. Trong các hệ thống tham nhũng, tội phạm rất dễ dùng tiền để chạy tội. Tham nhũng không chỉ dẫn đến tội phạm chính trị và tội phạm tập thể mà còn tạo điều kiện thuận lợi các các hình thức tội phạm có tổ chức.

Trích từ tạp chí Cải cách Kinh tế, số 0409, ngày 22/9/2004, bản quyền năm 2004 của, Trung tâm Doanh nghiệp Tư nhân Quốc tế.

Các quan điểm trong bài báo này không phản ánh quan điểm hay chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.

***

 

X. Sôi sục chống tham nhũng giả hiệu

Tham nhũng tại Việt Nam trở thành chuyện thường ngày bao trùm mọi lĩnh vực như địa chính – nhà đất, hải quan, cảnh sát giao thông, đó cũng là những ngành tham nhũng phổ biến nhất cùng những phong trào hô hào chống tham nhũng vô cùng to lớn nhưng kết quả không chỉ ‘vũ như cẩn’, song kẻ tham nhũng càng được thăng quan tiến chức mạnh mẽ hơn trên đường tham quan! Đó là đặc điểm của tham nhũng của Việt Nam mà các thế hệ về sau cần nghiên cứu!

Trích nguồn Tuổi Trẻ, Thứ Năm, 01/12/2005

“Điểm sôi sục: chống tham nhũng”

Cùng nằm trong bảng “top 10”, ngoài ba nhóm trên, còn có bảy lĩnh vực khác là tài chính – thuế, xây dựng, cấp phép xây dựng, y tế, kế hoạch – đầu tư, giao thông và đứng cuối bảng là công an kinh tế.

Theo tiến sĩ Nguyễn Văn Quyền – phó trưởng Ban Nội chính trung ương, giám đốc Ban quản lý dự án, cuộc điều tra trên được tiến hành tại bảy tỉnh, thành phố là Hà Nội, TP.HCM, Hải Dương, Nghệ An, Thừa Thiên-Huế, Sơn La, Đồng Tháp và ba bộ Công nghiệp, Xây dựng, Giao thông vận tải.

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện 105 cuộc hội thảo ở 10 tỉnh và bộ; 20 quận, huyện, tổng công ty; 42 xã, phường, đồng thời phỏng vấn bằng bảng hỏi 5.407 cán bộ công chức, cán bộ doanh nghiệp và người dân.

X.1 Nhiều người biết, nhưng ít người tố cáo

Về thực trạng tham nhũng, nhóm nghiên cứu xác định 17 hành vi tham nhũng để tiến hành phỏng vấn. Theo đó trên 1/3 số công chức cho hay đã chứng kiến hành vi trực tiếp nhận hối lộ và sử dụng phương tiện của cơ quan phục vụ nhu cầu cá nhân, gia đình.

Khoảng 20-30% số công chức đã chứng kiến việc mời người có chức quyền đi du lịch, ăn uống, vui chơi để vụ lợi. Đồng thời chứng kiến người có chức quyền bố trí, đề bạt, tuyển dụng người không đủ tiêu chuẩn để vụ lợi; gọi điện, viết thư tay can thiệp nhằm mưu lợi cho người thân quen; lấy tiền bạc, tài sản cơ quan biếu, tặng, cho người khác nhằm mưu lợi cá nhân…

Khoảng 15-20% công chức chứng kiến (trong vòng một năm qua) việc thỏa thuận tăng giá trị hợp đồng để nhận tiền trích “phần trăm” từ bên B; cố tình tạo ra các lý do để các cá nhân, đơn vị dưới quyền phải tặng tiền, quà; lấy danh nghĩa phân phối hoặc bán rẻ để biến tài sản, đất đai, nhà cửa, văn phòng của cơ quan thành của riêng…

Trên 40% công chức ở ba bộ được điều tra cho biết họ đã chứng kiến hành vi người có chức vụ, quyền hạn cố tình gây khó khăn khi giải quyết công việc để buộc người cần giải quyết phải chi tiền hoặc quà biếu. Gần 25% số cán bộ doanh nghiệp cho biết đã chủ động hối lộ, đưa tiền, quà vì nhiều lý do khác nhau.

Theo nhóm nghiên cứu, trong năm qua các tỉnh, thành và các bộ được khảo sát đều có đơn thư tố cáo tham nhũng, nhưng số người bị tố cáo tham nhũng “ít hơn rất nhiều so với số hành vi tham nhũng mà cán bộ công chức đã chứng kiến trong năm”.

Ai cũng biết là có “tảng băng” tham nhũng, nhưng “không ai thấy được tảng băng to lớn như thế nào vì nó còn ẩn khá lớn” – tiến sĩ Nguyễn Đình Cửu (thuộc Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, thành viên nhóm nghiên cứu) nhận xét.

Mặt khác, cuộc khảo sát đã chỉ ra: gần 85,4% cán bộ công chức và 78,2% cán bộ doanh nghiệp không tích cực đấu tranh chống tham nhũng vì sợ bị trù dập; 61,9% cán bộ công chức cho rằng người tố cáo, phát hiện tham nhũng không được khen thưởng cũng là nguyên nhân khiến họ không tích cực đấu tranh.

X.2 Doanh nghiệp: chi phí “đen” tới 10%!

Đây chỉ là con số chính thức, thực tế gấp nhiều lần hơn và có thể hơn nữa!

Điều tra cán bộ doanh nghiệp về các khoản chi phí “đen” mà doanh nghiệp phải bỏ ra thêm, nhóm nghiên cứu xác định có 8% số người được hỏi đánh giá những khoản chi này chiếm từ 1-10% tổng chi phí của doanh nghiệp, riêng TP.HCM lên tới 13%.

Nhận diện về các thủ đoạn tham nhũng, nhóm nghiên cứu cho biết 56% người được hỏi cho rằng nhiều nhất là cố tình kéo dài thời gian giải quyết công việc; kế đến là không hướng dẫn cụ thể, cố tình soi xét, bắt lỗi (44,7%); bám vào các qui định không rõ ràng, bắt bí doanh nghiệp (38,8%).

Trong những trường hợp bị gây khó khăn, cách xử sự của doanh nghiệp là phải có tặng quà (54,9% số người được hỏi), hối lộ cho cán bộ trực tiếp (46,3%) và hối lộ trước khi có công việc (23,5%).

Đáng lưu ý, 48,9% số người được hỏi thừa nhận đã từng đưa tiền (quà biếu, hối lộ), kể cả khi không bị gợi ý, vì đây là cách giải quyết “nhanh nhất, dễ nhất”. Điều này cho thấy tham nhũng là “kết quả của cách hành xử ở cả hai phía chứ không chỉ là một phía công quyền”.

Theo khảo sát, tỉ lệ người dân trả lời “phải nộp tiền” cho từng cơ quan, từng dịch vụ ở các tỉnh đều khá cao. Người dân phải mất tiền để “được việc”, theo nhóm nghiên cứu, phổ biến nhất là khi vi phạm luật giao thông (57%), kế đến là ở viện kiểm sát và tòa án (50%).

N.V.HẢI

***

XI. Tham nhũng thể hiện qua sự cách biệt sâu xa giữa bộ mặt thành thị và nông thôn

Thay đổi sâu sắc về tiêu dùng ở các đô thị đã đảo ngược hình ảnh về Việt Nam ở nước ngoài là một vùng đất nghèo.

Đó là một trong các nhận định của phóng viên Margot Cohen thuộc tạp chí Far Eastern Economic Review (FEER).

Trong ấn bản mới nhất của tờ FEER, bài báo của Margot Cohen, với tựa đề New Taste for the Good Life ghi nhận những đổi thay trong thói quen tiêu dùng của tầng lớp trung lưu ở Hà Nội và TP. HCM.

Trong một phòng trưng bày đồ gia dụng sáng loáng, một biểu ngữ mời gọi khách hàng tìm “Những cách đơn giản làm nên sự khác biệt” trong trang trí nội thất ngôi nhà của họ. Bạn hãy thử chi 2500 đôla cho một ghế xôpha bằng da màu đỏ với các chiếc ghế đồng bộ, hay 11.000 đôla cho một tivi màn hình phẳng 50 inch.

Những bảng giá như thế có vẻ vô lý ở Việt Nam, nơi thu nhập bình quân chính thức hàng năm là 480 đôla. Nhưng những doanh nhân như Nguyễn Chí Dũng biết rằng khao khát tiêu dùng tại thủ đô Hà Nội đã vượt quá ngưỡng đạm bạc đó. Ông Dũng, giám đốc Công ty tư nhân An Dương vừa mở phòng trưng bày rộng 2000 mét vuông hồi tháng 10, nói: “Thanh niên và người trung niên hiện có nhiều tiền hơn và đang tìm kiếm những phong cách hiện đại”.

Mức tiêu dùng ở Hà Nội có thể còn cao hơn ở TP. HCM

Thay đổi sâu sắc về tiêu dùng ở các đô thị đã đảo ngược hình ảnh về Việt Nam ở nước ngoài là một vùng đất nghèo. Đối với giới trung lưu ở Hà Nội và TP.HCM, việc mua sắm máy vi tính, mobile phone, máy giặt và các chuyến du lịch nước ngoài trọn gói là chuyện bình thường.

Nhiều yếu tố giải thích cho sự tiêu dùng quá độ dễ thấy này. Một số nhà phân tích chỉ ra mối liên kết giữa tham nhũng và sự bùng nổ đầu cơ bất động sản.

Nhưng không phải tất cả tiền bạc đều kiếm từ những cách buồn cười như vậy. Sự tăng trưởng nhanh chóng của khu vực tư doanh trong bốn năm qua ở Việt Nam đã đem lại cho nhiều gia đình ở thành phố nhiều tiền hơn bao giờ hết. Phần lớn số của cải này không tìm thấy trong các thống kê chính thức vì tình trạng trốn thuế lan tràn và sự tồn tại của một nền kinh tế ngầm.

Ralf Matthaes là giám đốc điều hành của Taylor Nelson Sofres, chi nhánh ở TP. HCM của tập đoàn nghiên cứu thị trường toàn cầu. Ông nói là “thu nhập sau khi trừ thuế đã tăng ở mức độ kỷ lục” từ 1999 đến 2004.

Ở một khảo sát của Taylor Nelson làm tháng Ba 2004, 1200 người thuộc mọi thành phần xã hội ở Hà Nội và TP. HCM nói rằng trung bình, thu nhập sau khi trừ thuế chiếm 55% tổng thu nhập của họ. Con số đó tăng so với 18% trong một khảo sát tương tự năm năm trước. Cũng trong khảo sát hồi tháng Ba, mức tiết kiệm chiếm 26% tổng thu nhập, tăng so với 17% của khảo sát lần trước. Trong khi đó, số tiền chi dùng cho những khoản như rau quả, vật dụng nhà tắm….giảm chỉ còn 19% so với 65% của năm năm trước đây.

XI.1 Mức thu nhập và thực tế trên thị trường tiêu thụ

Các kinh tế gia ở Ngân hàng Thế giới (WB) đã có những tính toán giật mình khi đo lường mức tăng trưởng sức mua ở hai thành phố lớn của Việt Nam. Họ giả định một đôla ở Việt Nam có trị giá gấp năm lần so với một đôla ở Hoa Kỳ so giá trị hàng hóa và dịch vụ mà đồng tiền mua được.

Kết quả, họ cho hay một hộ gia đình trung bình bốn người ở TP. HCM hay Hà Nội tiêu hết 20.000 đôla trong năm 2002. Rob Swinkels, chuyên viên kinh tế về vấn đề giảm nghèo của WB ở Việt Nam, nói: “Con số đáng kinh ngạc.”

Bạn có biết rằng cửa hàng bán đồ da Louis Vuitton ở Hà Nội sẽ mở rộng diện tích bán hàng gấp ba lần để đón Giáng sinh sau khi họ tính toán là mỗi tuần đã có khoảng 170 khách hàng dạo qua cửa hàng này.

Có lẽ ví dụ ấn tượng nhất về hiện tượng tiêu dùng được tìm thấy ở thị trường cho toilet. Toto, nhà sản xuất hàng vệ sinh Nhật Bản, đã mở nhà máy trị giá 29 triệu đôla hồi tháng Bảy ở Hà Nội. Nó tập trung vào mặt hàng toilet có giá có thể lên tới 420 đôla. Các phòng triển lãm và những quảng cáo tivi bắt mắt nhằm tận dụng sự giàu có mới và là một phần trong chiến lược của Toto xây dựng một nhãn hiệu cao cấp.

Ông Hiromoto Harano, phụ trách bộ phận bán hàng của Toto Vietnam Co., nhận xét: “Khách hàng giàu có bước vào cửa hàng và hỏi đâu là kiểu toilet đắt tiền nhất? Rồi họ nói “Được đấy, tôi sẽ lấy hai hoặc ba cái.” Một số nhân viên bán hàng Việt Nam còn giúp khách hàng đọc các chỉ dẫn tiếng Nhật trên một bảng điều khiển từ xa một nhà vệ sinh trị giá 3000 đôla được nhập khẩu. Một người chủ của một phòng triển lãm Toto ở Hà Nội nói rằng sản phẩm khiến cho các khách hàng cảm thấy “tự hào về bản thân.”

XI.2 Khoảng cách nông thôn – thành thị là một sự cách biệt sâu xa

Kiểu chi tiêu như vậy vượt xa chi tiêu ở nông thôn. Nếu dùng cán cân sức mua ngang giá, người ta thấy một hộ gia đình bốn người ở nông thôn sẽ tiêu khoảng 2560 đôla vào năm 2002. Bằng cách tính này, Ngân hàng thế giới ước tính là chi phí trung bình của hộ gia đình ở Hà Nội và TP. HCM cao gần tám lần so với khu vực nông thôn.

Các nhà phân tích cho là mặc dù khoảng cách giữa đô thị và nông thôn ở Việt Nam ngày một gia tăng, nhưng nó chưa đến mức khủng khiếp như ở nước láng giềng Trung Quốc. Trong nhiều năm qua, nhiều người dân nông thôn đã mua được một số hàng hóa cơ bản như tivi và xe máy Trung Quốc rẻ tiền. Họ cũng dành tiền cho việc sửa hoặc cơi nới nhà ở. Và ngoại trừ các hộ gia đình người thiểu số ở các vùng heo hút ở Việt Nam, các gia đình nông thôn cũng hưởng lợi từ tiền gửi về của gia đình hải ngoại cũng như tiền mang về của những người nhập cư vào Hà Nội và TP. HCM.

60% doanh số mặt hàng gia dụng và cá nhân của công ty Unilever của Anh – Hà Lan là bán cho người ở nông thôn. Tuy vây, đối với đa số nhà sản xuất, khoảng cách tiêu dùng nông thôn – thành thị là một lo ngại. Tổng dân số của Hà Nội và TP. HCM chỉ là khoảng 10 triệu người trong tổng số 82 triệu dân ở Việt Nam. Các thành phố nhỏ hơn như Hải Phòng và Đà Nẵng đang thu hẹp khoảng cách, nhưng người dân ở đó vẫn chưa có mức tiêu dùng bằng hai thành phố lớn kia.

Một chi tiết không phải là bí mật gì, đó là các quan chức cao cấp ở Hà Nội giữ quyền kiểm soát hàng tỉ đôla tài trợ nước ngoài và nắm quyền cấp giấy phép với giá không nhân nhượng cho cả các công ty nước ngoài và địa phương. Nhưng thay vì khư khư giữ “chiến lợi phẩm”, thì việc chia sẻ là một quy tắc để ngăn chặn rủi ro chính trị. Ralf Matthaes, từ Taylor Nelson Sofres, nói “Tham nhũng xuyên suốt cả hệ thống khi mà càng lúc càng nhiều người dính phần chia món bánh.” Những món quà tặng như mobile phone, đồng hồ hay đồ bếp mắc tiền là điều bình thường trong giới quan chức.

Đối với các nhà quảng cáo nước ngoài, một chiến thuật là hướng tiền của người tiêu dùng ở các khu đô thị vào các nhãn hiệu nhất định. Nhu cầu đó khiến ngân sách cho quảng cáo đang tăng lên, dự kiến ở khoảng 230 triệu đôla trong năm nay, cao hơn so với 124 triệu đôla năm 2001.

Nhưng lòng kiêu hãnh đôi khi nhường chỗ cho sự khôn ngoan. Khi đảng Cộng sản mở chiến dịch chống tham nhũng, một số khách hàng nghĩ rằng có thể nguy hiểm nếu trưng ra quá nhiều của cải. Vì thế thay vì xuất hiện ở các cửa hàng mắc tiền, một số người nhờ đến nhân viên bán hàng chuyển hàng đến nhà họ.

Việc mua hàng ở nhà đang giúp tăng doanh thu tại ba cửa hàng của nhãn hiệu đồ lót Pháp Aubade, nơi mà giá một món đồ ren có thể cao hơn thu nhập sáu tháng của một nông dân. (Một cửa hàng Aubade thứ tư sẽ mở tại TP. HCM vào cuối năm nay). Tương tự, một số khách thường xuyên của Louis Vuitton yêu cầu túi xách của họ được đưa đến nhà và gói bằng giấy thường. Một người bán hàng giải thích: “Họ không muốn phô trương.”

 

***

 

 

XII. Xóm nghèo nơi đô thị

 

William Horsley

 

Trong cuộc chiến Việt Nam, Sài gòn không chỉ là một bãi chiến trường mà còn được coi như một nơi đầy cám dỗ, điểm gặp gỡ lạ lẫm giữa Đông và Tây.

Nay, với cái tên chính thức là Thành phố Hồ Chí Minh, nơi này đã trải qua gần ba mươi năm hòa bình. Thành phố Hồ Chí Minh tiêu biểu cho sự hồi sinh của đất nước Việt Nam, tràn đầy nhiệt huyết và người dân nhiều nơi cũng bắt đầu có tiền.

Thế nhưng những khu ổ chuột vẫn còn tồn tại như một sự gợi nhớ không dễ chịu về cuộc chiến trước kia.

Từ 15 năm trước người ta đã bắt đầu nỗ lực dẹp bỏ các khu này, nơi mà tới tận bây giờ hàng trăm ngàn người vẫn làm nơi cư ngụ.

Những khu ổ chuột này mọc lên từ thời chiến, khi nông dân từ các tỉnh tràn về thành phố để tránh đạn bom và chiến cuộc. Phần đông số họ ngụ tại các khu ẩm thấp dọc theo hệ thống bốn con kênh chính của Sài gòn.

Những con kênh này là nhánh của sông Sài gòn, nước đầy hay cạn theo mùa mưa. Chúng chạy ngoằn ngoèo theo hướng Tây và hướng Bắc.

Kênh Thị Nghè len lỏi vào tận gần trung tâm thành phố, trên một bờ kênh là một khu ổ chuột , nơi người dân sống dưới mức nghèo khổ chính thức là vào khoảng 1USD một ngày.

Nơi đây nạn ma túy, tội phạm và mại dâm hoành hành. Đàn ông nhiều người phải đi đạp xe xích lô kiếm tiền nuôi gia đình.

XII.1 Hàng triệu người thành phố vẫn còn trong điều kiện sinh hoạt khó khăn

Trong lòng các xóm nghèo này cuộc sống thật là nhộn nhịp. Phụ nữ chẻ tre, bán trái cây hay là làm ruột cá trong những chiếc xô nhựa đặt ngay trên mặt đất. Đàn ông thì thu gom sắt vụn, hay sửa chữa những căn nhà dột nát của họ.

Con kênh bốc mùi vì cả rác thải của người và rau quả thối rữa. Ở bên trong những căn lều, các ông bà già ngồi hoặc nằm trên những chiếc ván nhỏ hẹp.

Nước kênh nhiều khi vỡ bờ và gây ngập lụt, nhất là vào mùa mưa. Những khi đó bùn phủ vùi và làm lây lan dịch bệnh.

XII.2 Giá nhà đất ‘trên trời’

Dự án xóa bỏ các khu ổ chuột ở Sài gòn là một chương trình lớn, và trong lĩnh vực này thì thành phố đang làm gương cho cả nước.

Ngân hàng Thế giới đã khen ngợi Việt Nam về thành tích xóa đói giảm nghèo và Việt Nam ngày càng nhận thêm nhiều trợ giúp của quốc tế trong tiến trình mở cửa của mình.

Chính quyền đã bố trí nơi ở mới cho hơn 35 ngàn dân trong vòng mười năm trở lại đây.

Thế nhưng ông Lương Văn Lý từ Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hồ Chí Minh nói rằng vẫn còn 50 ngàn dân đang trong diện chờ sắp xếp và phần đông số họ sẽ được chuyển sang sống tại những chung cư cao tầng ở ngoại vi thành phố.

Quá trình này có thể sẽ kéo dài nhiều năm. Theo ông Lý vấn đề lớn nhất là ở chỗ tìm nguồn tài chính để bồi thường giải tỏa đất đai cho cư dân các xóm nghèo này.

Kinh tế thành phố đang tăng trưởng vượt bậc và do vậy giá đất đai cũng cao chưa từng thấy.

Chính quyền tỏ ra nhạy cảm về vấn đề các khu ổ chuột. Người ta không cho phép BBC được phỏng vấn dân cư ở các khu tồi tệ nhất, thí dụ như xung quanh kênh Thị Nghè vậy.

Ngược lại, họ chọn cho xem những khu đã được giải tỏa.

Một khu nằm trong vùng kênh Nhiêu Lộc, ngay trên con đường mà khách từ sân bay Tân Sơn Nhất đi vào thành phố.

XII.3 Tham nhũng gây hậu quả ô nhiễm môi trường

Trong những khu đó nước thải vẫn chảy thẳng xuống kênh và lưu thông trong thành phố

Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã tới thăm khu này vào bốn năm trước, để xem tiến triển tới đâu.

Khu này nay là một phần của Dự án Cải tạo Đô thị có mục đích cung cấp nước sạch và điều kiện vệ sinh cho 1,5 triệu dân cư Sài gòn, những người vẫn còn chưa được hưởng các điều kiện như vậy.

Ngày hôm nay bờ kênh được trồng cây. Nhà cửa hai bên đều được xây mới. Thế nhưng nước kênh thì vẫn ô nhiễm nặng.

Ông Lê Hùng Vọng, nhà báo của tờ báo tiếng Anh Vietnam News, giải thích rằng các khu nhà mới được nối với một hệ thống nước thải hiện đại. Thế nhưng các khu ổ chuột còn tồn đọng thì vẫn chưa được hưởng điều này.

Trong những khu đó, nước thải vẫn chảy thẳng xuống kênh, và do vậy vẫn lưu thông lại nhiều nơi trong thành phố.

“Trước năm 1950,” ông Vọng nói “người dân ở kênh Nhiêu Lộc này nói nước sạch tới nỗi họ có thể tắm được”.

Và phải còn bao lâu nữa thì người ta mới lại có thể tắm trong dòng kênh Nhiêu Lộc?

“Có lẽ khoảng 2020,” ông Vọng nhận định “Lúc đó chắc người ta có thể bơi được. Không còn mùi hôi nữa”.[1]

***

XIII. Tham nhũng: Vai trò giới trung lưu và chính trị ở Việt Nam

 

Trần Minh Thảo
Việt Nam

 

Bài viết lấy cảm hứng sau khi đọc tóm tắt trên BBC về tiểu luận của tiến sỹ Martin Gainsborough, một người Anh nghiên cứu về Việt Nam.

Bài nghiên cứu “một cái nhìn…” tác giả kết luận khá lạc quan. Hệ thống cai trị ở Việt Nam tự nới lõng dần sự độc quyền.

Tiên đoán đó có thể đúng nếu cũng trong tương lai gần đảng cộng sản Việt có chủ trương, biện pháp xử lý đúng đắn các vướng mắc từ hai sức ì: liên minh quyền tiền và cơ chế tổ chức quyền lực cai trị.

Nhiều người trong nước ít nhiều còn thiện cảm với đảng Cộng sản cũng muốn dân chủ thực sự xảy ra là kết quả của cuộc đấu tranh giữa các thế lực bảo thủ trì trệ và tiến bộ ở trong đảng. Đó là cách thiết lập nền chính trị dân chủ an toàn nhất, ít gây ra đỗ vỡ nhất mà uy tín của đảng Cộng sản ít bị tổn thất nhất. Những người này nói: Làm được như vậy là đảng Cộng sản tiếp tục lập công và có được cảm tình của quần chúng ở cả hai đầu của sự phận hóa xã hội. Sự đấu tranh đó đang xảy ra, không ồn ào nhưng quyết liệt. Đó là cuộc đấu tranh giữa các nhận thức về quyền lực.

Bài viết cũng giới thiệu rất chi tiết tình trạng phân hóa trong xã hội Việt nam dưới sự cai trị của đảng. Có một cái tên khác về sự phân hóa xã hội mà văn phong Mác xít thường dùng: Tầng lớp trên, tầng lớp dưới.

Bài viết cũng có một nhận xét đúng khi cho là tầng lớp trên gắn chặt với sự cai trị của đảng.. Trước đây những người dân chủ đối lập nói: Việt Nam nằm dưới sự thống trị của liên minh quyền tiền (tầng lớp trên). Liên minh đó đang phá hoại đất nước. Đảng Cộng sản gọi những người ấy là bọn phản động, gián điệp, tay sai nước ngoài và khẳng định đảng chỉ có liên minh công nông. Do đó, đảng Cộng sản không tập trung giải quyết đúng đắn các vấn đề khúc mắc của xã hội do liên minh đó gây ra. Tình hình chính trị kinh tế xã hội phát triển vượt khỏi tầm tay của đảng. Bọn phản động ngày càng nhiều và trẻ hóa. Đảng nói tình hình chính trị, xã hội diễn biến phức tạp.

Dân chủ về chính trị ở Việt Nam sẽ đến từ chỗ ai là người có khả năng giải quyết đúng đắn cái liên minh quyền tiền ma quái và mối quan hệ hài hòa giữa tầng lớp trên và tầng lớp dưới trong xã hội Việt Nam. Giải quyết vấn đề ấy thuộc về cơ chế, không phải là việc thiện hay lòng tốt.

Quá trình hình thành tầng lớp trên ở Việt Nam có thể khác với các nước tư bản khác, là đặc thù của chỉ một số nhà nước xã hội chủ nghĩa. Những người chủ trương dân chủ đối lập đề xuất các biện pháp làm trong sạch mối quan hệ quyền tiền. Vì những đề xuất ấy phá vỡ sự gắn bó mờ ám giữa quyền và tiền, do đó làm cho tầng lớp dưới trong xã hội có cơ may thăng tiến. Đảng nói những những người ấy là bọn phản động.

XIII.1 Dân chủ là tiền đề

Nghĩ cho cùng thì nếu đảng Cộng sản Việt Nam xử lý đúng đắn mối quan hệ với những người phản động ấy thì sẽ thiết lập được một xã hội công bằng và văn minh.

Dân chủ chính là tiền đề, không phải là kết quả của sự ổn định. Càng ổn định như hiện nay thì sự phân hóa càng sâu sắc, tệ bất công càng phát triển. Đảng Cộng sản đã quên là mấy triệu người Việt nam đổi mạng sống cho đảng nắm quyền chính là vì đảng hứa sẽ giải quyết không nương tay tệ móc ngoặc giữa quyền và tiền làm cho kiếp sống con người trở nên bần cùng, tha hóa, xã hội mất nhân tính.

Độc quyền cai trị làm nảy sinh liên minh quyền tiền, hoành hành rất bá đạo. Phải chăng đó cũng là trách nhiệm của phần tử phản động? Để giải quyết đúng đắn tình hình đất nước, đảng Cộng sản cần tỉnh táo tự đánh giá xem đảng đang thuộc tầng lớp nào trong xã hội, trên hay dưới. Khi đó mới mong nhân dân tin là đảng thực lòng vì nước vì dân.

Bài viết có một tiên đoán gây tranh luận. Tác giả cho rằng sẽ có việc phân quyền thêm cho địa phương. Điều đó hình như không đúng khi thủ tướng chính phủ nói: trên nói dưới không nghe, không thể cách chức thuộc cấp. Như vậy cấp trên có nhu cầu về thực quyền, tập trung quyền lực.

Tình trạng quyền lực nhà nước lôi thôi chính là hậu quả của cơ chế tổ chức kéo dài từ trong cuộc đấu tranh cách mạng 70 năm của đảng Cộng sản Việt nam.

XIII.2 Dân chủ là chuyển đổi

Ba mươi năm sau đổi mới, có nhiều thứ thay đổi. Nhưng có một thứ không thay đổi: cơ chế quyền lực, hệ thống tổ chức cai trị về cơ bản là không đổi mới.

Trong chiến tranh cách mạng như thế nào thì đến nay về cơ bản là không thay đổi. Cơ chế ấy lật đổ thì hay, xây dựng lại không hiệu quả. Đó là kiểu cơ chế giao nhiều quyền chủ động cho cơ sở, rất năng động trong chiến tranh cách mạng chủ yếu là chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị trực diện. Khi hoà bình lập lại cơ chế ấy làm cho quyền lực vốn nên phải thống nhất thì lại phân tán, trên nói dưới không nghe. Tệ trạng đó hạn chế hành động canh tân đất nước, làm cho mọi hoạt động cứ một tiến hai lùi.

Đảng Cộng sản với cơ chế ấy có khả năng quản lý xã hội rất chặt chẽ nhưng ít có khả năng làm đất nước phát triển bền vững.

Tình trạng đó làm cho quyền lực không rõ ràng, hậu quả là sự đổ vấy trách nhiệm cho nhau và cấp dưới thường gánh thay trách nhiệm cho cấp trên, cấp thừa hành chịu trách nhiệm cho cấp ra quyết định.

Ở Việt nam thường nghe giải thích khi có cái xấu nảy sinh: Trung ương thì luôn đúng, không sai, sai trái là do cấp dưới. Có những bản án khá nặng nhưng người dân không cho là nghiêm minh.

Để thiết lập trật tự nhà nước, trên nói dưới phải phục tùng, trên có thể cách chức dưới, đảng phải thiết lập chế độ trung ương tập quyền, giải quyết thỏa đáng mối quan hệ quyền lực trong ngoài, trên dưới và nhanh chóng đổi mới cơ chế tổ chức quyền lực để có một vị tổng công trình sư có thực quyền lãnh đạo điều hành công cuộc phát triển đất nước.

Tập trung quyền lực mà không phải là trung ương tập quyền thì phải làm sao? Các thế lực đảng gọi là cấp tiến phản động chính là chỗ dựa để đảng canh tân quyền lực cai trị. Đối lập chính trị là tấm gương cho đảng tự soi mình. Dân chủ là nếu người này làm sai thì người khác sẽ làm thay. Sai thì sửa, càng sửa càng rối thì dân chủ ở chỗ nào.[1]

XIV. Hội thảo về tình hình VN

Hội thảo Vietnam Update 2004 đã tổ chức trong hai ngày 25 và 26 tháng 11, do Viện nghiên cứu Đông Nam Á và Đại học quốc gia Úc đồng tổ chức.

Chủ đề hội thảo năm nay là ‘Quan hệ đối ngoại và chiến lược’.

Trang web của hội thảo nói họ hi vọng cung cấp thêm hiểu biết về ‘hướng đi hiện tại và tương lai trong chính sách đối ngoại và chiến lược của Việt Nam.’

Một số câu hỏi mà các bài phát biểu sẽ tìm cách trả lời bao gồm: Đâu là những nguyên tắc và cân nhắc chi phối chính sách đối ngoại và chiến lược của Việt Nam? Những nguyên tắc này đã thay đổi thế nào từ giữa thập niên 1980?

Những vấn đề quốc tế nào quan trọng hơn đối với Việt Nam? Quan điểm của Việt Nam về những vấn đề như khủng bố, toàn cầu hóa, nhân quyền…?

 

XIV.1 Không ai nhận mình là cha của kẻ cướp

 

Chúng ta hãy nghe lời của một viên chức CSVN, song cũng là tiếng nói chung dưới sự lãnh đạo của CSVN: Mãi lộ: Lâu nay chưa có CSGT nào vi phạm?

Thượng tá Nguyễn Văn Mưu – phó trưởng Phòng cảnh sát giao thông (CSGT) đường bộ, đường sắt Công an tỉnh Thanh Hóa – đã nói như vậy trong cuộc làm việc với Tuổi Trẻ ngày 7-9.

– Nhưng rõ ràng chuyện mãi lộ của CSGT từ Nam chí Bắc không một người dân Việt nào không rõ!

Ông Mưu cho biết thêm:

–  Khi đọc thông tin trên báo Tuổi Trẻ, lãnh đạo phòng chúng tôi và cả ban giám đốc Công an tỉnh rất bất ngờ, nếu sự việc đúng như thế thì hết sức nghiêm trọng.

– Thưa ông, từ trước đến nay Công an tỉnh và Phòng CSGT đường bộ, đường sắt có nhận được phản ảnh, tố giác của người dân hoặc giới tài xế về những hành vi mãi lộ của cán bộ, chiến sĩ? – Phóng viên hỏi.

– Lâu nay Công an tỉnh Thanh Hóa đã lập đường dây nóng số 037.3725725 để làm kênh tiếp nhận thông tin phản ảnh, tố giác tội phạm và những vi phạm của cán bộ chiến sĩ trong ngành từ người dân. Qua đó nhận được một số thông tin phản ảnh liên quan đến lực lượng CSGT nhưng hầu hết là những phản ảnh không rõ địa chỉ, không rõ sự việc nên không có cơ sở để xác minh, xử lý.

Riêng những tin phản ảnh, tố giác về những sự việc cụ thể như báo Tuổi Trẻ đăng thì chưa có.

 

XIV.2 Tham nhũng lâu nay chưa có CSGT nào vi phạm?

 

Nghĩa là tại Việt Nam ngày nay không có tham nhũng, tất cả trong mối quan hệ giữa dân với đảng – đảng với dân – và chuyện đút lót là do dân dâng lên đảng!

Tại Thanh Hóa cũng như khắp các tỉnh thành chưa  có vi phạm và bị kỷ luật do hành vi mãi lộ?

Theo lời các viên chức thẩm quyền khẳng định: – Nói chung ở Công an tỉnh có một vài trường hợp và đã được xử lý. Còn riêng Phòng CSGT đường bộ, đường sắt thì lâu nay chưa có.

Khi báo Tuổi Trẻ đăng chúng tôi mới biết có sự việc như vậy, liền sau đó giám đốc Công an tỉnh đã họp khẩn và chỉ đạo tạm đình chỉ các cán bộ chiến sĩ có liên quan để xác minh và cử chúng tôi cùng với đồng chí cán bộ phòng công tác chính trị Công an tỉnh vào đây làm việc ngay.

– Đổ lỗi cho nhau, đó là quán tính của những người CS, hệ lụy của sự cai trị trên những nguyên tắc mâu thuẫn, nền tảng của chủ nghĩa Mác! Và nét đặc biệt hôm nay đổ vạ cho giới trẻ!

“Phải nói là trong đơn vị có hơn 150 người, quản lý toàn tuyến quốc lộ dài 98km đi qua địa bàn, có những anh em trẻ hoặc mới về đơn vị nên để xảy ra sai sót.” – Nguyên văn lời các viên chức thẩm quyền tại xứ Thanh Hoa, vốn là cái nôi của văn hóa Việt!

 

XV. Tham nhũng: nỗi xót xa của mỗi người dân và sự ô nhục của Dân tộc!

 

XV.1 Trả giá “chung chi”

TT – Sau khi đọc bài “Nhức nhối nạn mãi lộ: ghê hơn cướp cạn” trên Tuổi Trẻ, chiều 5-9, trung tướng Phạm Quý Ngọ – thứ trưởng Bộ Công an – đã chỉ đạo yêu cầu làm rõ, xử lý nghiêm khắc những cán bộ chiến sĩ sai phạm.

Hầu hết các vụ tai nạn giao thông (TNGT) xảy ra gần đây trên tuyến quốc lộ 1A có liên quan đến các lỗi vi phạm không làm chủ tốc độ, lấn trái, vượt nơi cấm vượt… Trong khi đó, một bộ phận CSGT làm nhiệm vụ trên đường khi phát hiện các lỗi vi phạm đã đòi tiền “làm luật”.

 

XV.2 Mãi lộ: Ghê hơn cướp cạn!

Chiều 30-7, chúng tôi đón chiếc xe tải do tài xế Hải điều khiển từ Bình Định ra Hà Nội. 15g xe lăn bánh qua đèo Cù Mông. Trời bắt đầu mưa tầm tã do ảnh hưởng bão. Chiếc xe chở gỗ vẫn không giảm tốc độ, “trôi” băng băng qua những khúc cua gấp.

– Dính tốc độ, chung tốc hành

Xuống hết đèo, Hải vẫn không giảm tốc độ mà phóng như bay qua khu dân cư đông người. Tôi hỏi “nếu bị dính tốc độ thì sao?”, Hải cho biết áp dụng “luật cưa đôi” mà xử. Ví dụ lỗi dư tốc độ 10-20km/giờ bị xử phạt 1 triệu đồng, nếu chịu “cưa đôi” thì làm luật 500.000 đồng.

21g40 ngày 30-7, xe chúng tôi đến đường tránh TP Quảng Ngãi, “đụng” xe tuần tra 76B-1567 đang lập chốt chặn xe. CSGT tên Nguyễn Văn Thảo thông báo lỗi quá tốc độ 9km (49/40) và hỏi “xe chở gì”. Tài xế nói “gỗ mít, cho làm 1 xị”. Ông Thảo nói “1 xị sao được, riêng gỗ mít đã là 2 xị rồi, còn tiền dư tốc độ 4 xị cưa đôi nữa”. Hải hỏi “tất cả là bao nhiêu sếp”, ông Thảo nói “4 xị”. Hải trả giá “3 xị thôi”, Thảo nhượng bộ “lên làm việc rồi đi”.

Trước đó chiều 22-7, chúng tôi lên một xe du lịch từ Quảng Bình đi Hà Tĩnh. Đến km528 quốc lộ 1A, thị trấn Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), xe chúng tôi bị tổ xử lý vi phạm tốc độ chặn lại. Trung úy Nguyễn Văn Nam thông báo lỗi quá tốc độ 56/50. Một người tên Tiến nói: “Tôi lập biên bản giữ giấy tờ ông nhé”.

Tài xế xin giải quyết nhanh. Ông Tiến ra giá “300”. Tài xế xin bớt, ông Tiến “thôi, hai trăm”. Tài xế móc bóp lấy 200.000 đồng đưa cho ông Tiến. Tiếp đó chiều 31-7, cũng tại địa điểm này, viên đại úy CSGT không đeo bảng tên chặn một xe tải vượt sai quy định. Tài xế nói không để ý biển báo. CSGT ra giá: “Làm 300. Lỗi này đúng ra phạt từ 600-800 cơ”. Tài xế năn nỉ cho làm 200, CSGT chiếu cố “làm nhanh rồi đi”.

Theo cánh tài xế đường dài, qua đất Quảng Bình nếu bị dính tốc độ thì… chung tốc hành là đi. 15g40 ngày 25-7, chúng tôi theo một xe tải khác từ Hà Nội vào TP.HCM. Đến km630 quốc lộ 1A, Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình, xe chúng tôi gặp nhóm CSGT đi xe tuần tra 73B-1627 thổi lại. Một thiếu úy không đeo bảng tên thông báo xe vi phạm tốc độ, lấn tuyến. Tài xế xin bỏ qua. CSGT hỏi “làm bao nhiêu?”, tài xế nói “hai xị được không”. CSGT nói “lỗi này phạt 700, lấy 200 đi xe ôm à”. Tài xế năn nỉ “cho em làm 3 xị”, CSGT nói “làm 4 đi, 3 là đưa vào đó” (3 xị là đưa vào lập biên bản). Tài xế xuống nước “đưa ở đâu?”, CSGT tỉnh bơ “kẹp vào sổ”.

Ở phía nam đèo Lý Hòa (Bố Trạch, Quảng Bình) có cắm bảng hạn chế tốc độ 40 km/giờ. Theo cánh tài xế, một số CSGT đã vin vào lỗi người vi phạm để nhũng nhiễu, làm tiền. Để kiểm chứng, rạng sáng 24-7 chúng tôi theo một xe du lịch từ Hà Tĩnh về Quảng Bình. Đến xã Hồng Thủy, Lệ Thủy (Quảng Bình), xe chúng tôi bị chốt CSGT đi xe tuần tra 73B-2929 chặn lại.

Một CSGT không đeo bảng tên cho biết xe vượt quá tốc độ ở đèo Lý Hòa, phạt 1,5 triệu, lập biên bản mai mốt ra xử lý. Tài xế xin cho “phạt tại chỗ”, CSGT hạ giọng “đề xuất đi, nghe được thì cho đi”. Tài xế xin “làm” 3 xị, CSGT đồng ý “làm đi”. Tài xế móc ví lấy tờ 500.000 đồng đưa cho CSGT, xin thối lại 200.000 đồng. Ông này quát “xin lại hai trăm hả, lập biên bản 2,5 triệu bây giờ”. Nói vậy nhưng CSGT vẫn thối lại cho tài xế 200.000 đồng.

XV.3  “Hạch” cho ra lỗi để… “làm luật”

4g20 ngày 31-7, từ đèo Phú Gia (Phú Lộc, Thừa Thiên – Huế), chúng tôi lên một chiếc xe tải chở 42 tấn gỗ đi Hà Nội (tải trọng thiết kế chỉ 15 tấn). Đến đường tránh Huế, xe bị tổ tuần tra đi xe 75C-7979 ra hiệu tấp vào lề. Ngồi trên xe quan sát, chúng tôi thấy hai CSGT miệt mài chặn xe từ hai chiều để “làm luật”. CSGT (không đeo bảng tên) hỏi “xe chở chi đây”, tài xế nói “gỗ mít”.

Soi đèn pin vào sổ kiểm định, CSGT nói “sao 100 mi” (sao chung có 100.000). Nói rồi CSGT la lớn “lốp sai kích cỡ rồi nì, làm cái biên bản mà đi”. Tài xế than “giấy tờ, bằng lái còn đâu mà lập hả sếp”. CSGT mở đường “làm lại rồi đi”. Tài xế trả treo “hồi nãy chung chốt đầu trong 3 xị rồi, giờ 1 xị là đẹp”. CSGT đứng cạnh xe tuần tra xen vào “3 xị, trạm mô cũng giống nhau hết”. Tài xế kẹp thêm tờ 100.000 đồng đưa cho CSGT này, nói “cho em làm 2 xị”, CSGT cương quyết “3 xị, không tôi phạt đó”. Đến nước này tài xế rút bóp lấy thêm tờ 100.000 đồng đưa tận tay CSGT.

2g ngày 1-8, chúng tôi theo chiếc xe chở 15 khối gỗ gõ đến TP Phủ Lý (Hà Nam) thì gặp chốt CSGT đi ôtô 90B-3999 chặn lại. Một CSGT trẻ hỏi cộc lốc “chở gì”, tài xế nói xạo “gỗ mít”. CSGT liền vạch bạt, dùng đèn pin soi tới soi lui rồi quát “gõ mà bảo là mít à”. Giọng tài xế run run “ra đây hết tiền, em nói xạo để làm nhẹ chút”. Một người tên Cường gằn giọng “cái tội nói dối CSGT là không bao giờ tha”. Tài xế sụt sùi “em biết lỗi rồi, cho em làm luật rồi đi”. Ông Cường quát “đem hết giấy tờ xuống”. Tài xế thú thật “giấy tờ, bằng lái bị công an giữ hết rồi”. Ông Cường dọa “tôi lập ông biên bản quá tải nhá”. Tài xế mếu máo “lần sau em không dám nói dối nữa”.

Ông Cường hỏi: “Bây giờ ông làm thế nào?”. Tài xế thật tình “sếp cho em làm bao nhiêu thì em làm bấy nhiêu”. Ông Cường giơ một ngón tay “làm thế này đi”. Tài xế lạc giọng “gì mà một chai dữ vậy sếp”, ông Cường “chứ sao nữa, 13-14 khối gõ mà”. Tài xế xin bớt chút đỉnh, ông Cường nổi nóng: “Mày đề xuất tao đã giải quyết rồi, mày lại lấn tới nhá. Những tội của ông treo bằng cả đấy”. Tài xế tiếp tục kỳ kèo “bớt cho em 2 xị nha”. Thấy ông Cường chẳng nạt nộ gì, tài xế kẹp 800.000 đồng vào tờ giấy đưa cho ông Cường. Ông này luồn tay vào tờ giấy rút ra một xấp tiền, cuộn chặt vào lòng bàn tay rồi cho vào dưới gầm bàn.

Chiều 10-8, chúng tôi ngồi trên chiếc xe tải từ Phú Yên đi Hà Nội. Tại km703, Hưng Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình, chúng tôi gặp xe tuần tra 73B-2929 ra hiệu dừng lại. Nghe tài xế “tự thú” chở gỗ chiêu liêu, CSGT tên Ngọc đòi lập biên bản. Sau một hồi trả treo, CSGT ngồi trên xe (không đeo bảng tên) ra giá “1 chai”. Tài xế xin bớt chút đỉnh, Ngọc nói “tổ này chỉ kiểm tra một chiều thôi, ngoài kia không dám kiểm tra nữa đâu”. Tài xế cò kè “cho em làm 8 xị đi”, CSGT buột miệng “đưa đây’”.

1g ngày 31-7, khi xe vừa qua trạm thu phí Hòa Phước (Hòa Vang, Đà Nẵng) thì gặp nhóm CSGT đang chặn xe hai chiều để “làm luật”. Một CSGT đứng gần xe tuần tra 43E-1268 hỏi “xe chở gì đây?”, tài xế nói “gỗ”. CSGT thăm dò “chừ răng đây”. Tài xế đưa tờ giấy bên trong kẹp tờ 100.000 đồng. CSGT lắc đầu “chừng ni sao được mi”. Tài xế “chừ sếp muốn răng?”. CSGT ra giá “5 xị”. Tài xế mếu máo “làm rứa chết em sếp ơi, 4 xị được không”, CSGT nói “ừ”.

XV.4 Mãi lộ ở Hà Nội

Tại Hà Nội, nạn mãi lộ càng diễn ra công khai. 18g30 ngày 2-8, chúng tôi lên chiếc xe tải chở sắt từ Hưng Yên về Vinh. Đến gần cầu vượt Phú Thụy (Gia Lâm, Hà Nội), chúng tôi thấy hai CSGT không đeo quân hàm đứng sau xe tuần tra 31A-6439. Tài xế kẹp 40.000 đồng vào sổ đến trình cho CSGT Nguyễn Chí Thành. Ông này mở ra xem rồi quát “lấy giấy tờ xuống”. Biết ý, tài xế nhét thêm tờ 10.000 đồng vào sổ. Ông Thành thấy thế mắng: “Ôi dời ôi, thằng này làm 40, giờ lại 50”. Thấy tài xế xe 34M-3235 chạy đến, ông Thành nói: “Mày đứng đây xem xe 34 bé tí như thế nó còn làm nửa xị. Chúng mày đúng 1 xị, không thì lập biên bản, hiểu chưa”. Tài xế lí nhí “dạ hiểu”.

Tiếp đó, 19g ngày 2-8, xe chúng tôi vừa qua cầu vượt Thường Tín (Hà Nội) thì “đụng” chốt CSGT đi xe tuần tra 31A-8334. CSGT Lê Tâm Đa ra hiệu dừng xe hỏi “chở gì đây?”. Tài xế nói chở sắt, ông Đa phán ngay “làm 100”. Tài xế dặt dẹo “xe vào Nam mà sếp”, Đa cương quyết “vào ra đều 100”. Tài xế hỏi “xe chở trái cây chung bao nhiêu?”, ông Đa “xe này 100, xe to 200”.

13g25 ngày 11-8, chúng tôi lên chiếc xe chở gỗ từ miền Trung đi Hà Nội. Đến km437, Nghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ An, xe chúng tôi bị CSGT Hàn Quốc Huy ra giá “làm 7 lô” (700.000 đồng). Tài xế xin bớt, ông Huy nói “làm một đầu thôi, đầu ngoài không làm”.

Hiện tượng mãi lộ không phải chỉ đơn lẻ mà nó diễn ra mọi nơi mọi lúc. Hầu hết những người tham gia giao thông đều ít nhiều bắt gặp hiện tượng mãi lộ. Nếu chỉ xử lý những người bị báo chí và người dân phanh phui thì e rằng như bắt cóc bỏ đĩa. Có lẽ cần phải xác định trách nhiệm của những người lãnh đạo chỉ huy công an các cấp trước hiện tượng mãi lộ này.

Ví dụ như xảy ra 3 vụ mãi lộ thì trưởng phòng CSGT bị giáng chức hoặc cách chức, xảy ra 10 vụ mãi lộ trên địa bàn thì giám đốc công an tỉnh phải bị giáng chức hoặc cách chức… Nếu lãnh đạo chỉ huy các cấp của ngành công an mà có trách nhiệm thì chắc chắn hiện tượng mãi lộ sẽ giảm đi trông thấy.

Với tư cách là một người có hơn 20 năm lái xe, thật ra khi bài báo của phóng viên Hoàng Khương được dăng tải trên báo Tuổi trẻ thì nạn mãi lộ đã có từ bao nhiêu năm trước, trước khi dọc quốc lộ 1A có đến hơn 10 trạm cân của nghành Giao thông.  Bởi vậy, tôi không thấy bất ngờ với bài báo, mà chỉ bất ngờ với cách xử lý của nghành Công an. Khổ cho người dân thuế chồng lên thuế.

Tiêu đề bài báo hoàn toàn chính xác. Từ hành vi, ngôn ngữ đều đúng là cướp cạn. Chuyện này ai cũng biết. Công an biết, cánh tài xế biết và dân đi xe biết. Điều tồi tệ nhất là chuyện hối lộ và nhận hối lộ đã thành lệ. Cảm ơn Tuổi trẻ Online đã đưa ra những chứng cứ xác thực để nói lên cái điều xưa nay ai cũng biết này.
Nếu đúng như nội dung bài báo đã nêu thì thật đáng buồn thay cho tất cả những ai đang khoác trên mình bộ sắc phục màu lúa chín. Để xảy ra tình trạng “báo động đỏ” trong CSGT như trên, trước hết phải kể đến trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị CSGT đã không quan tâm đến việc kiểm tra, chấn chỉnh, không kiên quyết xử lý đối với các sai phạm về thực hiện quy trình chế độ công tác của cấp dưới (chưa dám nói là có sự bao che, hay có liên quan đến việc chung chi)nên đã để cho”cái sảy” giờ đã nảy thành “cái ung”.[1]

 

– Quả thật, Cộng sản là ung thư của xã hội!

 

XVI. Kết Luận

Tham nhũng: Bất an trong dân, hỗn loạn toàn xã hội

Trong thời gian vừa qua, có gần 2.000 người dân xã Hòa Liên, Huyện Hòa Vang, Đà Nẵng đã tập trung để trình bày những bất cập, vướng mắc và bức xúc của họ với Bí thư Thành ủy Nguyễn Bá Thanh về sự đền bù không hợp lý, mỗi nơi mỗi giá, thậm chí chủ dự án cùng chính quyền thuê côn đồ chém dân, nạn nhân bị tước đoạt đất đai cũng như đang phải chịu ảnh hường nặng nề từ ô nhiễm môi trường.

 

Cụ thể tại xã Hòa Liên, Đà Nẵng có 2.500 – 3.000 hộ dân bị ảnh hưởng do nằm trong vùng dự án, đặc biệt là dự án Golden Hills do Công ty CP Trung Nam làm chủ đầu tư. Dù dự án đang triển khai khá rầm rộ, song cũng bộc lộ nhiều vấn đề phức tạp trong đền bù, giải tỏa, bố trí tái định cư, ô nhiễm môi trường và nghiêm trọng hơn là tình hình xô xát giữa người dân với chủ dự án dẫn đến việc côn đồ chém người dân ngăn cản xe chở đất gây ô nhiễm.

Người dân chỉ còn biết kêu trời trước sự ăn cướp của các cấp chính quyền từ địa phương đến trung ương. Cụ thể Ông Ngô Văn Tước, thôn Quan Nam 5, nói người dân chưa nhận tiền đền bù, chưa bàn giao mặt bằng, nhưng chủ dự án đã đưa xe chở đất đến san lấp ngay cạnh nhà. Bụi bặm, tiếng ồn, đường sá sạt lở, ô nhiễm môi trường trầm trọng… dân không chịu nổi. Chưa hết, cũng theo ông Tước: “Nhiều thôn chưa có quy hoạch, nhưng Công ty CP Trung Nam cũng đổ đất cao, bao vây các khu dân cư, lấp tất cả các lạch, cống thoát. Mùa nắng còn chịu được, chứ mai mốt vào mùa mưa bão, các khu dân cư chắc chắn sẽ biến thành hồ chứa”.

– Ông Phạm Đảm, cũng ở thôn Quan Nam 5, chua chát nói về vấn nạn ô nhiễm do san lấp gây ra: “Bây giờ dân chúng tôi phải ăn bụi, nằm bụi, ngủ bụi. Đến khi mưa xuống lại chịu cảnh ăn nước, uống nước, nằm nước, chứ tránh sao khỏi”.

Tiếng nói của người dân mang đầy bản sắc địa phương trong những nỗi oan khiên về sự tước đoạt, tham ô đến tận ngõ ngách các thôn làng, Cụ Nguyễn Văn Diêm, ở thôn Tân Ninh, bất bình: “Tui không hiểu mấy anh đền bù kiểu chi mà giống y như đi chụp giật. Bữa ni làm vài hộ, giao tiền đền bù, bữa khác lại thêm vài hộ, giấm giấm dúi dúi. Cần dân chủ, công khai chính sách đền bù cho tất cả người dân đều biết để họ kiểm tra, giám sát”.

Từ phong trào hùa nhau đi cướp chính quyền, hệ lụy từ quyền lực trong tay của tầng lớp vô sản lưu manh mà trấn áp đè nén người dân để tham ô, nhũng lạm là một tất yếu!

– Tham nhũng tại Việt Nam: người dân chỉ còn biết ăn bụi, nằm bụi, ngủ bụi dưới sự cai trị của tầng lớp vô sản lưu manh!

 

*Chú thích:

 

[1] Nguồn tổng hợp từ loạt bài về Tham nhũng trên thế giới của đài BBC.

Tham khảo: Tham nhũng chính trị là gì?     http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2004/10/041004_politicalcorruption.shtml

 

Việt Nam: Con thứ trưởng bị bắt giữ

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2004/09/040930_ministerson.shtml

 

Tư bản đỏ: Doanh nhân có thay đổi Đảng?

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/10/041001_redcapitalists.shtml

 

Global Corruption Report

http://globalcorruptionreport.org/

 

Tiết lộ thêm về bê bối ở Bộ Thương Mại

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/story/2004/09/040916_tradecorruption.shtml

 

Nhân quyền và thương mại

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/06/070619_triet_biz_reaction.shtml

 

Tòa ra phán quyết vụ Quán Nam

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2009/03/090303_corruption_trial.shtml

 

Chống tham nhũng vẫn bùng nhùng

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081204_viet_corruption.shtml

 

Nhận định về việc Nhật ngừng cấp ODA

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081205_oda_reax.shtml

 

Cựu lãnh đạo PCI nhận tội

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/11/081112_pci_case.shtml

 

PMU18 và vụ án báo chí

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/cluster/2008/10/081016_journalists_trial.shtml

 

 

 

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: