Thế Giới Thập Ngũ Triều

Thế Giới Thập Ngũ Triều

 

Ngythanh

 

Trước kia, dưới thời quân chủ, vua là con trời, chuyện tham quyền cố vị chốn cung đình kể như việc do ông trời ấn định, dân ngu khu đen cứ thế mà tuân theo. Ngày nay, các hoàng triều trong các xứ tây phương được duy trì nhưng chỉ như một món trang sức của xã hội, chẳng còn thực quyền gì trong chính trường. Tuy nhiên, một số chính khách nhờ thời thế hay bằng thủ đoạn bỗng trở thành lãnh tụ quốc gia, bèn bảo hoàng hơn vua. Họ bất chấp bất cứ thủ đoạn, đòn phép, thượng sách cũng như hạ kế nào, để bám trụ và ngồi trên đầu trên cổ nhân dân. Sách Guiness chuyên sưu tầm và ghi nhận các kỷ lục thế giới, đến nay vẫn chưa lập thống kê xem những ai tham quyền cố vị dai nhất thế gian. Nếu ngay hôm nay họ lên danh sách những chế độ dai như giẻ rách, ngoại trừ trường hợp “anh truyền em nối” ở Cuba của Fidel Castro với 42 năm 144 ngày (nắm quyền từ ngày 3/10/1965 được bầu làm Bí Thư Thứ Nhất Đảng Cộng sản Cuba đến ngày bàn giao ấn tín lại cho chú em Raul hôm 24/02/2008), danh sách 15 vị lãnh tụ giật giải “tham quyền cố vị” nhất địa cầu được sắp hạng như sau:

Hạng 15: với 20 năm tham quyền cố vị, Meles Zenawi đã trở thành lãnh tụ của Ethiopia từ ngày 28/05/1991, cai quản 88 triệu dân. Ông Zenawi nổi tiếng với cuộc tuyển cử gian lận vào năm 2005, đưa tới việc dân chúng xuống đường bạo động hai đợt, vào tháng 6 và tháng 11/2005. Tới ngày 18/10/2006, thẩm phán Wolde-Michael Meshesha công bố rằng chính phủ đã giấu nhẹm việc công an đã thảm sát cả thảy 193 người biểu tình, làm bị thương 763 người, và bắt giam hàng chục ngàn người dân khác.

Hạng 14: Idriss Déby với 21 năm cai trị 10.54 triệu dân nước Chad. Năm 1989, âm mưu đảo chánh của Déby bị tổng thống Habré khám phá nên phải trốn qua Libya nương náu, rồi chạy tiếp qua Sudan tị nạn và thành lập Lực lượng Ái quốc Cứu nguy, quay về tấn công Habré và tiến vào chiếm thủ đô N’Djaména ngày 2/12/1990 không tốn một giọt máu. Sau đó, Déby đứng ra tổ chức bầu cử và đắc cử tổng thống, thống trị đất nước đến nay. Theo tạp chí Parade, ông được sắp hạng thứ 16 trong danh sách những nhà độc tài tệ hại nhất thế giới.

Hạng 13: Khi Liên Xô sụp đổ, Nursultan Abishuly Nazarbayev được Hội đồng Tối cao Xô Viết bầu chọn làm tổng thống nước Kazakhstan ngày 24/04/1990, với 15.5 triệu dân. Năm 2004, Tổ chức Minh bạch Quốc tế gọi cuộc thánh chiến chống tham nhũng của tổng thống Nazarbayev là “cuộc thánh chiến nước bọt”, và liệt kê quốc gia nầy trong danh sách 146 nước tham nhũng nhất thế giới, đồng hạng với Việt Nam, Belarus, Eritrea, Honduras, Nicaragua, Palestine, Ukraina, Zambia và Zimbabwe.

Hạng 12: Ngày 1/01/1944, ở làng Hoshe Bannaga thuộc Sudan có một thằng bé chào đời được đặt tên là Omar Hasan Ahmad al-Bashir. Lớn lên, thằng bé học hết bậc trung học tại trường làng rồi xuất ngoại học binh nghiệp ở Học viện Quân sự Ai Cập tại Cairo, và phục vụ quân đội Ai Cập trong tư cách một quân nhân nhảy dù. Ông ra nắm quyền vào ngày 30/06/1989, đến nay cai trị 44 triệu dân Sudan được 22 năm. Al-Bashir lấy em họ mình là Fatma Khaldid làm vợ, và lấy thêm bà vợ hai tên Widad, sau khi chồng bà nầy chết khó hiểu trong một tai nạn trực thăng. Với cả hai bà vợ, ông Al-Bashir không có con nối dõi tông đường. Năm 2008, Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) qui kết Tổng thống Sudan Omar al-Bashir tội diệt chủng tại Darfur.

Hạng 11: Ra đời trong một viện mồ côi ở Samarkand nhưng lớn lên theo học ngành kỹ sư cơ khí và kinh tế, Islam Abdug‘aniyevich Karimov trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản Uzbekistan hôm 23/06/1989, qua ngày 24/03/1990, ông trở thành tổng thống của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Uzbekistan đến nay, đạt kỷ lục 22 năm cầm quyền trên 27.86 triệu dân, với một nửa dân số dưới 20 tuổi.

Hạng 10: Tháng 4/1984, tổng thống Thomas Sankara đổi tên nước Cộng hòa Thượng Volta một quốc gia thuộc mạn tây châu Phi, nằm lọt giữa các nước Mali, Niger, Bénin, Togo, Ghana và Côte d’Ivoire – thành Burkina Faso, có nghĩaĐất của những người đứng lên” trong thổ ngữ Moré và Dioula. Đúng thế, đây là đất của đảo chánh. Ngày 4/08/1983, nhân vật Blaise Compaoré tổ chức đảo chánh, lật đổ Thiếu tá Jean-Baptiste Ouedraogo, để đại úy Thomas Sankara trở thành tổng thống. Ngày 15/10/1987, chuyên gia đảo chánh Blaise Compaoré lại ra tay. Trong cú nầy, tổng thống Thomas Sankara ra nhà xác, và dĩ nhiên người đứng ra làm tổng thống kỳ nầy chính là đại úy Blaise Compaoré, mở đầu chế độ tam đầu chế, cùng chia chác quyền lực với đại úy Henri Zongo và thiếu tá Jean-Baptiste Boukary Lingani. Tân tổng thống giải thích rằng cố tổng thống Thomas Sankara về chầu Diêm chúa là do “tai nạn”, và nhận chìm nội vụ, bóp chết các cuộc điều tra. Tới tháng 9/1989, hai người đồng quyền Henri Zongo và Jean-Baptiste Boukary Lingani bị bắt và kết án tội âm mưu… đảo chánh. Cả hai bị đem ra pháp trường cát bắn ngay buổi tối đó sau phiên tòa, để tổng thống Compaoré phải nghiêng vai gánh vác thêm trách nhiệm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ An ninh. Đến nay, ông đã cầm quyền được 24 năm, cai trị số dân 15.75 triệu người. Ông lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 16/11/1973, quốc kỳ của nước ông cũng sao vàng trên nền đỏ, nếu nửa dưới không là màu xanh lá cây thì dùng chung cờ của Hà Nội, hay nửa dưới là màu danh da trời, thì dùng lại cờ của mồ ma Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam.

Hạng 9: sinh năm 1944, vào năm 23 tuổi, Yoweri Kaguta Museveni sang Tanzania theo học môn kinh tế và chính trị ở Viện đại học Dar es Salaam và trở thành một phần tử Cộng sản. Ra trường, Museveni dấn thân vào cuộc chiến mang tới việc lật đổ tổng thống Idi Amin Dada vào tháng 4/1979 để Milton Obote phục hồi chức tổng thống, nhưng tới 1985 Museveni lại có mặt trong màn hạ bệ Obote năm 1985, để chính mình ra làm tổng thống của đất nước Uganda với 33.4 triệu dân từ ngày 26/01/1986. Về đời tư, vào tháng 8/1973 Museveni thành hôn với Janet Kataha, một cựu thư ký riêng trước kia là tiếp viên hàng không.

Dưới sự lãnh đạo của Museveni, Uganda đã nhuốm máu khi tiến hành xâm lược và chiếm đóng Congo, đưa tới hậu quả khoảng 5 triệu rưỡi người thiệt mạng từ 1998. Đến nay, ông đã làm tổng thống tới năm thứ 26, chỉ thua Hun Sen của Cam Pu Chia.

Hạng 8: Chào đời tại làng Pream Koh Sna, huyện Stung Trang, tỉnh Kompong Cham ngày 4/04/1951, Samdech Akeakmohasenapadey Decho Hun Sen (gọi tắt là Hun Sen) vừa mài quần ở trường Lycee Indra Dhevi ở thủ đô Phnom Penh vừa khoác áo cà sa dưới mái chùa Naga Vann của thủ đô Phnom Pênh, trước khi gia nhập Khmer Đỏ vào năm 1970 để chống lại chính phủ Lon Nol, với năm lần bị thương, lần chót vào mắt hai ngày trước khi phe Khmer Đỏ của ông chiếm được thủ đô, vào tháng Tư Đen 1975. Khi đào ngũ và bỏ Khmer Đỏ vào tháng 5/1977 để chạy qua nương náu bên Việt Nam để tránh bị thanh trừng nội bộ, quân hàm cuối của ông là trung đoàn phó một trung đoàn đóng quân sát biên giới Việt Nam.

Năm 1979, bộ đội của Việt Nam tràn vào nước bạn và đánh bại chính quyền Khmer Đỏ để Hà Nội dựng lên bộ máy chính quyền mới với Heng Samrin làm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Cách mạng Campuchia còn Hun Sen là Bộ trưởng ngoại giao của Cộng hòa Nhân dân Campuchia. Sau cái chết của thủ tướng Chan Sy, Hun Sen được bổ nhiệm làm thủ tướng ngày 14/01/1985 và giữ chức vụ này tới năm 1993. Trong cuộc bầu cử năm 1993, vì đảng bảo hoàng Funcinpec chiếm ưu thế, ông trở thành thủ tướng thứ 2, chỉ sau Norodom Ranariddh đứng đầu đảng Funcinpec kiêm chức vụ thủ tướng thứ nhất. Hai ông thủ tướng chỉ vờ hòa thuận với nhau được 4 năm. Năm 1997, xung đột giữa hai ông lên tới đỉnh điểm khi quân đội trung thành của Ranariddh tấn công các lực lượng trung thành với Hun Sen ở thủ đô, phe Hun Sen đã đánh bại đối thủ Ranariddh làm ông nầy phải đào thoát qua Thái Lan lưu vong. Tới khi bầu cử năm 1998, ông trở thành thủ tướng duy nhất của Campuchia cho tới hiện nay, với kỷ lục tham quyền cố vị 26 năm, bên cạnh các kỷ lục vĩ đại về tham nhũng mà Thời Báo đã đề cập trong các phóng sự về Campuchia trước đây.

Hạng 7: Ra chấp chánh từ ngày 6/11/1982, Paul Biya là con người đầy mưu ma chước quỷ của quốc gia Cameroon với 19.3 triệu dân. Thực ra, ông nầy giữ chức thủ tướng từ 30/06/1975, nhưng đúng 4 năm sau, bỗng nhiên một điều khoản của hiến pháp ra đời qui định rằng thủ tướng là người kế vị tổng thống khi hữu sự. Ngày 4/11/1982, tổng thống Ahidjo bất ngờ tuyên bố từ chức, và hai hôm sau mặc nhiên Paul Biya trở thành nguyên thủ quốc gia.

Trong cuộc tuyển cử ngày 14/01/1984, tổng thống Paul Biya là ứng cử viên duy nhất, đạt 99.98%. Mấy tuần lễ sau, cựu tổng thống Ahidjo bị try tố ra tòa vì tội âm mưu đảo chánh với bản án tử hình, may nhờ tổng thống Biya nổi máu nhân từ, cho hưởng án chung thân thay vì bị xử bắn. Ngoài ra, ông giải tán Lực lượng Vệ binh Cộng hòa và đưa thuộc hạ vào nắm giữ các chức vụ then chốt của quân lực trong cả nước, làm nổ bùng cuộc đảo chánh ngày 6/04, nhưng ông thoát hiểm, mặc dù khoảng 1.000 người khác chết thay cho ông. Tháng 4/1988, ông tái đắc cử tổng thống, rồi lại tái đắc cử nữa ngày 11/10/1992 với 40% số phiếu. Tới tháng 10/1997, ông lại đắc cử với 92.6% số phiếu sau khi áp dụng bài học gian lận từ lần trước. Vẫn chưa hết, tháng 10/2004, ông lại đắc cử nhiệm kỳ mới 7 năm, và theo hiến pháp năm 1996, ông sẽ bị hạn chế không thể ra ứng cử vào năm nay 2011. Để vượt qua trở ngại nầy, ông cho sửa hiến pháp, vì hạn chế việc ra lãnh đạo đất nước là phụ lòng dân và… phi dân chủ. Việc tu chính hiến pháp đã đưa tới bạo loạn và chết chóc, nhưng kết quả vẫn là tổng thống có quyền ra ứng cử mệt nghỉ, và ngay cả sau khi mãn nhiệm, tổng thống sẽ được hưởng quyền miễn truy tố về tất cả những gì ông làm trong thời gian tại chức. Vin vào hiến pháp mới, Biya thanh lọc ngành hành pháp và lập pháp và mở rộng quyền tổng thống trên ngành tư pháp: các thẩm phán chỉ được phép xét lại một điều luật khi được tổng thống yêu cầu. Trong cuốn 20 Nhà Độc Tài Còn Ngự Trị Thế Giới, tác giả David Wallechinsky xếp Biya ngang với Robert Mugabe của Zimbabwe, Teodoro Obiang Nguema Mbasogo của Guinea Xích Đạo và vua Mswati của xứ Swaziland. Tổng thống Biya rất thường xuyên dành thì giờ cho các đợt nghỉ ngơi để tìm sự yên tĩnh ở khách sạn InterContinental Geneva bên Thụy Sĩ, chớp nhoáng là hai tuần, và thường khi mỗi chuyến kéo dài tới ba tháng. Mỗi lần đi, bản thân tổng thống mang theo đoàn tùy tùng chiếm 43 phòng, với giá 43 ngàn đô cho mỗi đêm. Ông được tạp chí Parade sắp hạng thứ 19 trong danh sách những nhà độc tài tệ hại và sắt máu nhất trần gian. Chẳng thế mà ông cầm quyền tới 29 năm vẫn chưa bị lật đổ?

 

Hạng 6: trong đất nước Iran, 66 phần trăm dân số chỉ biết một tên một người ngồi trên đầu trên cổ mình: Ali Khamenei. Tên đầy đủ của ông là Ayatollah Seyed Ali Hoseyni Khamene’I, người làm tổng thống của 77 triệu dân từ ngày 13/10/1981. Sau khi ông chấp chánh, nhiều ngàn người chống đối đã bị giết một cách hợp pháp bằng những bản án của tòa cách mạng. Ngày 4/06/1989, ông được bầu vào chức vụ Lãnh tụ Tối cao, thay cho Ayatollah Khomeini sau khi ông nầy qua đời, còn chức vụ tổng thống bỏ lại cho Mahmoud Ahmadinejad. Với thành tích 30 năm cầm quyền chăn dắt dân và chăn dắt cả tổng thống, Ali Khamenei còn là người chỉ huy trực tiếp và duy nhất của lực lượng bán quân sự Basij từng làm chết nhiều người dân Iran xuống đường sau cuộc bầu cử bất minh năm 2009 và Tòa án Quốc tế ở Hague đang thụ lý đơn xin điều tra, xét xử và tống giam Ali Khamenei về vai trò của ông trong các chuỗi vi phạm nhân quyền ở Iran. Ngoài ra, sau vụ ám sát 3 nhà đối lập Iran tại nhà hàng Mykonos ở Bá Linh hôm 17/09/1992, tòa án tối cao của Đức đã công bố trát đòi Bộ trưởng Tình báo Iran, và liệt kê đích danh Ali Khamenei là kẻ chủ mưu vụ giết chóc nầy.

Mặc dù chính Khamenei khoe rằng ông là độc giả thường xuyên của hai tạp chí Mỹ Time Newsweek, nhưng không vì nhằm tìm hiểu và áp dụng dân chủ. Sinh ngày 17/07/1939, ông cụ Ali Khamenei chưa quá già để phải rời quyền lực, nhưng sức khỏe ông đã có vấn đề. Do đó, trong sáu người con, ông đã chọn thằng thứ nhì tên Mojtaba Khamenei hiện đang đứng đầu lực lượng bán quân sự Basij làm người kế vị chức Lãnh tụ Tối cao của đất nước, nhằm thể hiện bản chất tham quyền cố vị của mình.

Hạng 5: Ngay sau khi lên làm thủ tướng nước Zimbabwe hôm 18/04/1980, ông Robert Gabriel Mugabe đã tuyên bố rằng tất cả công dân của ông chào đời từ 1980 trở về sau, khi vừa lọt lòng mẹ là được hít thở ngay dưỡng khí tự do. Năm 1987, khi đang giữ chức chủ tịch hành pháp thứ nhất, Mugabe duyệt lại hiến pháp và tự phong ông ta làm tổng thống. Đảng Ái Quốc đã tuần tự thắng tất cả các cuộc bầu cử từ năm 1965 đến nay, riêng cuộc tuyển cử năm 1990 bị cả quốc nội lẫn quốc tế tố cáo là gian lận, với đảng đối lập Đoàn Kết chỉ được 16% số phiếu. Bầu cử tổng thống lại được tổ chức năm 2002 để lại bị tố cáo gian lận, đánh tráo phiếu và hăm dọa cử tri. Mugabe là nhân vật chuyên gây tranh cãi, từng được nhân dân Phi châu coi là mẩu anh hùng đấu tranh cho độc lập, vừa là một vị lãnh đạo có học thức uyên thâm. Sau vụ can thiệp vào Congo lần thứ 2 vừa tốn tiền của vừa hao tổn máu xương, cộng thêm việc quốc hữu hóa hàng loạt đất đai canh tác của người da trắng, quốc tế đã quyết liệt phản đối Mugabe và áp dụng nhiều biện pháp phong tỏa kinh tế và cắt giảm viện trợ, làm kinh tế Zimbabwe đã tuột dốc cấp kỳ, dẫn đến thiếu hụt lương thực và xăng dầu, nạn lạm phát phi mã, người dân bỏ nước ra đi để kiếm ăn. Gần đây, Mugabe bị lên án từ cả phương Tây lẫn quốc nội vì chính sách phát xít chống lại cộng đồng thiểu số da trắng. Lên cầm quyền, Robert Mugabe tuyên bố rằng Chúa đã trao quyền lực vào tay ông nên không ai có thể đoạt lại. Các cuộc đàn áp do ông chủ trương trong thập niên 1980 làm trên 20 ngàn người bị giết. Năm 1998, Mugabe lại dùng quân đội để dập tắt những cuộc xuống đường của người dân nhằm phản đối tình trạng giá nhu yếu phẩm gia tăng. Đến năm 2005, trên nửa triệu dân Zimbabwe đã mất nhà cửa sau các đợt khủng bố mang tên “chiến dịch thanh lọc thành phố”. Tháng 6/2008, ông bị tước danh hiệu hiệp sĩ mà Nữ hoàng Anh Elizabeth II đã phong cho ông hồi 1994, để phản đối tình trạng vi phạm nhân quyền của ông: phe quân sự do ông nuôi béo đã hạ sát bà Dadirai Chipiro là vợ của ông Patson Chipiro, đối thủ chính trị của ông. Bọn lính đã thi hành lệnh nầy một cách dã man nhất, bằng việc trói tay chân bà ta và thiêu sống bằng bom xăng hôm 12/06. Ở Zimbabwe lạm phát lên tới 11 triệu phần trăm, tờ giấy bạc 100 tỉ đồng địa phương chỉ đủ để mua mua một ổ bánh mì, và mức lạm phát nầy tiếp tục tăng đều mỗi năm 993.6%. Tỷ lệ thất nghiệp của Zimbabwe lên tới 70% và trong nước có 80% dân số sống dưới mức nghèo đói. Trả lời các tố cáo của cộng đồng quốc tế về việc ông sử dụng bạo lực để giữ quyền lực, Mugabe tuyên bố: “Họ cứ việc rống to bao nhiêu tùy thích, từ Washington hoặc từ London hay từ bất cứ nơi nào khác. Dân của tôi, người dân của tôi, và chỉ người dân chúng tôi là kẻ quyết định chứ không ai khác”. Ai chết mặc ai, ông đã làm “vua” được 31 năm.

Hạng 4: Khi còn ngồi dưới mái hiên trường, sinh viên José Eduardo dos Santos đã gia nhập Phong trào Giải phóng Angola, và trở thành một đảng viên. Để có thể tiếp tục việc học, ông qua Liên Xô và tốt nghiệp bằng kỹ sư của Viện Hóa chất và Dầu khí Azerbaijan ở thành phố Baku. Mười hôm sau cái chết của tổng thống đầu tiên của Angola vào ngày 10/09/1979, José Eduardo dos Santos được bầu vào chức chủ tịch PTGP Angola, kiêm luôn chức tổng thống Angola và Tổng Tư Lệnh quân đội Angola, qua năm kế tiếp, ông ôm luôn chức chủ tịch quốc hội. Tới năm 1999, tổng thống kiêm nhiệm luôn chức bộ trưởng quốc phòng. Tháng 2/2002, đối thủ chính trị của ông là Jonas Savimbi bị giết, đảng UNITA của Savimbi tan rả và đầu hàng chính phủ trung ương. Từ nay, Eduardo dos Santos một mình một cõi. Nhưng ông chỉ thắng trên mặt trận chính trị và quân sự, còn trên mặt kinh tế, tổng thống bó tay trước nạn tham nhũng. Mặc dù đất nước Angola được thiên nhiên biệt đãi với tài nguyên được kể vào hạng các quốc gia phong phú nhất, nhưng dân chúng thiếu tiện nghi và nghèo đói đồng hạng với 9 nước khác tệ hại nhất hành tinh. Ngày 24/10/2010 vừa qua, khi đưa vợ con đi tắm biển về, xe của ông đã bị một xe khác áp tới để mưu sát. Cận vệ nổ súng giết hai người trên xe kia, và tìm thấy nhiều vũ khí. Vậy là số của ông nầy chưa được… siêu thoát, trời còn bắt ông sống để làm tổng thống nhiều hơn 32 năm.

Hạng Ba: Nước Guinea Xích đạo không đông dân, nên giữa 651 ngàn người, khó kiếm được ai xứng đáng để thay cho Teodoro Obiang Nguema Mbasogo, đã 32 năm bận rộn cầm quyền, sau khi lật đổ tổng thống Francisco Macías Nguema ngày 3/08/1979.

Vị tiền nhiệm của đương kim tổng thống Teodoro Obiang Nguema Mbasogo là người từng làm quốc tế kinh hãi, gọi đất nước nầy là “Dachau của Phi châu”, theo tên một nhà tù của Đức quốc xã từng giam 206.206 tù nhân và thiêu 31.951 xác tù trong Thế chiến thứ Nhì. Có lẽ dấu ấn của nhà độc tài Macías Nguema để lại khá đậm nét, làm người kế nhiệm ông khó tránh ít nhiều theo vết bánh xe lăn. Dưới thời Macías Nguema, một phần ba công dân trốn ra tị nạn ở nước ngoài, sau khi tổng thống thiết lập guồng máy gia đình trị, cấm dùng chữ “trí thức”, và triệt phá tất cả tàu thuyền, cấm câu cá, tự phong cho mình là “Phép lạ Độc nhất”, là “Chủ tể giáo dục, khoa học và văn hóa”. Trong năm 1971, tổng thống Nguema ban hành Đạo luật số 415 để tự trao cho mình quyền hành trực tiếp trên Chính phủ và Các Ban Ngành, kể cả lập pháp và tư pháp, cũng như quyền điều khiển nội các. Sau đó, ông ban hành tiếp Luật số 1, áp dụng án tử hình cho cá nhân nào hăm dọa tổng thống hay chính phủ của tổng thống, và án 30 năm tù giam cho những ai nói hành nói tỏi nhà nước. Năm 1972, ông ban hành tiếp Đạo luật số 1, tự quyết định mình là Tổng thống Vĩnh cửu. Sau khi giết thống đốc ngân hàng trung ương, ông chuyển tất cả vàng bạc bảo chứng cho tiền tệ quốc gia về nhà riêng ở làng ông. Lễ Giáng sinh năm 1975, ông ra lệnh mang 150 người có thái độ chống đối ra sân vận động Malabo bắn bỏ, trong khi cho loa phóng thanh mở thật lớn bản nhạc “Those Were The Days” của Mary Hopkin để át tiếng súng.

Ngày 3/08/1979, thống đốc quân sự tỉnh Bioko kiêm Phó bộ trưởng Bộ Quân lực Teodoro Obiang Nguema Mbasogo làm đảo chánh. Thoạt đầu, lính của Macías Nguema còn kháng cự lẻ tẻ, sau đó bỏ súng chạy lấy thân, và bỏ rơi tổng thống. Ông bị bắt sống hai tuần sau. Trưa 29/09 cùng năm, Nguema bị tuyên 101 bản án tử hình, và bị niêm phong tài sản. Vì trong nước không có tòa cao hơn, nên bản án của Tòa án Quân sự Đặc biệt coi như tối hậu. 6 giờ chiều hôm xử án, Macías Nguema cùng 6 tội phạm khác được trói vào cột trước một tiểu đội hành quyết người Morocco. Ngày nay, Macías Nguema được nhắc nhở như một Pol Pot của Phi châu. Teodoro Obiang Nguema Mbasogo lên kế vị tổng thống, thừa hưởng con số không từ ngân khố quốc gia, để bắt đầu một giai đoạn độc tài và tham quyền cố vị hơn. Ông đắc cử tổng thống năm 1982 với nhiệm kỳ 7 năm. Năm 1989 ông là liên danh duy nhất ra ứng cử, nên đắc cử nữa, cũng như tái đắc cử năm 1996, năm 2002 và năm 2009. Dù không tàn ác như thời tổng thống Nguema, các nhà quan sát trong nước cũng như quốc tế nhìn nhận chế độ của Obiang rất rõ nét độc tài, siêu tham nhũng. Ký giả Peter Maass gọi Obiang là tên độc tài tệ hại hơn cả nhà độc tài Robert Mugabe của Zimbabwe. Theo luật do Obiang chế tạo ra, an ninh hay công an ngang nhiên giết chết, bắt cóc, tra tấn hay giam giữ những ai mà họ coi là tội nhân. Tháng 7/2003, đài phát thanh nhà nước tuyên bố Obiang là chúa, kẻ có “liên lạc với Đấng Toàn Năng”“có quyền quyết định giết chết bất cứ ai mà không trách nhiệm lương tâm và không xuống địa ngục”. Coi trời bằng vung như thế, nhưng ông vẫn rêu rao mình là một tín đồ Thiên Chúa giáo, và được cả Giáo hoàng John Paul II lẫn Giáo hoàng Benedict XVI tiếp kiến tại Vatican. Tạp chí Forbes tiết lộ Obiang là một trong những nguyên thủ quốc gia giàu có nhất, với tài sản khoảng 700 triệu Mỹ kim. Obiang nói với quốc dân rằng ông giữ tài sản quốc gia làm của riêng để ngăn chặn các công chức khỏi bị cám dỗ và nhúng tay vào con đường tham nhũng. Để thực hiện việc ngăn chặn ấy, có lần ông “đành lòng” ký thác hơn một triệu rưỡi Mỹ kim vào các trương mục mang tên ông và vợ con, tại ngân hàng Riggs Bank ở Washington DC, làm tòa án liên bang phải buộc ngân hàng nầy đóng 16 triệu tiền phạt.

Hạng Nhì: nói tới quốc gia Yemen với 23 triệu rưỡi dân thì ít người biết, nhưng nói tới Ali Abdullah Saleh, ai cũng biết, vì kỷ lục tham quyền cố vị của ông và vào thành tích đen tối của ông tổng thống 65 tuổi.

Saleh ra đời năm 1946 ở thị trấn Bayt al-Ahmar. Với trình độ học vấn chưa “tốt nghiệp” bậc tiểu học, ông bắt đầu con đường hoạn lộ bằng cách chui vào lính và leo lên tới chức hạ sĩ trong quân đội Bắc Yemen. Năm 1977, ông được các lãnh tụ bộ tộc của ông đề bạt, để được tổng thống Bắc Yemen bổ nhiệm làm thống đốc quân sự miền Taiz. Năm kế, sau khi một phái bộ hòa bình của Cộng hòa Dân Chủ Nhân dân Yemen (Nam Yemen) của những người có khuynh hướng Cộng sản ám sát tổng thống Ahmed Hussein Al-Ghashmi của miền bắc bằng một trái bom giấu trong cặp hồ sơ xách tay hôm 24/06/1978, Saleh được quốc hội đề cử làm tổng thống Cộng hòa Ả rập Yemen (Bắc Yemen), kiêm tham mưu trưởng, kiêm tư lệnh quân đội. Qua tháng 12/1997, quốc hội phong thêm chức nguyên soái sau khi bằng con đường ngoại giao ông thu hồi về được cho Yemen một hòn đảo từ tay Eritrea. Với nhiều quyền bính tập trung trong tay, năm 2004 ông phát động chiến tranh với phe khởi nghĩa Houthis ở phía bắc, làm chết hơn 10 ngàn người.

Là nước thân thiết với Iraq, năm 1990 Saleh ủng hộ Saddam Hussein xâm lược Kuwait, nên sau khi Iraq bị Mỹ đánh bật, vô số kiều dân Yemen bị trục xuất hàng loạt bởi chính quyền Kuwait. Sau khi hai miền Nam Bắc Yemen thống nhất vào ngày 22/05/1990, từ việc chia chác chức quyền nội các không làm vừa lòng Đảng Xã hội của miền Nam, năm 1994, hai bên lại đánh nhau. Năm 1999, sau khi Saleh đắc cử tổng thống, quốc hội sửa hiến pháp, gia tăng nhiêm kỳ tổng thống từ 5 lên 7 năm. Trong buổi lễ mừng năm thứ 24 cai trị đất nước vào tháng 7/2002, Saleh tuyên bố sẽ không ra tái tranh cử nữa, nhưng tới tháng 6/2006, ông đổi ý, chấp nhận sự đề cử của đảng để tiếp tục tranh cử “dưới sức ép của quần chúng và lời khẩn cầu của nhân dân Yemen”. Kết quả, ông đánh bại đối thủ Faisal bin Shamlan, và đắc cử, rồi đăng quang ngày 27/09/2006.

Cuối năm 2010 và đầu năm nay, dân chúng xuống đường ở Sanaa, đòi Saleh thoái vị, sau hơn ba mươi năm cầm quyền không một chút cải cách dân chủ, bao che tham nhũng và bắt bớ những người hoạt động nhân quyền trong đó có phụ nữ. Sau khi cao trào xuống đường hạ bệ được tổng thống Zine El Abidine Ben Ali của Tunisia hôm 14/01/2011, và trước cuộc xuống đường dũng cảm của nhân dân Ai Cập làm lung lay chế độ Mubarak, vào ngày 2/02/2011, Saleh lại dụ khị dân bằng mánh lới cũ, tuyên bố sẽ không ra tranh cử vào năm 2013. Dĩ nhiên, dân chúng không ăn món thịt thỏ của tổng thống hâm lại lửa thứ nhì. Họ vẫn biểu tình, mặc dù bị sát hại. Ngày 23/02 vừa qua, mười một đảng viên của đảng cầm quyền đã trả thẻ đảng, để bày tỏ phản ứng trước việc người dân không vũ trang bị đàn áp tới chết. Nếu 32 năm vừa qua ông ấm êm trên thương đau của dân tộc, thì năm nay, tổng thống Saleh sẽ đối đầu với những người dân bị chính ông cướp hết quyền sống, và dồn vào chân tường.

Hạng Nhất: So với tổng thống của Libya, 14 cao thủ võ lâm vừa kể chỉ là hạng tép riu. Cầm quyền từ sau cú đảo chánh ngày 1/09/1969, đến nay, nguyên thủ quốc gia Muammar Qaddafi đã đè đầu cỡi cổ thiên hạ trên 41 năm, tức hết hai phần ba quãng đời của ông, cũng như ngang với tuổi thọ trung bình của một công dân Libya. Nhưng đừng gọi ông là tổng thống; ông không vừa lòng đâu. Ông thích được gọi là “đại tá” hơn.

Trước bình minh của ngày kỷ niệm 30 năm Đức Quốc Xã tràn vào Balan, hôm 1/09/1969 ấy, một nhóm quân nhân do đại tá Saad ed-din Bushweir cầm đầu đã dàn xe tăng với bộ binh tùng thiết ở Tripoli để cướp chính quyền từ quốc vương Idris. 5 giờ sáng, chỉ sau 120 phút, các yếu điểm chiến thuật trong thủ đô, kể cả hoàng cung, các bộ chỉ huy quân sự và an ninh đã bị tiến chiếm. Thiết quân luật được ban hành, mọi liên lạc viễn thông với thế giới bên ngoài bị cắt bỏ. Phe đảo chánh đọc tuyên ngôn rằng Libya bước vào chế độ cộng hòa, hoàng tử Hassan thông báo ủng hộ tân chế độ, Hội đồng Chỉ huy Cách mạng đổi tên nước là Cộng hòa Ả rập Libya, với chủ trương đoàn kết, tự do và xã hội chủ nghĩa.

Ngày 21/12/1988, chuyến bay PanAm 103 bị cài bom nổ tung trên không phận Lockerbie thuộc Scotland, làm thiệt mạng toàn thể 243 hành khách và phi hành đoàn 16 người; các mảnh máy bay bị xé vụn rơi xuống đất làm chết thêm 11 người nữa. Hoa Kỳ và Scotland cáo buộc hai công dân Libya là thủ phạm, nhưng Qaddafi chối bỏ tất cả trách nhiệm, cho đến tuần rồi khi một viên chức chính phủ Tripoli đào thoát và thú nhận vụ đánh bom là lệnh trực tiếp của Qaddafi. Do phủ nhận là kẻ chủ mưu vụ tàn sát nầy, Libya bị Liên Hiệp Quốc cấm vận, mãi đến 2003 Qaddafi chính thức nhận trách nhiệm và chịu bồi thường cho các nạn nhân, đồng thời ông cũng bằng lòng hủy bỏ chương trình vũ khí hạt nhân, nên tổng thống Bush Con ngưng cô lập Libya và chấm dứt cấm vận thương mãi vào năm 2004, làm kinh tế quốc gia nầy phất mạnh nhờ xuất cảng dầu lửa.

Ngòi lửa dân chủ từ Tunisia và Ai cập đã lan qua nhiều nước Trung Đông và Bắc Phi, nhưng không ngờ người dân Libya trong một chế độ công an trị hết sức dã man lại là những người sớm quật khởi nhất, và dám gánh chịu nhiều tổn thất sinh mạng nhất. Trên các bức tường của thành phố lớn thứ nhì chỉ sau thủ đô, các ký giả đã đọc thấy những khẩu hiệu thật lớn: “Chúng ta khởi động tại Benghazi và sẽ kết thúc tại Benghazi”. Quả thế. 42 năm trước, từ Benghazi, đại tá Qaddafi cầm quân xuất trận, tiến về Tripoli, và lên nắm chính quyền. Cũng chính Benghazi hai tuần trước đây trở thành cái nôi của cuộc khởi nghĩa chống Qaddafi, nơi các lữ đoàn an ninh của ông bị đánh bật bởi những người xuống đường khai mào cho một cuộc tỉ thí đẫm máu nhằm lật đổ kẻ cầm quyền dai dẳng nhất hành tinh. Trong thành phố được giải phóng không theo nghĩa của những người Cộng sản, người dân dặn dò nhau tiếp tục cuộc khởi nghĩa và cẩn thận bảo vệ ngõ ngách hẻm phố. Các đồn công an đã bị phóng hỏa, dân chiếm doanh trại quân đội để tiếp thu vũ khí. Các cơ sở hành chánh bị đốt cháy bằng mồi vỏ xe, nhất là tòa nhà của Bộ Nội Vụ. Dân đã làm chủ tòa án, đài phát thanh địa phương, và đang thực hiện các chương trình truyền thanh của Đài Libya Tự Do, để liên tục báo tin chiến thắng tới khắp mọi miền đất nước. Một người cầm đầu “cuộc khởi nghĩa 17 tháng Hai” tên Intisar Mubarak nói với ký giả quốc tế: “Chúng tôi tìm cách giải phóng toàn thể Libya, chứ không chỉ riêng Benghazi. Chúng tôi muốn thiết lập dân chủ cho một quốc gia dân sự trên cả nước”. Một luật sư 39 tuổi khác tên Fathi Terbil được công chúng coi là người đầu tiên khởi động cuộc xuống đường ở Benghazi. Từ gần hai năm nay, Terbil liên tục tham gia những cuộc diễn hành hàng tuần yêu cầu nhà nước tiết lộ danh sách 1.200 tù nhân lương tâm đã bị sát hại trong nhà giam Abu Salim ở thủ đô, từ năm 1996 tới nay. Mặc dù chính quyền đe dọa bỏ tù đính kèm những vụ ám sát mờ ám, các nhóm biểu tình vào mỗi thứ Bảy hàng tuần vẫn tiếp diễn. Ngày 15/02 vùa qua, Terbil bị bắt và giam giữ 2 ngày, trở thành mồi lửa đấu tranh cho các luật sư, những người hoạt động nhân quyền và thân nhân các nạn nhân xuống đường bày tỏ sự ủng hộ. Anh hi vọng một ngày rất gần Qaddafi sẽ ra trước vành móng ngựa để trả lời về các tội ác chống lại nhân dân Libya và nhiều nơi khác trên thế giới mà hắn ta sử dụng bạo lực và khủng bố. Trong những giờ phút cuối cùng, Qaddafi đã dùng cả máy bay để ném bom dân mình biểu tình ôn hòa, buộc quốc tế phải lên tiếng.

Trước khi bị Liên Hiệp Quốc đồng thanh biểu quyết cấm vận với 15 phiếu thuận và không phiếu chống vào chiều thứ Bảy 26/02/2011, các chuyên gia cá độ của hệ thống InTrade cho rằng chuyến nầy đại tá nhà ta có từ 75% tới 86% khả năng tiêu tán đường sự nghiệp chính trị, trong khi cũng chính những người nầy nhận định rằng khả năng đi tàu suốt của quốc vương Al Khalifa bên nước Bahrain là 55%, còn Ali Abdullah Saleh của Yemen 49%, Ahmadinejad và Ali Khamenei chỉ tới 16%.

Trước làn sóng biểu tình bất bạo động của dân, ngày 22/02, Qaddafi tuyên bố sẽ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, sẽ chết hoặc sống trên đất nước Libya, và không từ nhiệm – một bài diễn văn mà báo chí quốc tế bình luận rằng mang nặng giọng điệu Saddam Hussein hơn là Mubarak. Ngoi lên nắm quyền bằng việc leo dần theo cấp bậc “đơ dèm cà cuống” tới chức đại tá, nhưng sau khi vồ được cái ghế nguyên thủ quốc gia, ông Qaddafi hủy bỏ tất cả các chức vụ quân sự cao hơn cấp đại tá của mình, và bắt tay ngay vào một lề lối cai trị nghiệt ngã tàn ác không khác gì chế độ Cộng sản, nghiền nát bất cứ một mầm mống đối lập nào.

Đại tá Edgar O’balance là một ký giả quân sự của Anh, người đã để lại cụm từ “con chó dại của vùng Trung Đông” khi diễn thuyết về Muammar Qaddafi ở Hoa Kỳ. Ngay sau đó, cố tổng thống Reagan đã mượn nguyên văn câu ví von chính xác ấy để nói trên TV với công chúng Mỹ hồi tháng 04/1986. Một phần tư thế kỷ sau, chính Qaddafi đang tự chứng minh chân tướng mình qua câu nói không có trong bất cứ sách vở ngoại giao nào. Bị Liên hiệp quốc cấm vận, niêm phong tài sản, và cấm xuất ngoại, Quaddafi và 5 đứa con, cùng 10 thành viên cao cấp nhất của chính phủ không còn lối thoát. Giữa hai cách giải quyết cuối cùng, hoặc là chiến đấu và cắn càn đến khi bị giết, hoặc là thoái vị và nộp mình xin nhân dân khoan hồng, điều nào cũng đưa tới cái chết tủi nhục của một con chó dại cùng đường. Vì thế, đất nước Libya sẽ còn phải trả giả bằng một số máu của những kẻ chịu hi sinh vào giờ thứ hai mươi lăm.

 

NgyThanh

 

7 tệp đính kèm — Tải xuống tất cả tệp đính kèm (nén cho

Tiếng Anh (Mỹ)

)   Xem tất cả ảnh

Khi nhân dân không vũ trang dàn chào xe tăng của phe chính phủ Qaddafi.jpg
8344K   Xem Tải xuống
Người dân xuống đường trưng biểu ngữ chống Gaddafi tại thành phố Tobruk ngày 22-02-2011 – Ảnh Asmaa Wagui, Reuters.jpg
600K   Xem Tải xuống
Tự Do và Dân Chủ kiểu Qaddafi.jpg
414K   Xem Tải xuống
Xe tăng của quân đội Libya bị nhân dân thành phố Benghazi tịch thu ngày 21-2-2011 -Ảnh AP.jpg
63K   Xem Tải xuống
Bộ chỉ huy cảnh sát thị trấn Tobruk ở đông ngạn Libya bị dân khởi nghiã đốt cháy – Ảnh Ed Ou, NYT.jpg
249K   Xem Tải xuống
Colonel Gaddafi 01.jpg
243K   Xem Tải xuống
Colonel Gaddafi 02.jpg
305K   Xem Tải xuống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: