Linh Mục Học Giả Giáo Sư CAO PHƯƠNG KỶ giới thiệu KINH VÔ THƯỜNG

Linh Mục Học Giả Giáo Sư

CAO PHƯƠNG KỶ

 giới thiệu

KINH VÔ THƯỜNG

của nhà thơ Võ Thạnh Văn 

 

Đọc KINH VÔ THƯỜNG, hơn một vạn câu thơ, vừa ngậm ngùi vừa réo rắt vừa hoan lạc, trong một kiếp nhân sinh đa lụy của thân phận làm người. Thi nhân đã cảm nghiệm “Trăm năm trong cõi người ta” (ND) rất phù du và suy tư về một triết lý TRUNG DUNG thật vô cùng sâu sắc. Triết lý nhân sinh trung dung và hài hòa ấy chẳng những phù hợp cho thân phận riêng mình, mà còn phù hợp với số kiếp chung của mọi cảnh ngộ.

 

Khởi đi từ kiếp sống “cát bụi vô thường” để vượt lên cõi “thường hằng bất biến,” thi nhân đã rút ra được những dòng triết lý ứng dụng thực tiễn. Khởi từ cuộc đời “hư vô tương đối” ở cõi trần để tìm về cõi “hư vô tuyệt đối” (Absolute Nothingness), tức “Diệu Hữu Chân Không,” thi nhân dường như đã gần đạt đến cùng đích của kiếp phù sinh tạm bợ nầy.

 

Mọi vật mọi loài trong vũ trụ hữu hình hữu hạn nầy luôn luôn biến hóa, nay còn mai mất, sắc sắc không không, sinh sinh hoại hoại, sống chết tiếp nối nhau… theo luật tuần hoàn đào thải. Đấy là số phận chung của mọi loài “thụ tạo tương đối” ở thế giới vô thường.  Đó là cái LÝ của đất trời.

 

Từ đó, từ một thế giới tương đối thực tiễn đầy phiền trược đó, thi nhân đã dẫn ta đi vào một thế giới tuyệt đối, tách không gian, vượt thời gian. Nơi đó, vô thủy, vô chung, hằng hữu, bất biến. Nơi đó là chốn vô dư thường hằng. Nơi đó, không có gì có thể so sánh được, không thể diễn đạt được, bất khả biện biệt, chỉ lấy tâm mà chứng, chỉ lấy lòng mà đo.

 

Chính đó là cõi hư vô tuyệt đối. Nhưng lại chính là SỰ HỮU ĐỘC NHẤT, chân thật, hằng hữu, tuyệt diệu, bí ẩn, cao vời… vượt trên mọi hiện tượng tương đối biến hóa hữu hạn hữu kỳ. Đây là một chân lý, tuy mới thoạt nghe qua, có vẻ như mâu thuẫn, nghịch lý: Con người vốn khắc khoải trong hư vô tương đối, nhưng lại hạnh phúc hoàn toàn trong hư vô tuyệt đối.

 

Muốn đạt được hạnh phúc trong “CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU” tức cái “hư vô tuyỆt đối” ấy, thi nhân cần phải vượt qua cái tiểu ngã, chối bỏ những “tiểu ngộ tương đối” hạn hẹp ích kỷ để tìm kiếm và tiến đến cái “ĐẠI NGÃ TUYỆT ĐỐI” rộng lớn bao la. Nghĩa là cần phải “chết” cho cái tôi hạ đẳng tội lỗi hầu tìm về nguồn THÁNH ÂN YÊU THƯƠNG vô hạn.

 

Bởi đó, cuộc HÀNH TRÌNH TÂM LINH của thi nhân đã không rơi vào chốn hư vô tuyệt vọng rỗng không của thế giới tương đối, nhưng đã tìm lại được “NGUỒN HY VỌNG” vô biên để tâm trí an lạc, thư thái, bình thản trước mất còn, trước sống chết, mà hoàn toàn phó thác trong TÌNH YÊU của Thượng Đế, như lời sách Khôn Ngoan đã dạy:

 

VANITAS VANITATUM

OMNIA VANITAS

Proeter amare et Servire Deum

Vanity of Vanities

Everything is Vanity

Except to Love and to Serve Almighty God.

Phù vân của mọi phù vân

Mọi sự đều là phù vân

Trừ phi yêu mến và phụng sự Thượng Đế.

 

Do đó, thái độ triết lý thực tiễn của thi nhân đối với cuộc đời tương đối nầy là: “LẠC THIÊN, AN MỆNH.” Tức là vui với Trời và bằng lòng với số mỆnh. Đó là tinh hoa của triết lý Đông Phương. Đó là cốt tủy của triết lý AN VI. Đó là TRUNG DUNG. Không oán trời, không ghét đời, nhưng ung dung tự tại, chấp nhận AN BÀI của THƯỢNG ĐẾ Hóa Công.

 

Cùng một tâm trạng như thi sĩ Hàn Mặc Tử, đã trải qua cuộc đời đau khổ cùng cực do bệnh hoạn nan y, nhưng thi nhân đã tìm được nguồn thần hứng và nguồn AN ỦI VÔ BIÊN nơi Thượng Đế, nơi THẬP GIÁ vinh quang của Đấng Cứu Rỗi, và đặc biệt, nơi bàn tay từ ái của Đức Vương Nữ MARIA diễm tuyệt.

 

Với nguồn cảm hứng mãnh liệt và với một bút pháp tài tình, thi sĩ Võ Thạnh Văn đã khéo xử dụng chữ nghĩa, hình ảnh và các hình dung từ, vừa đầy màu sắc và âm thanh, vừa tinh vi uyển chuyển để diễn tả các trạng thái tình cảm tế nhị của tâm hồn, như: lạc lõng, trôi giạt, bềnh bồng, quạnh hịu, chập chờn, khắc khoải, trăn trở, thao thức, hoài nghi, tin yêu, ngậm ngùi, đau thương, hạnh phúc, an nhiên, hoan lạc, chất ngất,.

 

Tự tìm đến, tự gần gũi và tự hòa tan vào thiên nhiên ĐẠI NGÃ, thi nhân đã khéo dùng các hiện tượng thiên nhiên muôn đời như trăng, sao, mây, nước, thác, suối, sương, khói, tuyết, băng, mưa, nắng, bèo, bọt, sông, hồ, biển, sóng, gió, bụi, tro, bùn, cát, bướm, ong, hương, hoa, phấn, nhụy… như là những BIỂU TƯỢNG để diễn tả các ý niệm mong manh, tạm bợ, huyễn hóa, có không, còn mất, sinh hoại, hư ảo, phù vân, chia ly, tan hợp… của thế giới VÔ THƯỜNG hữu hạn.

 

Đã chuẩn bị một thái độ LẠC THIÊN, đã trang bị một tâm tình AN VI, đã chọn lựa một cung cách chân thành và khiêm hạ, nên thi nhân lạc quan và ĐIỀM NHIÊN thiền hành trên con đường TRUNG DUNG để tìm về với ĐẠO. Có thể nói, một vạn câu thơ với gần mười vạn chữ, trong KINH VÔ THƯỜNG, thi nhân chỉ với mục đích duy nhất là dùng để ca tụng TÌNH YÊU của  HÓA CÔNG và CHÂN, THIỆN, MỸ tuyệt vời từ bàn tay sáng tạo của Người mà có. Bởi đó, lại có thể nói, KINH VÔ THƯỜNG là khúc DIỄM TÌNH CA của con người thế tục…

 

Sau cùng, xin mượn lời Thánh Âu Cơ Tinh để tạm kết đôi dòng giới thiệu thi phẩm mười nghìn câu thơ Cát Bụi, trong bộ KINH VÔ THƯỜNG nầy: “Thượng Đế đã tạo dựng nên ta cho Người, vì thế, lòng ta luôn xao xuyến mãi cho đến khi tìm gặp được Người.” “Because God made us for Himself, our hearts are restless until they rest in Him.” (Confession of Saint Augustine).

 

Linh Mục Đường Thi

CAO PHƯƠNG KỶ

St. Louis, Missouri, USA

Sept. 2009.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: