Một Số Chuyện Đáng Buồn – Lữ Giang

Một  Số  Chuyện  Đáng  Buồn

 

Cuốn “Decent Interval” của Frank Snepp khi mới xuất bản năm 1977 đã gây khá nhiều chấn động cho cả Chính Phủ Hoa Kỳ lẫn dân chúng vì không ai ngờ những chuyện như thế đã xẩy ra.

Frank Snepp sinh ngày 3/5/1943 tại Kinston, North Carolina và tốt nghiệp tại Columbia University về ngành Quốc Tế Sự Vụ vào năm 1968. Trước hết, ông làm việc cho NATO ở Âu Châu rồi đến làm Trưởng Phân Tích Viên về chiến lược của Bắc Việt cho CIA tại Sài Gòn từ năm 1969 đến 29/4/1975. Với vai trò của mình, ông biết khá nhiều về các biến cố đã xẩy ra trong những ngày cuối cùng của VNCH. Dĩ nhiên, ông không thể nắm vững tất cả những chuyện đã xẩy ra, nhất là về phía VNCH, nên có nhiều chi tiết ông ghi lại không đúng. Đặc biệt, ông không biết chuyện Hoa Kỳ đã giao Miền Nam cho Trung Quốc từ năm 1972, chuyện Đại Sứ Martin của Mỹ và Đại Sứ Mérillon của Pháp đã hợp mưu đánh lừa Tướng Dương Văn Minh lên Cầm Quyền, nói là để Thương Lượng với Hà Nội, nhưng thật sự là để Đầu Hàng. Với bản chất là “THAM-NGU-HÈN”, Tướng Minh đã cắn câu và trở thành Hàng Tướng, v.v.

Vì tiết lộ nhiều bí mật về Tình Báo, CIA đã kiện ông vi phạm hợp đồng về việc phải giữ bí mật nghề nghiệp khi làm việc với CIA. Ông nhờ nhóm Luật Sư của American Civil Liberties Union bênh vực, Tối Cao Pháp Viện đã không tuyên phạt ông về những chuyện đã được ông tiết lộ, nhưng ra lệnh cho ông không được nói gì nữa về những bí mật khác nếu không được CIA cho phép.

Rất nhiều người Việt nghe nói đến cuốn “Decent Interval”, nhưng ít ai đọc cuốn sách dày 590 trang này. Nhân kỷ niệm ngày mất Miền Nam, chúng tôi xin trích dẫn dưới đây một số đoạn nói về một số biến cố được nhiều người Việt quan tâm như vụ Tướng Nguyễn Cao Kỳ âm mưu Đảo Chánh ông Thiệu, vụ tài sản của ông Thiệu, vụ 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia, vụ số vàng của Hàng Không Việt Nam biến mất, vụ tổng xuất Tổng Thống Thiệu, v.v.

Ngày nay, nhờ các tài liệu được giải mã và lời khai của các nhân chứng, chúng ta biết được nhiều chi tiết chính xác hơn về biến cố 30/4/1975, nhưng những tài liệu do Frank Snepp công bố cũng sẽ góp phần đáng kể trong việc làm Sáng Tỏ Lịch Sử.

 

Nguyễn Cao Kỳ Âm Mưu Đảo Chánh.

Frank Snepp đã kể lại về chuyện Hoa Kỳ thương lượng để Tướng Nguyễn Cao Kỳ đừng làm Đảo Chánh lật đổ ông Thiệu như sau:

Đêm trước, do một nguồn tin Nam Việt Nam, Tướng Chales Timmes được biết Nguyễn Cao Kỳ định làm Đảo Chánh. Nghe thấy chuyện đó, Martin quyết định thuyết phục Kỳ. Ông cùng Tướng Timmes đến gặp Kỳ ở Phi Trường Tân Sơn Nhất. Họ thảo luận với nhau trong hai giờ. Martin và Timmes cố nói cho Kỳ rõ:  Ông ta và chiến hữu có một vị trí trong ván bài đang chơi. Thực tế, Martin nghĩ khác:  Việc Kỳ tham gia chính phủ sẽ tiêu tan mọi hy vọng thương lượng. Nhưng ông Đại Sứ cho rằng cách duy nhất để bảo đảm cho việc thay đổi chính phủ theo Hiến Pháp là gây cho Kỳ và những cái đầu nóng khác cảm tưởng rằng họ có phần trong đó. Martin đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cuối buổi họp, Kỳ chấp nhận để Thiệu yên vị miễn và thực quyền được trao cho một người khác, như ông ta chẳng hạn. Tiếc thay, đối với những Nhà Viết Sử, cuộc trao đổi giữa Martin và Kỳ chưa bao giờ được dựng lại đây đủ. Tối hôm đó, lúc Timmes ngồi viết lại tường thuật buổi nói chuyện thì ông thấy máy thu thanh giấu trong cặp đã bị hỏng. Suốt đêm, ông ngồi cố nhớ lại nhưng cũng chỉ ghi đúng được một phần cuộc thảo luận. Sau đó, ông Đại Sứ đã phê bình ông.

 

Chuyễn Tài Sản Ra Ngoại Quốc.

Ngoài những người định lật đổ và Bắc Việt, Thiệu còn vấp phải một vấn đề nữa:  Đó là tiền. Ngay đầu tháng, từ 1 đến 2/4/1975, ông ta đã gửi bằng tàu thủy đi Đài Loan và Canada hầu hết tài sản riêng của cá nhân ông ta và các vật dụng trong nhà (most of his own personal fortune and household effects). Nhưng còn Tài Sản Quốc Gia gồm 16 tấn vàng đáng giá 120 triệu đôla chiếm gần hết dự trữ của nhà nước vẫn chưa được gửi đi. Trước đó, Thiệu định giữ kín và gửi đi Paris cho Ngân Hàng Quốc Tế, ở đấy đã giữ một phần vàng của Nam Việt Nam đáng giá năm triệu đôla. Như ông ta nói với những người hợp tác với ông, 16 tấn vàng này dùng để mua vũ khí, đạn dược cho Quân Đội. Nhưng mấy ngày trước khi gửi đi, một người báo tin cho Sứ Quán biết. Một Cộng Tác Viên của Martin cho là không thể tin được Thiệu, nên đã tố cáo với giới báo chí. Kết quả:  Các hãng hàng không Thiệu điều đình để chở số vàng ấy đi, không nhận nữa. Kế hoạch của Thiệu bị vỡ.

Martin cũng can thiệp kịp thời. Để đánh tan mọi điều nghi ngờ, ông khuyên Thiệu gửi vàng sang Ngân Hàng New York, việc đó rất hợp pháp. Thiệu chấp nhận. Ngày 16 tháng 4, Sứ Quán điện cho Hoa Thịnh Đốn xin một chuyến máy bay quân sự đặc biệt được bảo hiểm để chở số vàng đi New York. Nhưng Không Quân và Ngân Hàng New York không sẵn sàng bảo hiểm một tài sản lớn như thế gửi từ một nước đang có chiến tranh. Công việc kéo dài một hai ngày, 18 Sư Đoàn Bắc Việt Nam tiến vào Sài Gòn bằng mọi hướng. Vàng vẫn nằm nguyên trong kho Ngân Hàng Quốc Gia…” (tr. 379).

Chiều hôm đó, Pat bay đi Bangkok trên một máy bay đặc biệt, chỉ có mấy hành khách. Ban Giám Đốc hãng Hàng Không Việt Nam tổ chức chuyến bay này để chở vốn của hãng đi:  20 triệu đôla bằng vàng. Pat ngồi giữa đống bao tải bằng vải xám đầy kim loại óng ánh không có gì nguy hiểm. Sau khi thất thủ Sài Gòn, những bao tải ấy biến mất. Chắc chúng đã trốn vào tủ sắt một người nào đó. Ở Bangkok, Pat đi chơi tối với bạn, khiêu vũ suốt tới sáng. Cuộc vui lạ lùng và giả tạo do căng thẳng đẻ ra… (tr. 406).

Đến đây chúng tôi có một vài nhận xét:

Ngoài những tài sản mà ông Thiệu đã cho chuyển đi Đài Loan và Canada như Frank Snepp đã nói, một nguồn tin từ những người phụ trách cho biết, vào tháng 3 năm 1975, ông Thiệu đã cho hai người đưa đô la và kim cuơng qua Philippines, có một người thân của bà Thiệu đi theo để giám sát. Nhờ vậy, ba người này đã không bị kẹt vào ngày 30/4/1975 và hiện đang ở Mỹ.

Nhiều người cứ tấn công vào vụ 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia, họ cho rằng ông Thiệu đã lấy. Nhưng đúng như Frank Snepp đã nói, mặc dầu có sự can thiệp của Mỹ, số vàng đó vẫn còn ở Ngân Khố Quốc Gia, vì ông Trần Văn Hương ngăn chận lại không cho chuyển đi, ông bảo phải đợi chính phủ mới được thành lập (tr. 423).

Số vàng đáng phải sưu tầm nhưng lại được ít ai để ý đến, đó là số vàng trị giá 20 triệu USD được hãng Hàng Không Việt Nam chở đi, có sự chứng kiến của bà Pat Johnson, một nhân viên cao cấp của CIA rời Sài Gòn đi BangKok trong cùng một chuyến bay. Số vàng đó hiện nay về tay ai ? Trong chuyến bay đó có vàng của ông Thiệu hay không ?

Ai cũng biềt ông Nguyễn Tấn Trung là xui gia của Tổng Thống Thiệu, được cử làm Tổng Giám Đốc Hàng Không Việt Nam. Chắc chắn trong những ngày chót, ông cũng có nhiệm vụ đưa tài sản Hàng Không Việt Nam và của ông bà Thiệu đi. Nhiều câu hỏi đã được đặt ra, nhưng ông Trung vẫn “ngậm miệng ăn vàng”.

Khi bị tống xuất, theo Frank Snepp cho biết, ông Thiệu còn đem theo mấy vali nặng “có tiếng kim loại va vào nhau” (xin xem ở sau).

 

Thuê Một Triệu Làm Hàng Tướng !

Trước trưa ngày 21 tháng 4, Thiệu triệu tập Khiêm và Hương đến, báo cho hai người biết ông sắp từ chức và sẽ báo tin ngay tối nay.

Máy ghi âm do CIA đặt trong phòng làm việc của Thiệu truyền đi từng lời ông ta nói.

Không để mất thì giờ, Polgar (Trưởng Trạm CIA tại Sài Gòn lúc đó) báo tin cho người Pháp về việc Thiệu sắp rút lui, rồi đến chiều, cử Tướng Timmes đến gặp Minh. Timmes đi ngay. Minh có bằng lòng Nắm Quyền và Thương Lượng Hòa Bình trước khi loại được Hương không ? Minh gật đầu. Ông ta nói có thể làm yên lòng kẻ thù và sẽ cử ngay đại diện đi Paris để mở cuộc thảo luận. Timmes rút trong cặp ra một nắm giấy bạc mới, một triệu đôla để làm phí tổn (chưa bao giờ Minh sử dụng món tiền ấy và ông ta cũng không hề trả lại).

Trong lúc đó, một viên chức khác của CIA bàn chiến thuật với một người thân cận Minh. Viên Chức CIA nói:  Tiện hơn cả là Minh nhận làm Thủ Tướng của Hương, như thế thuận lợi cho việc chuyển giao chính quyền. Người nghe lắc đầu:  Không, không bao giờ Minh tham gia chính phủ của Hương. Minh phải nắm chính quyền như đã thỏa thuận. Những điều đó cho thấy việc Chuyển Giao Chính Quyền sẽ không được thực hiện như kế hoạch của Sứ Quán.

19 giờ rưỡi, giờ Sài Gòn, Thiệu nói chuyện với Quốc Dân Đồng Bào… Thiệu nói:  Vì nửa đất nước đã mất nên ông ta hy sinh vì quyền lợi quốc dân. Tướng Viên đọc một tuyên bố ngắn. Ông nói Quân Đội tiếp tục chiến đấu để bảo vệ Tổ Quốc chống bọn xâm lược nước ngoài. Tối 21 tháng 4, lại thiết quân luật từ 8 giờ tối đến 6 giờ sáng để ngăn chặn những cuộc biểu tình, nhưng tôi nghĩ người ta đã quá mệt mỏi, không còn muốn nhảy ngoài đường phố nữa.

Trong khi tin Thiệu từ chức bay về Hoa Thịnh Đốn thì Kissinger gửi một Điện Chia Buồn cho Martin, bày tỏ sự kính trọng không suy xuyển của ông đối với người lãnh đạo Nam Việt Nam, ông đề nghị được giúp đỡ Thiệu rời khỏi nước này. Ông nhấn mạnh:  Chính phủ Mỹ không hề hợp tác với người Pháp để chống Thiệu. Và ông nói thêm đến nay cũng chưa nhận được tin tức gì của Liên Xô.

Không một người nào tán thành sự kiện diễn ra sau đó. Những người đứng về phe ngừng bắn tỏ lòng tin tưởng, họ cho rằng có thể thương lượng bình đẳng với Cộng Sản. “Minh Lớn” là một người trong số đó, ông bình tĩnh chuẩn bị nói chuyện ngã ngũ với Phía Bên Kia, trong khi đó, Người Phát Ngôn của ông ta ở Paris công khai yêu cầu ngừng bắn, nối lại cuộc đàm phán và thành lập một Chính Phủ thật sự tiêu biểu.

Chiều thứ ba, Polgar nói với Timmes đến thăm Kỳ. Cuộc gặp mặt như dầu đổ vào lửa. Nhưng sau đó Kỳ công nhận, ông nghĩ rằng nhân viên CIA đến gặp Kỳ như gặp một người thay Hương. Và chỉ một câu hỏi vụng về của Timmes về sự nguy hiểm của một Cuộc Đảo Chính chống “Minh Lớn” là Kỳ biết ngay ai là người được Hoa Kỳ chọn làm Tổng Thống. Kỳ quyết định thu xếp ngay vị trí của mình. Sự vụng về của Timmes đã làm cho những người ôn hòa khó hoạt động và phái hữu báo động.

Trong khi đó, người Pháp tiếp tục xen vào, Pierre Brochand ở cạnh Minh suốt ngày, khuyến khích và bảo vệ Minh chống mọi kẻ cạnh tranh.

 

Tống Xuất Tông Tông.

Công việc tống xuất Tổng Thống Thiệu ra khỏi Miền Nam đã được Tòa Đại Sứ Mỹ giao cho Thomas Polgar, Trưởng Trạm CIA tại Sài Gòn lúc đó. Chúng ta hãy nghe Frank Snepp kể lại chuyện này:

Từ ngày từ chức (ngày 21 tháng 4), Thiệu để thì giờ đi bách bộ trong nhà của ông ta ở bờ sông. Ông ta nghiền ngẫm một cuộc trả thù và mơ tưởng đến việc giành lại địa vị trước kia. Vợ ông ta, quá sợ hãi, không còn chịu được cảnh thất thế này. Sáng thứ năm, bà ta đi Bangkok trên một chuyến bay thương mại. Em họ của Thiệu, Đại Sứ của Sài Gòn từ Đài Loan trở về nước khuyên anh sớm ra đi. Nhưng Thiệu chưa nghe. Ông ta nghĩ rằng ông ta còn giữ một vai trò gì đó ở đây. Ông ta nói với em họ là Hoàng Đức Nhã:  “Nếu tôi phải ra đi, tôi sẽ đi với Đoàn Tùy Tùng có trống giong cờ mở“. Thiệu, vốn thường kín đáo, ít nói, nay có vẻ cảm động. Ông ta nói với Nhã:  Em là người duy nhất còn lại ở bên anh, mặc dù anh đã làm hại em, cách chức và đuổi em đi.

Nhã tìm cách an ủi Thiệu, ông ta nói với Thiệu:  “Anh cứ coi tôi như Cambroune, viên tướng trung thành với Napoléon ở ngoài đảo Elbe“.

Hương, người kế vị Thiệu, không dám giục Thiệu ra đi, sợ bè phái Thiệu sẽ trả thù. Hương nói với Martin làm việc đó. Đại Sứ cũng không thích thú làm việc này. Cho đến nay, ông vẫn làm cho người ta tưởng rằng Sứ Quán không can thiệp vào việc Thiệu từ chức. Ông không muốn làm thay đổi nhận định ấy.

Nhưng có một yếu tố phải tính đến. “Minh Lớn” cho rằng sự có mặt của Thiệu ở Sài Gòn vẫn là một trở ngại lớn cho hoạt động của ông ta. Minh đề nghị Timmes, Cơ Quan ClA giải quyết giúp việc này. Điều đó làm vừa lòng Martin.

17 giờ ngày 25 tháng 4, Polgar gọi tôi đến phòng làm việc. Ở đấy đã có Joe Kingsley, Tướng Timmes và một nhân viên CIA nữa. Polgar nhỏ nhẹ hỏi chúng tôi:  Ban đêm, các anh có dám ra ngoài phố không ? Chúng tôi đều gật đầu. Riêng tôi, tôi không chắc có thuộc hết các ngõ ngách và những cái hẻm do người Pháp xây dựng không, nhưng dù sao… Polgar tiếp tục nói:  “Thế thì tốt. Tôi đề nghị các anh tối nay, giúp tôi cho Thiệu và Khiêm đi Đài Loan. Đó là một ân huệ đối với các anh, đồng thời là một phần thưởng vì các anh đã làm việc rất tốt“. Thật ra, Polgar mới chỉ biết “phần thưởng” này cách đây mấy giờ. Trước đó, Martin định giao cho Phái Bộ Quân Sự thu xếp mọi việc, kể từ việc tổ chức chuyến bay đặc biệt cất cánh từ cuối Đường Băng Tân Sơn Nhất. Đến phút cuối cùng ông giao lại cho CIA. Khoảng 20 giờ 30 phút, bốn người chúng tôi đi ba xe đến Bộ Tổng Tham Mưu Nam Việt Nam ở Tân Sơn Nhất, Khiêm ở trong khu vực này, Joe và tôi giấu vũ khí dưới chỗ ngồi. Chúng tôi không thể không tính đến việc diễn lại cuộc ám sát anh em Diệm trước đấy. Chúng tôi định kế hoạch như sau:  “Sẽ có những Sĩ Quan Trẻ ngăn chúng tôi lại trên đường đi, ra lệnh cho chúng tôi xuống xe và bắt chúng tôi. Tức thì chúng tôi nổ súng”.

Quá 21 giờ, Polgar đến nhà Khiêm, trong một xe riêng có tài xế lái xe. Ông đến uống rượu với Khiêm và Timmes. Chúng tôi đứng đợi ngoài sân. Kingsley và tôi, để giết thì giờ, hai đứa nói chuyện với những người Lính Gác Việt Nam. Mấy lính khác chơi bài. Phần đông tỏ ra không đế ý gì đến việc đi lại của Bọn “Mũ Cao Áo Dài” này. Có tiếng súng nổ ở phía sân bay. Đài radio báo cho chúng tôi biết:  Hai lính Nam Việt Nam cáu kỉnh đã bắn súng ở đây:  “Không thiệt hại gì, nay tình hình yên tĩnh”. Đúng lúc đó, một xe Mercedes xám đỗ trên đường. Một người tầm thước, tóc bạc, chải lật ra sau gáy, mặt bôi kem, quần áo xám chỉnh tề, bước xuống đất. Trong bóng tối, Nguyễn Văn Thiệu giống một người mặc Quần Áo Mẫu Quảng Cáo trong một Tạp Chí hơn là một Nguyên Thủ Quốc Gia. Ông ta không thèm nhìn chúng tôi !

Mấy phút sau, mấy người lực lưỡng, mỗi người xách một va li nặng, đi đến chỗ chúng tôi, bảo chúng tôi mở cửa xe, để tự họ xếp va li vào. Khi họ để va li xuống, có tiếng kim loại va vào nhau. Tiếp đó Thiệu, Khiêm, Polgar và Timmes, theo sau có nhiều nhân vật cao cấp Nam Việt Nam, bước ra cửa, tiến nhanh vào xe hơi. Thiệu ngồi xe tôi, ở ghế đằng sau. Giữa Timmes và một người Việt Nam. Timmes khuyên ông ta:  Tổng thống ngồi thấp xuống để được yên ổn.

Chuyến đi chỉ có mấy phút nhưng tôi thấy rất dài. Timmes nói với Thiệu những chuyện không đâu, về quá khứ. Họ quen nhau năm 1961 trong một Cuộc Lửa Trại Ngoài Quân Khu I. Trong những năm sau, Timmes thường cho Thiệu biết sự tiến triển của việc bình định:  “Thưa Tổng Thống, đó là một thành tựu lớn của chúng ta“. Có một lúc Timmes giới thiệu tôi với Thiệu như một Người Nhận Định Tin có tài ở Sứ Quán, một Người Lái Xe “Có Cỡ” ! Mọi người bất đắc dĩ cười. Tiếp đó, Thiệu nói tiếng Anh pha giọng Pháp, cho rằng tất cả những người lái xe ở Sài Gòn đều có cỡ nhưng xấu nhất, hay xấu hơn cả những kẻ thù điên ở Bangkok.

Timmes hỏi:  “Phu Nhân và Tiểu Thư có khỏe không ạ ?” Thiệu trả lời:  “Nhà tôi và cháu đi Luân Đôn mua ít đồ cổ“. Tôi nhìn rõ mặt cựu Tổng Thống qua tấm kính xe, mắt sáng dưới ánh đèn ngoài đường, mùi rượu Scoth thoáng bay trong xe có máy điều hòa không khí.

Đến gần cổng vào sân bay Tân Sơn Nhất, đèn phụ xe hơi rọi thẳng một lúc vào bức tượng do người Việt Nam dựng để tưởng nhớ những người Mỹ chết trong chiến tranh. Trên bức tượng có dòng chữ:  “Chúng tôi không bao giờ quên sự hy sinh cao cả những người lính đồng minh“. Thiệu thở dài khá to và quay mặt đi. Một lần nữa Timmes nhắc Thiệu ngồi thấp xuống. Bình thường, Cơ Quan An Ninh Việt Nam đứng gác ở sân bay không chú ý đến xe của Sứ Quán Mỹ.

Nhưng quá 21 giờ 30 rồi, quá giờ thiết quân luật hơn một tiếng. Những người gác có thể ngăn xe lại. Trời ơi, may quá, họ không làm gì cả. Đoàn người đi qua Đường Băng. Người lái xe trước tắt đèn. Tôi cũng làm theo. Trong một lúc tôi thấy dài ghê, tôi không trông thấy gì cả. Chiếc xe Chevrolet đồ sộ của tôi chạy một mình trong đêm tối. Sau tôi mới quen dần. Chợt tôi trông thấy Polgar chạy qua Đường Băng, cách tôi mấy mét. Tôi vội hãm thắng. Bánh xe kêu ken két. Xe dừng lại. Thiệu và người ngồi xe tôi bị xô vào ghế trước. Những xe sau vội quay ngang, quay dọc bao vây lấy xe tôi:  Một cảnh trong Phim Trinh Thám. Polgar chạy đến vẫy tay và mở cửa xe cho Thiệu.

Một máy bay bốn động cơ C.118 của Không Quân Mỹ đậu gần đấy. Thủy Quân Lục Chiến Mỹ mặc thường phục đứng gác và đi theo Đại Sứ Martin, dàn hàng ngang bên cạnh máy bay. Đại Sứ chờ ở chân cầu thang. Khi Polgar mở cửa sau xe tôi. Thiệu cúi xuống vỗ vai tôi, nói giọng khàn khàn:  Cảm ơn ! Ông ta chìa tay ra, giữ tay tôi một lúc ông ta cố nén không khóc. Tiếp đó ông ta rời xe, bước lên cầu thang máy bay. Khiêm và đoàn tùy tùng Thiệu đi sau, tay xách va li vai đeo máy ảnh, xắc…

Sau này, Martin thuật lại:  “Tôi chỉ chào tạm biệt ông ta. Không có câu nói lịch sự nào. Chỉ một lời tạm biệt“. (Trích từ tr. 533-537).

Lữ Giang 12/4/2011

Email:  LuGiang2003@yahoo.com


Những  Giờ  Đen  Tối

Nhiều người đã ngạc nhiên hay cảm thấy buồn tê tái khi đọc bài “Một Số Chuyện Đáng Buồn” của chúng tôi trích dẫn một số đoạn trong cuốn hồi ký “Decent Interval” của Frank Snepp, một viên chức cao cấp của CIA ở Sài Gòn, tiết lộ việc Tướng Nguyễn Cao Kỳ âm mưu Đảo Chánh ông Thiệu, về tài sản của ông Thiệu, về 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia, về số vàng của Hàng Không Việt Nam biến mất, việc đánh lừa Tướng Dương Văn Minh ra làm Tổng Thống được nói là để thương lượng với Hà Nội nhưng thật sự là để tuyên bố đầu hàng, vụ tổng xuất Tổng Thống Thiệu, v.v. Không ai có thể ngờ được chính phủ Hoa Kỳ đã giết ông Diệm để nhảy vào Lãnh Đạo Cuộc Chiến Việt Nam và đưa Miền Nam vào những ngày đen tối như vậy.

Hôm nay, chúng tôi sẽ trích thêm một số đoạn nói về việc Hoa Kỳ đã tuyển chọn những tay chân bộ hạ như thế nào để thi hành Kế Hoạch Rút Khỏi Miền Nam và Hoa Kỳ đã điều khiển những giờ cuối cùng của Miền Nam như thế nào. Đây là những giờ đau buồn nhất của VNCH.

Dĩ nhiên, có một số người đang số gắng chống lại việc công bố những Sự Thật Lịch Sử vì cho rằng nó phương hại đến những gì mà họ đang trân trọng. Nhưng những tài liệu về Cuộc Chiến Việt Nam hầu hết đã được đưa ra ánh sáng và nằm đầy trong các Văn Khố, trong các Hồi Ký của các Nhân Chứng Lịch Sử và trong các Tài Liệu Nghiên Cứu…, làm sao có thể dùng cảm tính của cá nhân hay một số tập thể để thay đổi Lịch Sử được ? Các Sử Gia, các Nhà Phân Tích và các Thế Hệ Mai Sau sẽ không quan tâm đến những Cuộc Biểu Tình sôi động trên Phố Bolsa hay những Tuyên Ngôn Truyên Cáo, họ chỉ dựa vào các tài liệu nói trên để đánh giá Cuộc Chiến Việt Nam và rút Bài Học Lịch Sử.

 

Khi Mỹ Chuẩn Bị Rút Lui.

Trong phần đầu của cuốn “Decent Interval” Frank Snepp đã tiết lộ cho chúng ta thấy Hoa Kỳ đã chuẩn bị như thế nào khi muốn Rút Lui Khỏi Cuộc Chiến Việt Nam. Lối mô tả của viên chức CIA này có vẽ sống sượng hơn lối mô tả của các nhà chính trị, nhưng nó đã giúp cho chúng ta nhìn rõ Sự Thật Lịch Sử Hơn.

Frank Snepp viết:

“Với cái “Mục Tiêu Thân Hữu” (“Friendly Target”), như chế độ của Thiệu được gọi, khó khăn là làm thế nào để vừa buộc họ phải tuân theo chính sách của chính chúng tôi, vừa có những Tay Sai (Agents) có chất lượng để thi hành chính sách đó.

“Trong những năm ngay sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, từ năm 1963, Miền Nam Việt Nam liên tiếp bị xáo trộn vì những Cuộc Đảo Chính và Chống Đảo Chính. Có những viên Tướng đầy tham vọng định lợi dụng tình trạng không ổn định của nước này để Đục Nước Béo Cò. Năm 1967, một phần vì sự gợi ý của một phân tích gia về Quân Sự Trẻ và Thông Minh ở Sài Gòn tên là Daniel Ellsberg, chính phủ Hoa Kỳ đã quyết định ủng hộ một Đối Thủ (Contender) khác, một viên Tướng Miền Nam bình thường và coi như Phi Chính Trị (Modest, Supposedly Non-Political) tên là Nguyễn Văn Thiệu –trong một nỗ lực cuối cùng để chấm dứt các cuộc khủng hoảng. Sau đó ít lâu, cùng năm ấy, Thiệu được đưa lên làm Tổng Thống. Người có quyền lực thật sự trên đất nước lúc đó là Nguyễn Cao Kỳ, một người Bắc Nổi Bật (Flamboyant) nguyên Thủ Tướng nay trở thành Phó Tổng Thống. Nhưng Đại Sứ Bunker không hề lo sợ về Kỳ và Phe Cánh của Kỳ. Dần dần, ông gạt được họ ra và chỉ nói về những vấn đề chính trị với Thiệu mà thôi. Một “Cú Ân Huệ” (Coup De Grâce) đã đến với Kỳ trong cuộc tấn công của Cộng Sản năm 1968 khi một số trong các Đồng Minh Thân Tín đầy quyền lực của ông ta bị giết.

“Từ đó, mục tiêu chính của Sứ Quán là củng cố bằng mọi giá chính phủ Thiệu, để cho nước Mỹ có thế rút quân ra khỏi Việt Nam mà không sợ nổ ra một cuộc khủng hoảng chính trị mới. Tháng 10 năm 1972, nhằm mục tiêu ấy, chúng tôi đã Mua, Mua Chuộc và Bán Rất Nhiều Nhân Vật Quân Sự, Chính Trị Nam Việt Nam, để các nhân viên Tình Báo, những người Cộng Tác với chúng tôi nằm trong chính phủ chỉ là những phần nối dài của chính chúng tôi. (We had bought, bribed and sold so many South Vietnamese military and political figures that our spies and collaborators inside government were mere extensions of ourself). (tr. 13).

Qua hai đoạn được trích dẫn nói trên, chúng tôi có những nhận xét sau đây:

1.- Hai Tướng Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu đã được CIA tuyển chọn khi cả hai cùng đi học khoá Command and General Staff College ở Fort Leavenworth, Kansas, tại Hoa Kỳ vào năm 1957-1958, rồi được cài vào chính phủ Ngô Đình Diệm để lật đổ chính phủ này và thực hiện các kế hoạch tiếp theo do Mỹ đưa ra. Frank Snepp chỉ mới làm việc cho CIA từ năm 1968, không nắm vững những chuyện đó nên tưởng rằng ông Thiệu mới được tuyển chọn năm 1967.

2.- Tiêu chuẩn để tuyển chọn một người cầm quyền tại Nam Việt Nam để thi hành chính sách của Mỹ được Frank Snepp nói rõ:  Phải tuân hành chính sách của Mỹ và có khả năng thi hành chính sách đó. Một tiêu chuẩn thứ ba là Phi Chính Trị (Non-Political), chỉ biết làm theo sự dẫn dắt.

3.- Ông Thiệu được đưa lên làm Tổng Thống không phải để bảo vệ Miền Nam mà là để Mỹ có thế rút quân ra khỏi Việt Nam mà không sợ nổ ra một cuộc khủng hoảng chính trị mới”.

4.- Ông Thiệu không được coi như là một Cộng Tác Viên (Collaborator) của Mỹ mà chỉ là một Tay Sai (Henchman), được lèo lái để hoàn thành chính sách của Mỹ. Với chủ trương “Từng chiến lược cho từng mức viện trợ”, ông Thiệu coi Miền Nam như lãnh thổ của Mỹ:  Mỹ cấp viện trợ đủ, giữ cả Miền Nam. Mỹ cắt bớt viện trợ, thu nhỏ lãnh thổ lại và cuối cùng bỏ mất Miền Nam theo như kế hoạch của Mỹ đã định trước. Chủ trương này đã dựa vào phúc trình về tình hình của Tướng Mỹ John E. Murray và khuyến cáo của Tướng Ted Serong, cả hai có thể được coi như là Cò Mồi”. Nói một cách tổng quát, Tổng Thống Thiệu đã hành động với tinh thần của một người Lính Đánh Thuê (Mercenary) chứ không phải với tinh thần của một Chiến Sĩ Quốc Gia, Cương Quyết Bảo Vệ Miền Nam cho đến Giọt Máu Cuối Cùng.

Giả thiết lúc đó Mỹ để cho Dân Miền Nam bầu một nhân vật chính trị lên làm Tổng Thống như Luật Sư Trần Văn Tuyên, Luật Sư Vương Văn Bắc, ông Trần Chánh Thành… chẳng hạn, những người này sẽ không chịu ký Hiệp Định Paris và đi tìm một Giải Pháp khác để Bảo Vệ Miền Nam. Họ sẽ làm hỏng kế hoạch của Mỹ.

 

Hai “Agents” Cở Bự Của CIA.

Frank Snepp cho biết CIA đã tuyển dụng hai Tướng có thế lực của Miền Nam làm “Agents” cho họ để cung cấp tin tức và thi hành chính sách từng giai đoạn của Hoa Kỳ. Ông tiết lộ:

“Shackley đã lôi kéo được Tướng Đặng Văn Quang, viên Cố Vấn Sôi Nổi (Ebuillient) về An Ninh của Thiệu (coi như Kissinger của Thiệu, nếu như bạn muốn gọi như thế) làm một người Cung Cấp Tin Tức (Informant) cộng tác chặt chẽ với Trạm CIA. Shackley còn triển khai sự kết hợp chặt chẽ với Tướng Nguyễn Khắc Bình, người trở thành Cấp Chỉ Huy Đầy Quyền Lực của Cảnh Sát Miền Nam Việt Nam.

“Cho đến ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn, Quang và Bình có thể được coi là những nhân vật quan trọng nhất của chúng tôi ở Việt Nam. Nhưng trong thực tế họ được đánh giá hơi cao. Người này cũng như người kia, không ai cung cấp cho chúng tôi nhiều tin tức. Chúng tôi lấy tin chủ yếu nhờ những máy móc đặt bí mật trong Dinh Tổng Thống. Phòng làm việc của Thủ Tướng được nghe thường xuyên. Số ít tin tức do Bình và Quang cung cấp thường sai lệch. Thật vậy, họ nhanh chóng hiểu rằng họ phải nghĩ đến quyền lợi riêng của họ và quyền lợi của Thiệu, không thể cung cấp cho chúng tôi đúng những tin tức chúng tôi yêu cầu. Hơn thế, Trạm CIA phụ thuộc rất nhiều vào họ về mặt chính trị, vì họ là những người truyền đạt những chủ trương và những quyền lợi của người Mỹ trong chính phủ, vì thế chúng tôi không thể đánh giá những tin tức của họ một cách khách quan hay có phê phán.

“Sự tín nhiệm của chúng tôi đối với hai người này đã gây ra nhiều hậu quả tai hại. Không phải những Cơ Quan Tình Báo bị ảnh hưởng mà cả uy tín về tinh thần và chính trị của người Mỹ đối với người Việt Nam cũng bị giảm sút. Làm cho Quang và Bình trở thành những người giàu có và có thế lực, cả Quang và Bình trở thành những biểu tượng về tham nhũng và thoái hóa theo lối Mỹ, điều đó sau cùng đã cung cấp cho Cộng Sản vũ khí tốt nhất để tuyên truyền”. (By virtue of the wealth and prominence we bostowed on them, both Quang and Binh became symbols of the American-inflicted corruption and decadence that ultimatly provided the Communists with their best propaganda weapon). (Trích từ tr. 8 và 9).

Theo ý kiến chúng tôi, Frank Snepp đã đánh giá Tướng Đặng Văn Quang quá cáo khi coi ông như là một thứ “Kissinger” của Thiệu. Tướng Thiệu và Tướng Quang cùng tốt nghiệp Khóa Sĩ Quan Đập Đá ở Huế năm 1948 và có trình độ văn hóa thấp như nhau (chưa học xong Trung Học). Những người từng đi họp với Tướng Quang và Tướng Thiệu nhiều lần cho biết chẳng bao giờ Quang dám có ý kiến gì khác với ông Thiệu. Mỗi lần ông Thiệu hỏi chuyện gì, Quang đều trả lời:  “Thưa Tổng Thống nói đúng !”.

Nhiệm vụ chính của Tướng Quang là “Kinh Tài” cho ông Thiệu, trong đó có hai nghiệp vụ chính là đi Thu Hụi Chết và Buôn Lậu. Trung Tá Trần Tích, Trưởng Phòng Quản Trị Quân Đoàn 2 kể lại rằng tháng 3 năm 1975 ông cùng Tướng Phạm Văn Phú di tản khỏi Pleiku bằng máy bay. Khi vừa về tới Nha Trang, Tướng Phú đã quay lại bảo ông:  “Xem có ai muốn đi làm Tỉnh Trưởng không ?”. Trung Tá Tích rất ngạc nhiên và hỏi lại:  “Giờ này mà còn Tỉnh Trưởng gì nữa, thưa Thiếu Tướng ?”. Tướng Phú liền nói:  Tháng này chưa có 2 triệu nộp cho Trung Tướng(!).

 

Số Phận Của Kẻ Phản Bội CIA.

Mặc dầu Tướng Đặng Văn Quang được CIA gài vào bên Tổng Thống Thiệu để lấy tin tức, nhưng trong cuộc họp tại Cam Ranh trưa 11/3/1974, Tướng Thiệu ra lệnh rút khỏi Cao Nguyên, nhưng Tướng Quang không báo cho CIA biết. Do đó, khi hay tin này, CIA đã sa thải Tướng Quang ngay. Vì thế Tướng Quang đã gặp khó khăn khi đi Di Tản.

Polar, Trưởng Trạm CIA Sài Gòn là người có quan hệ với người Việt Nam thuộc đủ loại, nên khi đến giờ Di Tản, ông đã bị nhiều người kêu cứu, nhưng trong nhiều trường hợp ông không thể giúp đỡ được. Riêng trường hợp Tướng Quang, Frank Snepp đã kể lại như sau:

“Polgar trở thành Tù Binh trong Sứ Quán đúng lúc bạn bè Việt Nam chờ ông, cách đó khoảng mười ngôi nhà. Polgar đứng bên hàng rào, bất lực; ông đang nhìn biển người trước mặt, chợt một tiếng quen thuộc gọi ông, gọi to và giật giọng. Đó là nguyên Cố Vấn An Ninh của Thiệu, Tướng Đặng Văn Quang vừa đến và len tới sát hàng rào. Ông mặc một chiếc áo đi mưa dài, đeo kính đen, xách hai cặp rất nặng. Polgar nói dõng dạc với người gác cổng:  “Cho người này vào”. Nhưng cũng phải tranh luận, người gác cổng mới đồng ý hé cửa để Quang lách cái thân già, béo phệ của ông ta vào !

“Những giờ sau, Quang đi đi lại lại trong phòng làm việc của Polgar trên lầu sáu trông rất giống một trái quất vàng tròn trĩnh với bộ quần áo màu xanh nước biển, đeo nhiều kim cương. Quang gọi dây nói khá lâu vì trong lúc sợ hãi và vội vàng vào Sứ Quán, ông đã quên con cháu đang đứng bên ngoài. Quang cố cầu cứu mấy người bạn giúp.

“Hầu hết chúng tôi cố quên Quang. Thấy ông ta ngồi trong phòng, chúng tôi đi ra ngay. CIA đã trả ông ta nhiều tiền và nâng cao ông ta trong nhiều năm, và bảo đảm vị trí của ông ta bên cạnh Thiệu, nhưng cuối cùng ông ta đã phản bội chúng tôi, không cho chúng tôi biết quyết định của Thiệu rút khỏi Cao Nguyên.

“Vì thế, trong những giờ cuối cùng của ông ta ở Sài Gòn này, mặc xác ông ta xoay sở. Buổi chiều, khi máy bay trực thăng chở Quang đi, không có con ông ta –một vài người trong chúng tôi nghĩ, Thật là đáng kiếp (Good riddance)” (tr. 495-496).

 

Những Giờ Phút Cuối Cùng.

Hoa Kỳ đã quyết định tất cả về những giờ phút cuối cùng của VNCH. Họ tìm cách đưa những người Mỹ và một số người Việt Nam ra khỏi nước. Có hai nơi được dùng để thực hiện kế hoạch này, một tại Cơ Sở của DAO ở Phi Trường Tân Sơn Nhứt và một tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở đường Thống Nhất. Vì bài báo có giới hạn, chúng tôi chỉ trích một số đoạn chính Frank Snepp mô tả về những giờ phút cuối cùng tại Tòa Đại Sứ Mỹ.

Frank Snepp đã mô tả hình dạng của Đại Sứ Martin lúc đó như sau:

“Dưới con mắt của giới thân cận, Graham Martin nay giống một xác chết biết đi. Da xanh, mặt nhăn nheo, ông đứng không vững. Từ ngày Hoa Thịnh Đốn ra lệnh Di Tản bằng trực thăng, ông tỏ ra không còn ý chí đấu tranh nữa. Giới Quân Sự và Đô Đốc Gayler nay hoàn toàn nắm mọi công việc. Martin chỉ còn một lo lắng duy nhất:  Làm thế nào Di Tản càng được nhiều người Việt Nam càng tốt. Nhưng phải chờ một hai giờ nữa máy bay trực thăng của Hải Quân mới đến.”

Đến 12 giờ 30 phút, một Phi Đoàn gồm 36 máy bay trực thăng đầu tiên rời cầu tàu USS Hancoch với nhiều máy bay Cobra vũ trang hộ vệ. Một phút sau, những máy bay tiềm kích phản lực Phantom từ các căn cứ ở Thái Lan bay tới bầu trời Việt Nam yểm trợ thêm. Một giờ rưỡi trôi qua kể từ lúc Tổng Thống bật đèn xanh cho Chiến Dịch “Gió Nhanh” (Frequent Wind)…

17 giờ, Tướng Smith gọi Sứ Quán hỏi số lượng người Di Tản. Lần đầu tiên ông nhận được câu trả lời có vẻ nghiêm chỉnh. Một cộng tác viên của Jocbson vừa đếm lại số người trong nhà, ngoài sân:  Từ 1.500 đến 2.000 người. Tình hình những người này lúc đó rất nóng nẩy. Mới có ba máy bay trực thăng đến chở Người Tị Nạn. Phải 40 phút nữa mới có chuyến khác. Sốt ruột vì chờ đợi, Dân Tị Nạn kêu ca, oán thán, chửi bới…

17 giờ 30 phút, Tướng Smith báo cho Hạm Đội Di Tản biết còn khoảng 1.300 người nữa, trong đó có đơn vị An Ninh Hải Quân gồm 840 người.

Cầu Hàng Không máy bay trực thăng hoạt động đều, mặc dù gặp khó khăn:  Sân hẹp, CH.53 là loại máy bay trực thăng lớn, nặng, mỗi chiếc phải chở tới 70 người, mức trọng tải cao nhất. Nhiều lần, gió cuốn suýt gây ra tai nạn…

Ở Tòa Bạch Ốc, Kissinger báo cáo với Tổng Thống Ford:  Phái Bộ Quân Sự đã hoàn thành việc Di Tản. Hơn 4.500 người đi bằng máy bay trực thăng trong đó có 450 người Mỹ. Đó là một thành công rực rỡ mặc dù có mất mát.

Chúng tôi chỉ còn 12 người trong tổng số ba trăm nhân viên Tình Báo CIA ở Việt Nam. Tôi nhìn lại lần cuối cùng bàn làm việc của tôi. Tất cả 12 người chúng tôi xếp hàng, dọc cầu thang lên mái nhà, chung quanh xúm xít người Việt Nam. Tôi không có can đảm nhìn họ. Một Thủy Quân Lục Chiến hỏi chúng tôi có vũ khí không. Nếu có phái để lại. Có nhiều tiếng phản đối khi nghe lệnh ấy nhưng không ai giữ lại súng nữa. Polgar rút khẩu súng Browing ra, ngắm nghía một lát, rồi thở dài, thất vọng:  “Tôi phải ở lại, Đại Sứ cũng muốn ở lại một lúc nữa, chờ cho người Việt Nam ở trong ngôi nhà này đi hết mới lên đường. Tôi ở lại và cùng đi với Đại Sứ. Quay lại, ông nói với Pittman, người phó của ông:  “Anh cũng nên ở lại”. Pittman gật đầu đặt vali xuống. Polgar quay ra phía tôi:  “Anh giúp Bạn Việt Nam tôi lên máy bay”. Tôi hỏi lại:  “Ông có cần tôi ở lại không ?” –Không. Sở chỉ huy đã ra lệnh, mọi người đi cả. Tôi chỉ giữ Pittman và một Nhân Viên Thông Tin ở lại để liên lạc với Hoa Thịnh Đốn.

Schlesinger định rõ thời hạn:  Giữa đêm phải ngừng Cuộc Di Tản. Nghĩa là chỉ còn hai giờ nữa. Sáng hôm sau, sẽ tiếp tục bay. Bây giờ, 19 máy bay trực thăng sẽ đến Sứ Quán để đón tất cả người Mỹ ở đó, kế cả bản thân Đại Sứ. Martin trả lời một cách tiêu cực.

Trước 12 giờ đêm, Martin mặt trắng bệch ra sân Sứ Quán. Cùng với mấy Cộng Tác Viên, ông cho gọi người Mỹ vào trong nhà. Chú Lính Thủy Quân Lục Chiến vừa được tin của Đài Cộng Sản loan báo Cuộc Tiến Công vào Sài Gòn bắt đầu. Ngoài sân, Đại Tá Madison và bốn Sĩ Quan nữa thuộc Ủy Ban Quân Sự Hỗn Hợp đi qua đám đông. Đại Tá Sumniers, người phó của ông, vớ lấy máy phát thanh:  “Bình tĩnh, bình tĩnh. Chúng tôi ở lại đây, và sẽ đi sau bà con”.

3 giờ 45 phút, kết thúc Cuộc Di Tản, Martin đi ra sân Sứ Quán, nhìn nhanh đám đông, ra hiệu cho Đại Tá Madison:  “Những người Việt Nam còn lại sẽ đi bằng máy bay CH.53. Ai còn chờ trong Sứ Quán thì ra sân đợi. Cầu Hàng Không trên mái nhà dành riêng cho người Mỹ”.

Ở đằng kia Cầu Hàng Không, Gays và Whitmire đã quyết định chấm dứt trò chơi của Martin. Các ông hiểu rằng Đại Sứ cứ muốn lùi dần giờ kết thúc, mỗi lần Martin đều viện cớ còn quá nhiều người Việt Nam v.v… Mà lệnh của Tòa Bạch Ốc rất rõ ràng:  Cầu Hàng Không ngừng lúc bản thân Martin chưa được Di Tản !

John Pittman đang ngồi ngủ trong phòng làm việc của Đại Sứ. Trung Tá Kean vào đánh thức anh dậy, anh chìa bức điện của Tòa Bạch Ốc ra:  Tổng Thống ra lệnh cho Đại Sứ phải đi chuyến này ! Martin nhún vai, cầm vali, nói với mọi người:  “Xong, ta đi” rồi tiến đến cầu thang máy. Nhiều Cộng Tác Viên đi theo:  Polgar, Pittman, Jacobson, John Bennett thuộc Cơ Quan AID, Joe Bennett, Cố Vấn Chính Trị và Brunson Mc Kingsley, Lehmann, Boudreau và Jim Devine chờ chuyến sau.

Ở Hoa Thịnh Đốn, Henry Kissinger vừa bắt đầu Cuộc Họp Báo mà ông đã hoãn mấy lần. Ông báo tin Cuộc Di Tản tất cả những người Mỹ ở Sài Gòn đã hoàn thành tốt đẹp. Thực tế hãy còn Lính Thủy Quân Lục Chiến trong Sứ Quán. Kissinger quyết định không nêu chi tiết ấy. Cuộc Họp Báo vừa kết thúc, ông vội vàng nhảy bổ vào phòng làm việc nổi cơn điên lên. Ông thét lớn:  Đưa ngay Thủy Quân Lục Chiến ở Sài Gòn ra ! Ông vừa tuyên bố Cuộc Di Tản thành công rực rỡ, nếu để chết một người, ông sẽ giết… !

7 giờ 30 phút (sáng 30/4/1975), giờ Sài Gòn, nhóm của Kean đóng chặt cánh cửa đồ sộ bằng gỗ sến của Sứ Quán, hạ màn sắt xuống và vội vàng chạy đến cầu thang phụ. Ở lầu một và lầu bốn, họ ném lựu đạn cay vào cầu thang máy và kéo hàng rào thép gai ra ngăn cầu thang. Nhưng đúng lúc họ bước lên trên bậc cuối cùng để lên mái nhà thì những người Việt Nam nổi giận ở ngoài sân đã phá được cửa tầng dưới và chạy lên đuổi họ. Thủy Quân Lục Chiến khóa được cửa lên mái nhà và ra chỗ máy bay đậu.

Nhưng lúc Người Lính cuối cùng vào được ca bin máy bay thì cũng là lúc Người Việt Nam leo tới mái nhà. Và khi họ nhảy bổ vào gầm bánh máy bay thì máy bay bay lên cao. Lúc bấy giờ là 7 giờ 53 phút giờ Sài Gòn. (Trích từ tr. 508-562).

Lữ Giang 19/4/2011

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: