HẬN NAM QUAN – thơ Phù Hư Dật Sĩ Võ Thạnh Văn

THƠ PHÙ-HƯ DẬT-SĨ VÕ THẠNH VĂN


Lời giới thiệu:
Xin trân trọng giới thiệu cùng quý văn thi hữu và quý độc giả xa gần thưởng thức bài hùng thi HẬN NAM QUAN, thể lục ngôn trường thiên, đầy hào khí của nhà thơ Phù-Hư Dật-Sĩ Võ Thạnh Văn.

Đọc thơ Phù Hư Dật Sĩ, tôi hồi tưởng thời còn là một cậu học sinh Trung-học, mỗi lúc rảnh rỗi, thường đem những áng hùng thi của tiền nhân ra ngâm nga đọc vang nhà.

Những áng thơ văn như: Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt, Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo, Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, Văn Tế Chiến Sĩ Trận Vong của Nguyễn Văn Thành, Văn Tế Sĩ Dân Lục Tỉnh của Nguyễn Đình Chiểu, Bài Ca Bình Bắc của Vũ Hoàng Chương, v.v… hầu như đã hòa vào máu thịt, tim óc của các chàng trai nước Việt một thời mộng kiếm cung, sôi kinh nấu sử, hận kẻ thù truyền kiếp phương Bắc khôn nguôi…

Bài Hận Nam Quan của Phù Hư Dật Sĩ ngày nay thiển nghĩ cũng thuộc dòng hùng sử thi, một khuynh hướng thi ca yêu nước, đặc thù nổi bật trong lịch sử và thi ca Việt Nam vậy.

Hồ Công Tâm

—  

HẬN NAM QUAN

[1]

“Có những hận lớn trên  đời
Không dùng gươm không rửa được!”  (vtv)

Hạo khí cha ông ngạo nghễ
Hoành đao. Vung kích. Nghiêng trời
Dựng nước từ  nghìn dâu bể
Hận! Giờ rách nát tả tơi

Tiết tháo cha ông lồng lộng
Giặc thù còn kinh khiếp oai
Dáo mác, gươm đao tủa nhọn
Hận! Giờ chiều nắng xiên khoai

Hào sảng cha ông chất ngất
Thổi tiêu, múa bút biên phòng
Oai hùm phương Nam lệch đất
Hận! Bầy cuồng khấu tranh phong

Cung kiếm cha ông một thuở
Nghìn thu sử sách còn thơm
Chí lớn muôn đời rạng rỡ
Hận! Giờ tan loãng khói rơm

Voi ngựa cha ông sung mãn
Đuổi giặc vượt rung núi đồi
Uống rượu làm thơ  kiêu lãng
Hận! Giờ da thịt phân đôi

Máu xương cha ông bừng nở
Hằng đêm trích huyết mài gươm
Cắn răng thề treo giặc cỏ
Hận! giờ sông núi rách bươm

 
[2]

“Có những hận lớn trên  đời
Không dùng gươm không rửa được!”  (vtv)

Ánh mắt cha ông ngời sóng
Vểnh râu. Tuốt kiếm. Đồ vương
Còn đâu một thời vang bóng
Hận! Giờ quan ải thê lương

Máu sôi cha ông sùng sục
Tưới xanh luống mạ vồng rau
Khinh thù thường tài lục lục
Hận! Còn nhục mãi nghìn sau

Đường gươm cha ông vẽ máu
Nghiến răng sát phạt Bắc Triều
Nghìn năm còn loang đao báu
Hận! Giờ thành quách hoang liêu

Xe pháo cha ông bách chiến
Bao phen phá vỡ  Nguyên, Mông
Muôn sau còn vang dội tiếng
Hận! Giờ non nước rỗng không

Cung nỏ cha ông xuyên thủng
Giữ yên bờ cõi núi đồi
Chấn oai một thời kinh khủng
Hận! Giờ khí thế phai phôi

Chiến công cha ông oanh liệt
Ruộng đồng phơi xác giặc Thanh
Hùng sử lưu phương thế phiệt
Hận! Giờ cương giới vắng tanh
 

[3]

“Có những hận lớn trên đời
Không dùng gươm không rửa được!”  (vtv)

Dòng máu cha ông kiêu hãnh
Đời đời ngào ngạt trầm hương
Hào, lũy, thành, trì… cương mãnh
Hận! Giờ non nước tang thương

Gan óc cha ông lầy đất
Mòn gươm. Cùn kiếm. Bạt trời
Gót chân kiêu hùng thảo phạt
Hận! Giờ sông biển đầy vơi

Nghìn đời cha ông yêu nước
Tình lai láng chảy thiên thu
Tài hoa bàng bạc sơn cước
Hận! Tiếc gươm xưa chém thù

Anh linh cha ông ưu uất
Ngày đêm cát cứ rừng xanh
Nhung y, chiến bào phới phất
Hận! Giờ sâu mọt khoét quanh

Lồng lộng trời cao chí cả
Khí hùng cuồn cuộn máu sôi
Bao phen giặc thù  nghiêng ngả
Hận! Giờ con cháu thịt xôi
 
Lửa cháy cửa Nam oan nghiệt
Hồn thiêng sĩ tử quặn đau
Thành, quách, đền, đài… lẫm liệt
Hận! Giờ cầm thế về đâu
 

[4]

“Có những hận lớn trên đời
Không dùng gươm không rửa được!”  (vtv)

Tóc râu cha ông dựng ngược
Thương, đao lởm chởm nhọn trời
Bao phen thư hùng mưu lược
Hận! Giờ quan ải mù khơi

Bàn tay cha ông bươn chải
Những toan vá  biển, lấp hồ
Dựng nước oai hùng muôn thuở
Hận! Giờ thử bối tham ô

Tấc lòng cha ông son đỏ
Cương thường, đạo lý đắp tô
Xiển dương đạo mầu Tiên Tổ
Hận! Giờ con cháu lô nhô

Chiến công cha ông lẫm liệt
Bình Chiêm. Phạt Tống. Trừng Nguyên
Trí thánh, mưu thần… kỳ tuyệt
Hận! Giờ thành quách ngả nghiêng

Mồ hôi cha ông lịm ngọt
Tưới xanh cây lá Trường Sơn
Bao đêm vắt tim, nặn óc
Hận! Giờ mồ mả vắng trơn

Bàn tay cha ông chuyển núi
Đôi chân chinh phạt rung đồi
Uống rượu múa gươm túy lúy
Hận! Giờ chí lớn buông trôi
 

[5]

“Có những hận lớn trên đời
Không dùng gươm không rửa được!”  (vtv)

Kiếm, kích cha ông lởm chởm
Kinh oai, khiếp vía giặc thù
Bao phen lạc hồn, tán đởm
Hận! Giờ thành quách hoang vu

Thương, giáo cha ông tua tủa
Bao phen giặc bắc kinh hồn
Xây dựng cơ đồ muôn thuở
Hận! Giờ tan tác núi sông

Bàn tay cha ông mài miệt
Đào sông. Lấp biển. Khai băng
Xây bao đền đài trác tuyệt
Hận! Giờ lăng tẫm nhện giăng

Đường gươm cha ông vũ lộng
Bao phen chém tướng chưa sờn
Kiếm ảnh, đao quang kinh động
Hận! Giờ hồn thép lạnh rơn

Chí khí cha ông kiên liệt
Nghìn đời rạng ngát sử thơm
Dòng dõi vương tôn, thế phiệt
Hận! Giờ lý thuyết rách bươm

Nhuệ khí cha ông muôn hướng
Vễnh râu. Dựng tóc. Hươi gươm
Điều quân. Đoạt thành. Khiển tướng
Hận! Giờ mật rác, gan rơm
 

[6]

“Có những hận lớn trên đời
Không dùng gươm không rửa được!”  (vtv)

Thịt da cha ông phủ núi
Tóc râu che biển, lợp rừng
Xương cốt ngọc thiêng, trầm quý
Hận! Giờ giặc chiếm biền bưng

Máu xương cha ông ngào ngạt
Bón thơm đá sỏi núi rừng
Vun dày bờ đê, luống đất
Hận! Giờ non nước rưng rưng

Máu huyết cha ông sùng sục
Nung sôi ý hệ tử tôn
Phá tan xích xiềng ô nhục
Hận! Giờ con cháu chen bon

Tim óc cha ông trung liệt
Truyền trao hậu duệ  tương lai
Mong bầy cháu con dũng liệt
Hận! Giờ ý  hệ nhạt phai

Tôi thần cha ông lương đống
Bao đời tận tụy cúc cung
Diệt Ngô. Bình Chiêm. Phạt Tống
Hận! Giờ nghĩa khí cáo chung

Huân công cha ông rực rỡ
Điểm tô thắm đỏ sơn hà
Dũng khí. Quật cường. Chớn chở
Hận! Giờ non nước tha ma
 

[7]

“Có những hận lớn trên  đời
Không dùng gươm không rửa được!”  (vtv)

Ánh thép cha ông rờn rợn
Đường gươm lân múa, hạc xoay
Tiết tháo nghìn năm không bợn
Hận! Giờ tủi nhục chua cay

Đôi chân cha ông thác lở
Đạp đèo. Dẵm suối. Bươn truôn
Quan ải kiên cường, rạng rỡ
Hận! Giờ con cháu đành buông

Cha ông tài hoa cự phách
Mềm môi mỹ tửu nghiêng thành
Ngậm rượu phun gươm mài thạch
Hận! Giờ thành chếch tàn trăng

Cha ông một phương cát cứ
Hẹn nhau hòa sáo biên phòng
Gảy trượng phu cầm. Tài tứ
Hận! Giờ non nước long đong

Cha ông song toàn văn vũ
Uống rượu. Luận kiếm. Bình thơ
Định kế. Bày mưu. Thác lũ
Hận! Giờ con cháu ngu ngơ

Chiến công cha ông hãn mã
Vào sinh. Ra tử.  Điều binh
Tuổi tên nghìn sau khắc đá
Hận! Giờ con cháu tham sinh
 

[8]

“Có những hận lớn trên  đời
Không dùng gươm không rửa được!” (vtv)

Dòng máu cha ông bất khuất
Ngày đêm nung nấu sục sôi
Một chiều tôi thần biếm truất
Hận! Giờ khí  phách buông trôi

Tất lòng cha ông son sắt
Thiết thạch nghìn năm chưa phai
Ánh thép lạnh rờn, rợn ngắt
Hận! Giờ rụng nắng tàn phai

Cha ông gan chì, dạ sắt
Trèo non. Vượt suối. Đạp ngàn
Xây bao đền đài vững chắc
Hận! Giờ thành rã, quách tan

Xa mã cha ông bách chiến
Vết hằn còn lưu  ải xưa
Kế mưu trăm  đường lui tiến
Hận! Giờ quan ải rây mưa

Voi ngựa cha ông dũng mãnh
Bao đời hùng cứ  rừng xanh
Dựng thành. Đúc chuông. Tạc đảnh
Hận! Giờ xa mã  vắng tanh

Dòng dõi cha ông thế phiệt
Miệt mài nấu sử  sôi kinh
Trau dồi thi, thư. Trác tuyệt
Hận! Giờ bút mực thôi linh
 

[9]

“Có những hận lớn trên đời
Không dùng gươm không rửa được!”  (vtv)

Chủy thủ  cha ông nhọn hoét
Từng đêm vạch đất thề trời
Quyết diệt trừ  loài đục khoét
Hận! Giờ kỷ  lỏng, cương lơi

Cha ông quý từng hơi thở
Sưỡi ấm Trường Sơn gió bay
Hằng đêm ngậm ngùi, trăn trở
Hận! Giờ con cháu tỉnh say

Cha ông gom từng viên sỏi
Xây nên hào lũy cửa Nam
Mồ hôi thấm từ nguồn cội
Hận! Giờ gạch ngói lạnh căm

Cha ông máu thù  sôi sục
Xả thân rửa hận giống nòi
Đã biết bao phen cắn nhục
Hận! Giờ sử  sách trăng soi

Nghĩa khí  cha ông lai láng
Chảy tràn biển mặn, rừng sâu
Trung liệt nghìn năm gương sáng
Hận! Giờ một nấm cổ khâu

Tướng sĩ  cha ông trung liệt
Chung lòng phá  giặc xâm lăng
Sĩ phu. Lương thần. Hào kiệt
Hận! Giờ hương hỏa lạnh băng
 

[10]

“Có những hận lớn trên  đời
Không dùng gươm không rửa được!”  (vtv)

Cha ông mài gươm rợn tóc
Ma hờn. Quỷ khóc. Giặc than
Từng đêm rèn tâm, đúc óc
Hận! Giờ hậu duệ non gan

Cha ông liếc dao sởn gáy
Tóc dựng. Da rờn. Đất băng
Quyết rửa thù  nhà nợ máu
Hận! Giờ con cháu lãng quên

Cha ông dựng mày dủa dáo
Ngẩng mặt. Nhếch môi. Nghiêng bầu
Mắt trừng biên phòng thao láo
Hận! Giờ non nước biển dâu

Gươm báu cha ông rợn thép
Kiếm, kích bén nhọn vờn mây
Sử sách nghìn sau ghi chép
Hận! Giờ lót  đó, luồn đây

Cha ông mài gươm khuyết đá
Liếc kiếm đêm khuya gợn rừng
Nhuốm lửa Trường Sơn đêm giá
Hận! Giờ con cháu mật lưng

Phương trượng cha ông uy lẫm
Đền lân. Trướng hổ. Việt Thường
Hồn thiêng sáng ngời lăng tẫm
Hận! Giờ sông núi thê lương
 

Phù-hư dật-sĩ VÕ THẠNH VĂN

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: