Kinh Tế Mỹ 2011 và Econobama Tiến Sĩ Tạ Cự Hải

Kinh Tế Mỹ 2011

và Econobama

Tiến Sĩ Tạ Cự Hải
Sau cuộc Đại Khủng Hoảng Thế Giới 1929-1939, và từ sau Đệ Nhị Thế Chiến đến nay nước Mỹ đã trải qua thêm 11 cuộc suy trầm kinh tế, nặng, nhẹ, dài ngắn khác nhau. Suy trầm (1) kéo dài 11 tháng (11/1948-10/1949); (2) 10 tháng (7/1953-5/1954); (3) 8 tháng ( 8/1957-4/1958); (4) 10 tháng (4/1960-2/1961); (5) 11 tháng (12/1969-11/1970); (6) 16 tháng (11/1973-3/1975); (7) 6 tháng (1/1980-7/1980); (8) 16 tháng (7/1981-11/1982); (9) 8 tháng (7/1990-3/1991); (10) 8 tháng (3/2001-11/2001); (11) 18 tháng (12/2007-6/2009).

Như vậy cuộc suy trầm 6 tháng (1/1980-7/1980) là ngắn nhất và cuộc suy trầm lần này 18 tháng (12/2007-6/2009) là dài nhất. (National Bureau of Economic Research – NBER).

Ngày 20/9/2010 vừa rồi, Văn Phòng Nghiên Cứu Kinh Tế Quốc Gia đã tuyên bố cuộc suy trầm kinh tế Mỹ kỳ này đã chính thức chấm dứt từ tháng 6, 2009 và được xác nhận là dài nhất kể từ Thế Chiến Thứ Hai. Về kỹ thuật, có lẽ sự suy trầm đã chấm dứt từ tháng 6/2009, nghĩa là đã được 17 tháng. Nhưng trên thực tế, đối với các giới đầu tư, doanh nghiệp, kỹ nghệ sản xuất, và nhất là giới tiêu thụ cho đến ngày nay vẫn chưa thực sự cảm nhận được sự phục hồi của nền kinh tế. Dân Mỹ cảm thấy lo sợ cuộc suy trầm thứ hai có thể xảy ra mặc dù phần lớn các kinh tế gia và chính phủ suy luận rằng điều này có một xác suất hầu như không đáng kể. Giai đoạn rơi tự do chắc chắn đã qua rồi, kể từ tháng 6, 2009 kinh tế Mỹ đã bước qua giai đọan phục hồi. Nhưng chẳng may, vận tốc phục hồi gần một năm rưởi nay quá chậm chạp đến nỗi người ta không cảm nhận được và còn tiếp tục kéo dài thêm một thời gian nữa mà không một ai có thể khẳng định sẽ là bao lâu. Yếu tố vô định đã ảnh hưởng không thuận lợi đến mức độ tin tưởng của người dân, mà hậu quả là tạo nên phản ứng tiêu cực, bảo thủ và dây chuyền của giới tiêu thụ, đầu tư, khiến sự phục hồi càng chậm chạp hơn. Sự suy trầm đã chấm dứt, sự phục hồi quá chậm chạp, kéo dài quá lâu, nạn thất nghiệp trung bình trên toàn quốc vẫn còn ở mức 9.8%, và nỗi lo sợ vẫn còn vây quanh. Đó là tình trạng của kinh tế Mỹ ở thời điểm hôm nay, dưới sự lãnh đạo của T/T Obama và Nội Các Dân Chủ của ông.

 

Thị trường địa ốc

Theo S&P/Case-Shiller Home Price Index (31/8/2010), trong năm 2009 giá nhà đã tăng 3.6%. Giá nhà đã giảm 2.8% trong tam cá nguyệt đầu và lại gia tăng đáng kể tới 4.4% trong tam cá nguyệt thứ nhì của 2010. Dù vậy, những dữ kiện địa ốc gần đây nhất cho thấy dấu hiệu giá nhà sẽ tăng ít hơn tại một số rất ít vùng và giảm giá tại phần lớn các đô thị. Chương trình giảm thuế cho những người mua nhà lần đầu đã chấm dứt, do đó thị trường sẽ nguội lại phần nào. Chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy nhà sẽ từ từ giảm giá trong những tháng tới. Ở thời điểm này, nhu cầu nhà cửa yếu kém hơn như nhiều người tưởng. Hậu quả có thể giá nhà trên toàn quốc trong năm 2011 sẽ thấp hơn giá nhà năm nay. Tháng Tám vừa qua, số lượng nhà cũ bán được có tăng trong khi nhà mới xây không thay đổi. Điều này chẳng có gì lạ vì cácc công ty xây nhà không thể vay tiền trong tình trạng kinh tế như hiện nay và người mua không thấy sự cấp bách và hấp dẫn để mua nhà. Nếu không có việc làm, chắc chắn người ta sẽ không đi mua nhà. Nếu tỉ lệ thất nghiệp không tăng và vẫn giữ mức 9.8%, tôi nghĩ thị trường sẽ có xu hướng phục hồi nhưng rất chậm chạp. Cũng như kinh tế, địa ốc mang tính cách địa phương, nghĩa là bị chi phối bởi các yếu tố địa phương nên thị trường sẽ khác nhau. Thị trường địa ốc tùy địa phương, sự phục hồi có thể thay đổi từ 2, 3 năm tới 5,6 năm hoặc 9, 10 năm. Số lượng nhà mới bán tăng 54.3% tại miền Tây trong tháng Tám. Đông Bắc tăng 16.7%, Trung Tây giảm nhiều nhất, 26.1% . Miền Nam giảm 10.8%. Tính tới đầu tháng 10 (2010), giá nhà nhà đã tăng trong 5 tháng liên tiếp, nhưng rất khiêm nhượng so với cùng thời điểm của năm 2009. Giá nhà tại Manhattan New York trong tháng 9 (2010) tăng 14%, trong khi ở Las Vegas, Phoenix, Miami, Detroit lại mất giá. Khoảng chừng 35% số lượng nhà bán được trong tháng 9 (2010) là nhà tịch thu (National Association of Realtors – 24/10/2010). Nói chung, số nhà tịch thu bán được chiếm 34% trên toàn nước Mỹ trong thời gian qua và riêng tiểu bang Nevada có tới 51% số nhà bán được là nhà tịch thu. Thế nên, vận tốc phục hồi của thị trường địa ốc còn tùy thuộc rất nhiều vào lượng tồn kho và kết quả giải quyết của số nhà bị tich thu. Cả nhà cũ lẫn nhà mới xây đều chưa đạt được thị trường bền, tháng này lên, tháng sau xuống. Tình trạng này sẽ còn tiếp tục kéo dài hay ngắn tùy tình trạng kinh tế địa phương. Đầu tháng 11 (2010), công ty phân tích thị trường Fiserv tiên đoán giá nhà sẽ giảm 7.1% trong thời gian tháng 6/2010-6/2011, Mark Zandi (chief economist, Moody‘s Analytics) nói rằng “giá nhà còn xuống nữa” và phỏng đoán “sẽ còn xuống 8% cho tới tham cá nguyệt quí 3 của 2011. Ngay cả 2012, giá nhà có thể có gia tăng chút ít, nhưng không đáng kể. Thị trường cần phải tới đáy trước khi có thể đi lên. Theo National Association of Realtors, trong tam cá nguyệt quí 3, 2010, mặc dù giá nhà xuống không đáng kể, nhưng số lượng nhà bán được đã giảm 25% so với tam cá nguyệt trước đó. Freddie Mac CEO Charcles Haldeman đã nhận xét “Năm 2010 sắp kết thúc, thị trường nhà cửa vẫn còn yếu, mới đây lại thêm sức ép bởi tình trạng kinh tế chậm chạp, công ăn việc làm yếu kém, và sự bất định của nạn nhà bị tịch thu, chúng tôi tin rằng cần phải có một thời gian đáng kể để thị trường địa ốc thực sự phục hồi.” Kinh tế gia Lawrence Yun của Hội Địa Ốc Quốc Gia Mỹ nhận định rằng (1) tiêu chuẩn cho vay tiền khó khăn, (2) sự thiếu niềm tin ở thị trường của giới tiêu thụ đã khiến cho người mua gượm lại vì tin rằng giá nhà còn đi xuống thêm nữa, và (3) sự thiếu ổn định của kinh tế hiện nay đã làm cho ngay cả người đang có việc làm cũng cảm thấy bị đe dọa thất nghiệp. Vấn đề cốt yếu vẫn là công việc làm. Không có việc làm là không có khách mua nhà. Theo thăm dò mới nhất (Standard & Poor ‘s/Case –Shiller Index & Washington Post Dec 29,2010) trong 20 thành phố lớn nhất và vùng phụ cận trên toàn nước Mỹ chỉ có 3 vùng có giá nhà gia tăng trong năm 2010. Dẫn đầu là vùng thủ đô Washington DC tăng 3.7%, kế tiếp là Los Angeles 3.3%, San Diego 3.0% và San Francisco 2.2%. Nhà tại 16 thành phố còn lại đều giảm giá. Boston (-0.2%),  New York (-1.7%), Denver (-1.8%), Cleveland (-2.6%), Minneapolis   (-2.8%), Dallas (-3.1%), Miami (-3.4%), Las Vegas (-3.6%), Tampa (-3.6%), Seattle (-4.1%), Charlotte (-4.2%), Phoenix (-4.3%),  Portland (-5.2%), Detroit (-5.5%), Atlanta (-6.2%) và Chicago (-6.5%). Ngay cả những địa phương có giá nhà tăng chút ít trong năm 2010  như Washington DC, Cali, cũng sẽ rơi vào tình trạng chung của thị trường địa ốc toàn quốc là giá nhà có thể tiếp tục giảm thêm 5-10% trong năm 2011. Các dữ liệu tam cá nguyệt quí 4 vừa rồi báo hiệu những tháng khó khăn sắp tới của thị trường địa ốc, cần một thời gian đáng kể tùy theo địa phương để phục hồi, và do đó cuộc khủng hoảng địa ốc chưa kết thúc trong vài ba năm tới. Không ai ngạc nhiên khi thấy trong thời gian vài ba năm vừa qua đã có rất nhiều người từ Âu châu, Á châu, đặc biệt từ Trung quốc, Úc đại lợi và cũng có nhiều nhà đầu tư lớn nhỏ tại Mỹ đã mua địa ốc với giá rẻ để đầu tư sinh lời và đáp ứng nhu cầu thuê nhà đang lên cao tại Mỹ.

 

Nhà bị tịch thu

Vay tiền mua nhà, bất cứ vì lý do gì, không trả tiền đúng hạn kỳ, gọi là trả trễ. Không trả tiền nhà khoảng chừng 3 tháng, ngân hàng sẽ tiến hành thủ tục tịch thu nhà (foreclosure).

Lúc nào cũng có những vụ tịch thu nhà xảy ra, nhưng đặc biệt trong 3 năm vừa qua tình trạng trở nên rất đông đảo, ồn ào và trầm trọng. Sở dĩ như vậy là vì trong thời kỳ kinh tế phồn thịnh, sự kết hợp tội lỗi của thị trường địa ốc với giá ảo, thể thức cho vay tiền dưới tiêu chuẩn và lòng tham vô hạn và đoản kỳ của giới chuyên viên địa ốc, chuyên viên cho vay, người mua nhà ồ ạt đã vượt khỏi tầm kiểm soát, đưa tới sự sụp đổ của thị trường địa ốc, hệ thống cho vay, hệ thống tài chánh, nền kinh tế Mỹ và toàn cầu. Giữa năm 2006, tùy địa phương, thị trường địa ốc bắt đầu dao động và lần lượt đi vào khủng hoảng. Người mua tin tưởng vào giá ảo sẽ tiếp tục đi lên nên đã mua nhà giá cao khi kinh tế phồn thịnh, ít tiền down, tiền vay rất lớn với lãi suất rất thấp so với thị trường. Khoảng 3 năm sau, lãi suất cho vay được điều chỉnh theo lãi suất thị trường khiến cho tiền trả hàng tháng tăng cao. Khi bị khủng hoảng, nhà mất giá, tiền nợ lớn hơn trị giá nhà. Tới 23% gia chủ trên toàn quốc (Bloomberg 10/10/2010), Arizona 50% (ABCNews 12/11/2010) và Las Vegas 80% (NBCNews 12/11/2010) rơi vào trường hợp này. Nhà bán không được vì không có người mua, đã trở thành tình trạng tồi tệ nhất cho những người tự nhận là “đầu tư”. Hiện tượng “tự nguyện bỏ nhà”, “bắt buộc phải bỏ nhà” để cho nhà bị tịch thu trở thành rất phổ thông. Nhất là trong tình trạng kinh tế khủng hoảng, hàng triệu người mất việc làm hoặc giảm lợi tức, khó mà trả nổi nợ nhà, giữ nhà khỏi bị tịch thu. Hậu quả là hàng trăm công ty cho vay lớn nhỏ đã lần lượt phá sản và một số tài phiệt cũng đã bị pháp luật trừng phạt. Điển hình là ông Angelo Mozilo, nguyên sáng lập viên của Countrywide Mortgage đã phải trả cho chính phủ $67,5 triệu Mỹ kim tiền phạt về tội gian lận và còn có thể bị truy tố về hình sự trong tương lai.

 

Theo tài liệu thống kê của www.ForeclosureHelpandHope.org cung cấp bởi Mortgage Bankers Association, trung bình cứ 200 nhà sẽ có 1 nhà bị tịch thu. Riêng thủ đô Washington DC ước tính sẽ có khoảng 3 ngàn nhà bị tịch thu mỗi năm. Mỗi tam cá nguyệt sẽ có thêm 250 ngàn gia đình có nhà bị tịch thu. Năm 2010 Phoenix (Az) có số nhà bị tich thu tăng 25% so với năm trước (EzineMark.com 10/2010). Sacramento (Ca), cứ 122 nhà có 1 nhà nhận giấy báo tịch thu trong tháng 8/2010 (Sacramento R.E. Voice). Theo dữ kiện thống kê 2010 của ExpertHomeOffers.com, trong 6 tháng đầu của 2010 nước Mỹ đã có hơn 1 triệu 9 trăm ngàn nhà bị tịch thu (cứ mỗi 411 nhà có 1 nhà nhận giấy báo tịch thu). Có những vùng có tỉ số cao hơn, cứ mỗi 78 nhà có 1 nhà nhận giấy báo. Nơi nào có tỉ số thất nghiệp cao thì tỉ số nhà bị tịch thu cũng sẽ cao hơn. Ca, Az, Nv, Fl, Mi là những tiểu bang có tỉ lệ nhà bị tịch thu cao nhất nước Mỹ. Trong tam cá nguyệt quí 3, 2010 vừa qua, một số thành phố của 4 tiểu bang Ca, Fl, Nv, và Az đã nằm trong 13 vùng có nhà bị tịch thu nhiều nhất trên nước Mỹ (Realty Trac 28/10/2010). Las Vegas bị nặng nhất, dẫn đầu với mỗi 25 nhà có 1 nhà, nghĩa là khoảng 32 ngàn nhà bị lập thủ tục tịch thu. Cape Coral (Fl) đứng hạng nhì với cứ mỗi 35 nhà có 1 nhà bị tịch thu. Theo sau là 3 thành phố thuộc Central Valley của Ca là Modesto (1 trong 36), Stockton (1 trong 39) và Merced (1 trong 40). Những nguyên nhân chính của số lượng nhà bị tịch thu quá cao là do tỉ số thất nghiệp cao, mất hoặc giảm lợi tức , hồ sơ vay không trung thực, nợ nhà lớn hơn trị giá thực của nhà. Tình trạng tỉ số nhà bị tịch thu quá cao như thế này trong lịch sử Ca sẽ tiếp tục cho tới khi nào những vấn nạn trên được giải quyết, phát biểu của James Saccacio, CEO, Realty Trac. Miami có cả gần 59 ngàn nhà đang lập thủ tục tịch thu, nhiều hơn bất cứ khu vực thành phố nào khác. Los Angeles có gần 49 ngàn. Có một số khu vực đang thấy gia tăng đáng kể về số nhà bị tịch thu, chẳng hạn như vùng Rvierside-San Bernardino lên gần tới 36 ngàn, nghĩa là gần gấp đôi so với 3 tháng trước. Vallejo (Ca) có số hồ sơ đang tiến hành thủ tục tịch thu nhảy vọt lên 45% từ tam cá nguyệt này sang tam cá nguyệt khác; Tampa (Fl), tăng 58%; và San Diego phá kỷ lục gia tăng 62%. Ngay cả những người đã được giúp đỡ trong chương trình mortgage modifications cũng đã có tới 22% không trả nổi tiền nhà.

 

Tình trạng nhà bị tịch thu trầm trọng và ồ ạt như vậy nên các ngân hàng và công ty cho vay chạy đua với thời gian tiến hành thủ tục tịch thu nhà. Trên 50 tiểu bang Hoa Kỳ chỉ có 23 tiểu bang có luật bắt buộc phải có chấp thuận của tòa án cho hồ sơ tịch thu nhà. Thành thử đối với 23 tiểu bang này tòa án và ngân hàng cho vay đã bị tràn ngập, ối đọng với hàng ngàn hồ sơ mỗi tháng. Tòa án trông cậy vào sự cứu xét khả tín của ngân hàng, trong khi ngân hàng không đủ nhân viên để tra cứu hồ sơ hợp lệ nên đã xảy ra tình trạng “nhắm mắt ký tên” (robo-signing forclosure) của cả ngân hàng lẫn tòa án. Có những cáo buộc rằng luật sư của ngân hàng đã ngụy tạo chữ ký, lập tài liệu giả mạo để tịch thu nhà và còn được công ty khen thưởng. Chẳng hạn có một người Mỹ gốc Việt tên Tâm Đoàn làm việc cho Dept of pre-sale foreclosure của Bank of America tại Nam Cali chỉ cần 1 giây đồng hồ để ký mỗi hồ sơ tịch thu. Theo lời ông Tâm Đoàn, dĩ nhiên ông không có thì giờ để thực sự đọc giấy tờ mình ký, và trong một số trường hợp, ngay cả ông ta không hề biết ông đã đặt bút ký những hồ sơ nào.  Ông nói “Tôi mù tịt không biết mình đã ký những gì. Hoặc nhập cuộc hoặc bỏ cuộc vậy thôi” (CNNMoney.com 28/10/2010). Tình trạng tắc trách trầm trọng như thế này của ngân hàng đã bị phát giác và lập tức trở thành một khủng hoảng mới, đòi hỏi phải được giải quyết trước khi chương trình tịch thu nhà tiếp tục. Khởi sự ngày 1/10/2010, Ally Financial, rồi đến J.P. Morgan Chase, Bank of America, CitiBank và nhiều ngân hàng cho vay khác quyết định tạm ngưng thủ tục bán nhà tịch thu tại 23 tiểu bang nói trên. Nhưng vì bị áp lực từ nhiều phía, ngày 8/10/2010 các ngân hàng cho vay đã cho tạm ngưng trên tất cả 50 tiểu bang của Hoa Kỳ trong khi chờ điều tra và tìm giải pháp. Dù vậy chúng ta nên lưu ý rằng người vay nợ nhà vẫn phải tiếp tục trả tiền nhà đúng hạn kỳ như đã ấn định trong giấy nợ vay tiền mua nhà (Note). Cũng đừng vội trách ngân hàng cho vay vì xin nhớ rằng căn nguyên của tình trạng nhà bị  tịch thu vẫn là do chính chúng ta đã mua nhà quá khả năng tài chánh của mình.

Điều đáng ngạc nhiên là số người được giúp giảm tiền nhà bởi ngân hàng lại gấp đôi so với số lượng người được giúp đỡ bởi chính quyền Obama qua Home Affordable Modification Program. Mới đầu, chính Tổng Thống Obama đã dùng quyền phủ quyết đạo luật tịch thu nhà (7/10/2010) và can thiệp đòi phải ngưng ngay việc tịch thu nhà nhằm khai thác lợi điểm tâm lý và chính trị trong quần chúng, nhưng sau đó lại phải vội vã đổi lập trường bằng cách cổ võ nhu cầu cần thiết của việc tịch thu nhà. Sở dĩ như vậy vì các kinh tế gia cho biết nếu trì hoãn giải quyết tình trạng nhà tịch thu sẽ tự động kéo dài sự phục hồi của thị trường địa ốc và của nền kinh tế. Sau khi điều tra, các ngân hàng cho vay kết luận rằng số hồ sơ bất hợp lệ chỉ là thiểu số nên ngày 18/10/2010 đã quyết định tiếp tục việc tịch thu nhà như trước và hứa sẽ cung cấp đầy đủ tài liệu cần thiết cho các hồ sơ tịch thu nhà. Ngày 25/10/2010 Bank of America cho biết đã có thay đổi thủ tục tịch thu nhưng không tiết lộ chi tiết. Trong tháng 10, Bank of America (BoA) ít nhất đã công bố 3 lần rằng “căn bản của quyết định tịch thu nhà của chúng tôi là chính xác” (FORTUNE 2/11/2010). Tính đến giữa năm nay, BoA đã tiến hành thủ tục tịch thu nhà khoảng 19 tỉ Mỹ kim của chính ngân hàng mình và 88 tỉ Mỹ kim cho các ngân hàng cho vay khác (SNL Financial). BoA có thể chính xác ở điều là những người vay nợ đã không trả tiền nhà, nhưng vấn đề pháp lý quan trọng ở đây là Bank of Amrica đã không tuân hành luật pháp. Số lượng nhà tịch thu đem bán đã chiếm đến 34% so với tổng số nhà bán trên toàn quốc, và riêng tại tiểu bang Nevada tỉ số đã lên đến 51%. Đừng lượng giá thấp hậu quả của tình trạng nhà bị tịch thu đối với hệ thống tài chánh. Chính chứng khoán gốc từ tiền vay mua nhà (Mortgage-Backed-Securities) đã góp phần rất lớn vào sự khủng hoảng của thị trường địa ốc, hệ thống tài chánh và kinh tế Mỹ và lan ra cả toàn cầu. Hiện nay có khoảng 7 triệu nhà đang bị trả trể và có thể sẽ bị tịch thu và đem bán ra thị trường. Nhưng số lượng người mua nhà hiện nay quá giới hạn so với số lượng nhà đăng bán đang bị ứ đọng và gia tăng. Tình trạng nhà bị tịch thu trở nên thường trực, sẽ còn tiếp tục chừng nào mà thị trường việc làm chưa trở lại bình thường, và kinh tế do đó cũng chưa thể hoàn toàn phục hồi.

 

Kỹ nghệ xe hơi

Công ty sản xuất xe Ford đã không nhận tài trợ của chính phủ, tự chịu đựng và thoát khỏi cuộc khủng hoảng. Hai công ty General Motors và Chrysler đã nhận tài trợ từ chính phủ cũng đã và đang ra khỏi cuộc khủng hoảng. Cả 3 công ty chế tạo xe Mỹ đều gia tăng sản xuất các loại xe nhỏ hybrid, ít tốn nhiên liệu, kết hợp xăng và điện, cũng đã đóng góp đáng kể cho sự phục hồi kỹ nghệ xe hơi Mỹ. Trong năm 2010, hãng Toyota có trục trặc kỹ thuật về hệ thống thắng xe đã phải gọi về sửa lại hàng triệu xe, đã tạo ra một thuận lợi bất ngờ cho thị trường xe hơi Mỹ. Xe Ford lần đầu tiên trong nhiều thập niên đã trở lại dẫn đầu về số lượng xe bán tại Mỹ. Mới đây nhất, ngày thứ Tư 17/11/2010 hảng General Motors đã gây vốn hơn 20 tỉ Mỹ kim bằng cách đem bán chứng khoán qua thủ tục IPO (Initial Public Offer) với giá $33/cổ phần trên thị trường chứng khoán New York. Đây là một cải thiện quan trọng và ngạc nhiên trong kỹ nghệ sản xuất xe hơi Mỹ. Ngày thứ Năm 18/11/2010 giá chứng khoán của GM đã lên trên $35 Mỹ kim. GM sẽ trích ra 11,8 tỉ từ tổng số 20 tỉ đem trả nợ cho chính phủ Mỹ, sẽ giảm chủ quyền của cổ phần của chính phủ từ 61% xuống còn khoảng 33%, nghĩa làm giảm nợ từ 50 tỉ xuống còn 38,2 tỉ. Ngày 17/11/2010 trị giá thị trường của công ty GM được ước tính là khoảng 49,5 tỉ so với Ford Motor là khoảng 58 tỉ. Đây là một dấu hiệu của sự phục hồi của kỹ nghệ xe hơi Mỹ. Ngoài ra, cũng trong tháng 11/2010 hảng General Electric cho biết sẽ mua 25 ngàn xe Mỹ loại dùng điện trong thời gian sắp tới. Nếu không có những biến cố bất ngờ, chúng ta có thể tin rằng ngành sản xuất xe hơi Mỹ đang trên đường phục hồi.

Hệ thống tài chánh

Phần này đề cập đến hai lãnh vực chính của hệ thống tài chánh Mỹ là (1) Thị Trường Chứng Khoán và (2) Hệ Thống Ngân Hàng.
Thị Trường Chứng Khoán

Cuối tháng 8, 2010, thị trường chứng khoán Dow Jones đã lên tới mức 10150, Nasdag 2153 và S&P 500 đạt được mức 1065. Nhiều kinh tế gia cho rằng ở thời điểm ấy, giá chứng khoán đã có giá ảo vượt hẳn giá trị thực của các doanh nghiệp có tên trong danh sách được dùng để tính chỉ số. Vì thế tháng 9 có thể là thời gian khó khăn cho thị trường chứng khoán vì những phúc trình kinh tế không tốt và tiếp tục làm dao động lòng tin của giới tiêu thụ vào kinh tế Mỹ. Giá vàng nhờ vậy tăng lên gần $1300 Mỹ kim/ounce. Thậm chí có người nói rằng giá vàng có thể vọt lên tới $2300! Ngày thứ Sáu 24/9/2010, giá vàng lên trên $1300. Tháng 9, Quỹ Dự Trử Liên Bang cam kết sẽ mua trái phiếu trị giá 600 tỉ Mỹ kim trong 8 tháng sắp tới qua chính sách Quantitative Easing (QE) nhằm kích thích kinh tế và ngăn ngừa một sự suy trầm thứ nhì có thể xảy ra. Chính phủ có vẻ không quan ngại vật giá leo thang (inflation) gây lạm phát bằng sự giảm và mất giá (deflation) của hàng hóa sẽ dẫn đến sự thua lỗ của ngành sản xuất, đưa đến tình trạng các xí nghiệp bị thua lỗ, sa thải nhân công hoặc phá sản, mà hậu quả là sự suy trầm kinh tế thêm một lần nữa. Điều này cũng đã gây ảnh hưởng tâm lý, làm mất niềm tin của người tiêu thụ và đầu tư nên họ thi nhau mua vàng thay vì đầu tư vào các lãnh vực kinh tế khác. Thật vậy, trong tháng 9, thị trường chứng khoán dao động và rộn ràng. Trung tuần tháng 9, thị trường có vẻ xôn xao bất lợi về sự phục hồi của kinh tế. Khi thấy giá chứng khoán lên hoặc xuống 3, 4 ngày rồi thay đổi lớn theo chiều ngược lại, đó là dấu hiệu sự thiếu tính bền của thị trường. Tưởng cũng nên nhắc lại, giá trị của chứng khoán là giá trị của sự kỳ vọng của người đầu tư, chứ không phải là giá trị thực. Ngày thứ Năm 23/9/2010 là một ngày khó khăn của Wall Street tương tự như gặp nạn đất chùi. Giới đầu tư chứng khoán sợ hãi, bán tháo bán đỗ, ồ ạt mua vàng như là một loại đầu tư an toàn. Vì vậy, vàng lên giá. Tuy nhiên, nhà đầu tư tỉ phú Warren Buffet khuyên chúng ta không nên đầu tư vào vàng. Ông dí dỏm “bạn có thể lấy tất cả số vàng đào được, chắc là sẽ chất đầy cả một khối mỗi bề 67 feet. Theo thời giá hiện nay, bạn có thể mua, không phải năm, bảy nông trại mà là tất cả nông trại trên nước Mỹ. Có thể mua thêm 10 công ty Exxon Mobil và vẫn còn 1 ức Mỹ kim (1 trillion dollars = 1000 tỉ dollars) rủng rỉnh đi chơi. Hay là bạn cũng có thể có một khối kim loại thật lớn. Bạn sẽ chọn thứ nào? Thứ nào sẽ sinh lợi nhiều hơn? Giới trung lưu Mỹ nên mua gì để chuẩn bị cho tuổi về hưu? – Câu trả lời là Equities” (Ben Stein 19/10/2010). Theo Warren Buffet, chúng ta chẳng nên trử vàng, hãy để tiền mua chứng khoán. Vì vậy mà ông ta giàu sụ, tài sản hàng trăm tỉ Mỹ kim, cho từ thiện cả 39 tỉ. Bà con Việt Nam nghĩ sao?

Bỗng sáng thứ Sáu 24/9/2010, phúc trình tốt từ ngành sản xuất đã đưa Dow Jones tăng 198 điểm (1.9%) lên mức 10860, với giá chứng khoán của tất cả 30 công ty thuộc DJ đều lên. Nasdag tăng 54 điểm (2.3%). S&P 500 tăng 24 điểm (2.1%). Tháng 9, 2010 là tháng 9 tốt nhất kể từ 1939 của Wall Street. Và thị trường chứng khoán trở lại “Bull Market”. Từ đầu tháng 10 đến nay (20/11/2010), thị trường có ngày lên, có ngày xuống, nhưng Dow Jones đã ở mức trên 11000. Wall Sreet vẫn còn ở “Bull Market”.

Có người tin rằng Wall Street sẽ tiếp tục đi lên vì theo sau một thời kỳ kinh tế suy trầm sẽ là giai đoạn phục hồi. Thêm vào đó là một Quốc Hội mới sau kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ mang màu sắc thân thiện với giới doanh nghiệp hơn thành phần Quốc Hội trước. Ngoài ra theo lịch sử, thường thị trường sẽ tự nhiên tăng mạnh sau một thời gian dài 6, 7 năm gặp kinh tế khó khăn. Nhận xét này nặng về cảm tính hơn khoa học.

Cũng có những người lý luận ngược lại, rằng kinh tế đang ở giai đoạn phục hồi, số thu nhập của các công ty đang lên cao, nhanh hơn cả vận tốc phục hồi của kinh tế. Có thể hiện nay Wall Street đang ở tình trạng tiểu-giá-ảo (mini-bubble), đồng thời giới đầu tư đang trả giá rất cao cho các công ty có lợi nhuận cao. Đây có thể là lý luận có giá trị về khoa học kinh tế hơn là theo cảm tính như ở phần trên.

Thị trường chứng khoán năm 2010 nói chung đã đạt được kết quả tốt vượt quá sự kỳ vọng.  Down Jones tăng +11.02%, NASDAG +16.91% và S&P 500 +12.78%.

Tôi nghĩ xác suất của một sự điều chỉnh giá cả của thị trường chứng khoán trong thời gian tới tương đối cao. Thị trường chứng khoán lên xuống theo mức độ kỳ vọng của giới đầu tư. Hiện tại sự kỳ vọng đó đang lên cao từ nguồn sinh khí mới, thuận lợi cho doanh nghiệp đến từ kết quả bầu cử giữa nhiệm kỳ. Thực ra ít có ai tiên đoán chính xác về Wall Street. Kinh nghiệm cho biết sự tiên đoán chỉ chính xác 2% mà thôi. 98% còn lại là tùy thuộc những yếu tố khác. Thường thì chúng ta chỉ biết sự thật sau khi sự kiện đã xảy ra . Thế nên người ta thường nói người “chơi stock” (play stock/trading) là người “canh me” (market timing), chẳng khác gì kẻ đánh bạc ở Las Vegas. Chắc chắn sẽ có người thắng, nhưng cũng chỉ 2%. Số còn lại không có may mắn như vậy. Đầu tư ngành nào cũng vậy, cần lâu dài, ít nhất 5 năm trở lên và cần phải tuân thủ một số qui luật căn bản về đầu tư.

Năm 2010 kết thúc với sự cải thiện về tính chất ổn định của thị trường chứng khoán. Standard & Poor’s 500-stock index tăng 12.8% ở mức 1257.64 và Dow Jones tăng 11% ở mức 11,577.51. Lãi suất Công khố phiếu (Government Bonds) 3.29%. US Dollar Index duy trì ở 78.97 không khác mấy so với đầu năm. Giá dầu thô $79.36 đầu năm 2010 và kết thúc $91.4 vào 12/31/2010, chứng tỏ niềm tin vào sự phục hồi và tiếp tục phát triển của kinh tế toàn cầu được củng cố. Nhu cầu tiêu thụ dầu của các nước đang phát triển, nhất là Trung Quốc và Ấn Độ, đã ảnh hưởng tăng giá dầu mặc dầu Mỹ đã giảm mức tiêu thụ.

 

Hệ Thống Ngân Hàng

Ngược lại với sự kiểm soát lỏng lẻo trong thị trường chứng khoán Mỹ, hệ thống ngân hàng Mỹ được chính phủ chăm sóc tương đối kỹ lưởng và qui cũ hơn. Theo Federal Deposit Insurance Corp. (FDIC), số ngân hàng liệt kê trong tình trạng nguy hiểm của đầu năm 2009 là 416. Tam cá nguyệt quí đầu của 2010 đã lên tới 775.  Cuối tam cá nguyệt quí 3 của 2010 đã tăng lên mức 829. Đây là bảng phong thần của những ngân hàng được FDIC xếp vào loại hầu như sẽ bị đóng cửa. Trên thực tế chỉ có chừng 13% trong danh sách đã thực sự bị chính phủ tịch thu và quản trị. Trong năm nay, tính đế 31/8/2010 đã có 118 ngân hàng sập tiệm, và trong số đó đã có 43 đóng cửa trong tam cá nguyệt quí 3 vừa rồi. FDIC Chief Sheila Bair tiên đoán năm 2010 số ngân hàng bị đóng cửa sẽ vượt hơn mức 140 của năm rồi. Mặc dù quỹ bảo hiểm của FDIC đã tăng $5,5 tỉ nhưng hiện tại vẫn còn thâm thủng khoảng 15,2 tỉ. Năm nay sẽ cần thêm tiền trả cho thân chủ ngân hàng bị đóng cửa, nhưng FDIC ước tính sẽ có dư quỹ để cáng đáng. Đồng thời những ngân hàng cũng như những công ty tài chánh khác được bảo hiểm bởi FDIC đã thu vào chừng 21,6 tỉ trong tam cá nguyệt quí 3 này. Đây là số thu nhập cao nhất trong gần 3 năm qua, và ngược hẳn lại với 4,4 tỉ thua lỗ của năm 2009.  Ngân hàng đã giảm số thua lỗ trong tam cá nguyệt xuống 40,3 tỉ (Source: FDIC), giảm hơn 40% so với năm rồi. Mặc dù số thu nhập của ngân hàng vẫn còn thấp so với tiêu chuẩn và số lượng ngân hàng trong danh sách nguy hiểm còn cao, FDIC cảm thấy lạc quan. Bà Sheila Blair nói “chừng nào mà những điều kiện kinh tế còn tiếp tục cải thiện, phần lớn ngân hàng và các công ty tài chánh sẽ chuyển động theo, có lời và gia tăng khả năng cho vay”.

So sánh danh sách những ngân hàng trong tình trạng nguy hiểm của năm 2009 và 2010, chúng ta nhận thấy có một sự cải thiện rõ rệt về số lượng. Chẳng hạn năm 2009 Cali có 17 đóng cửa, 2010 xuống còn 10; Il 21 xuống còn 16; Ga 25 xuống còn 11; riêng Fl từ 14 lên 21. Trường hợp tiểu bang Florida là một ngoại lệ. Phần lớn các tiểu bang khác đều có chiều hướng thay đổi tốt.

Ngân hàng trong thời gian phát triển của địa ốc đều ít nhiều có liên hệ đến dịch vụ cho vay. Nhìn ngược lại từ cuối tháng 10, 2010 trở về trước, chúng ta có thể nhận thấy tỉ số những hồ sơ cho vay trả trễ hoặc tịch thu của một số ngân hàng lớn như Bank of America (14%), JP Morgan Chase (11.6%), tất cả những công ty cung cấp dịch vụ cho mortgage (11.5%), Citigroup (9.3%), Wells Fargo (8.2%), đã nói lên mức độ trầm trọng và sâu rộng của ngành mortgage cho vay đã ảnh hưởng lên hệ thống tài chánh nói chung và ngân hàng nói riêng. Sự ảnh hưởng này chẳng những đã ảnh hưởng trong nước Mỹ mà còn cả thế giới xuyên qua sự tiếp sức cực kỳ hiệu nghiệm và vô biên giới của mạng lưới toàn cầu. Sự phát triển và lan rộng đã vượt khỏi tầm tay quản trị của hệ thống tài chánh và khả năng kiểm soát của chính phủ. Cũng may là nhờ cuộc khủng hoảng kinh tế ngoài ý muốn và bất hạnh này, nước Mỹ và thế giới dù muốn hay không cũng đã có được một bài học quí báu về quản trị và kiểm soát hệ thống tài chánh, ngân hàng, thị trường chứng khoán theo mô thức mới của thời đại internet. Nói chung, ở thời điểm hôm nay, hệ thống ngân hàng Mỹ đang trên đường ổn định và phục hồi theo nhịp độ phục hồi chậm chạp của nền kinh tế.

 

Chiến tranh Đô La

Thị trường tiền tệ tự nó đã tiềm ẩn tính cách thay đổi nên hầu như chắc chắn là sẽ có vấn đề. Chiến tranh tiền tệ giữa các cường quốc kinh tế trên thế giới chắc chắn đang ngấm ngầm thường xuyên chuẩn bị. Đồng Mỹ kim vẫn là trọng tâm của cuộc thế chiến tiền tệ. Nhưng thế nào là chiến tranh tiền tệ và chừng nào nó sẽ nổ tung ra thì ít ai có thể biết chính xác cả.

Tăng giá đơn vị tiền tệ của đồng Euro đối với đồng Mỹ kim không hẳn là điều tốt cho kinh tế Liên Hiệp Âu Châu. Ngược lại chính sách giảm giá đồng Nhân Dân Tệ lại là một vũ khí lợi hại của Trung Quốc để tăng cường sức mạnh kinh tế hầu đuổi kịp Mỹ.

Những căng thẳng đang leo thang giữa các cường quốc kinh tế hàng đầu khi các tổng trưởng tài chánh tìm cách giảm giá đồng bạc của nước họ để tạo điều kiện thuận lợi cho cán cân mậu dịch và kinh tế. Giảm giá tiền tệ sẽ thu hút ngoại quốc vào đầu tư, du lịch, thêm ngoại tệ, gia tăng xuất cảng, bớt nhập cảng, lợi thế cạnh tranh giá nhân công, thụ hưởng “outsource” chế tạo đến từ các nước tư bản, đặc biệt là Mỹ. Nói chung, kết quả sẽ mang lại phồn thịnh cho nền kinh tế quốc gia. Hiện nay dẫn đầu là Trung Quốc và Ấn Độ cùng một số nước Á châu khác như Việt Nam, Nam Hàn, Nam Dương, Banglabesh, một số nước Nam Mỹ đang khai thác và thụ hưởng lợi nhuận “outsource” này từ Hoa Kỳ. Chính phủ Mỹ đang giữa cuộc khủng hoảng kinh tế đang phục hồi quá chậm chạp, bị ảnh hưởng bởi tình trạng thâm thủng ngân sách trong nước và bất quân bình cán cân mậu dịch với Trung Quốc. Nhu cầu giảm nợ, quân bình ngân sách và cán cân mậu dịch trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đối với kinh tế Hoa Kỳ hiện nay. Hoa Kỳ đã nhiều lần yêu cầu và áp lực Trung Quốc tăng giá đồng Nhân Dân Tệ để điều chỉnh và cải thiện cán cân mậu dịch nhưng đã từng ấy lần bị Trung Quốc hoặc tránh né hoặc từ chối hợp tác một cách thành tâm. Mặc dù nước Mỹ dẫn đầu chỉ số Tổng Sản Lượng Nội Địa (Gross Domestic Product – GDP), nhưng Trung Quốc đang xếp hạng thứ 6 trong năm 2000 đã nhảy lên thứ nhì sau Mỹ trong năm 2010 (Source: Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund – IMF Nov 2010). IMF còn ước lượng trong 5 năm tới Trung Quốc sẽ tiếp tục đứng nhì, chỉ sau Mỹ mà thôi. Đây rõ ràng là một đe dọa kinh tế và tài chánh cho cả Mỹ lẫn Nga, châu Âu và thế giới. Từ đe dọa kinh tế đến đe dọa xâm lăng quân sự và chính trị là một bước khả hữu. Vậy thì liệu có phải chúng ta đang ở trong cuộc chiến tiền tệ hay chưa? Tổng Trưởng Ngân Khố Mỹ Tim Geithner đã dỏng dạc trả lời là không trong cuộc phỏng vấn đầu tháng 10, 2010 với Charlie Rose. Ông nói không có độ phi phỏng nào về cuộc căng thẳng đến độ có thể leo thang lên một cuộc chiến tranh về tiền tệ. Tuy nhiên Bộ Trưởng Tài Chánh Ba Tây Guido Mantega không có cùng quan điểm. Tháng Mười vừa qua ông công khai tuyên bố rằng “cuộc chiến tranh tiền tệ quốc tế đã thực sự bùng nổ”. Khi bị dồn vào thế chẳng đặng đừng, Phát Ngôn Nhân của Bộ Ngân Khố Mỹ đã trả lời qua email:”Tôi không nghĩ rằng chúng tôi đúng là người để trả lời về định nghiã này cho quí vị đâu. Theo tôi hiểu, ông Tổng Trưởng Tài Chánh Ba Tây là người đã nói như vậy thì tốt hơn nên hỏi thẳng ông ấy”. Theo tôi, câu trả lời là như thế này: Chẳng có ai thực sự biết chính xác chừng nào thì loại căng thẳng kinh tế toàn cầu như thế này trở thành chiến tranh. Ngay cả ông Tổng Trưởng Tim Geithner khẳng định là không có độ phi phỏng nào để có chiến tranh, hình như là cũng không ở vị trí để có thể xác định nó. Dầu chúng ta có xác định thế nào đi nữa, sự căng thẳng trên mặt trận tiền tệ là có thật. Cuộc chiến tiền tệ dẫn đến những cuộc chiến mậu dịch, tác hại trầm trọng đến cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn cầu hiện nay. Sự khống chế và phát triển thị trường nhanh chóng của Trung Quốc, tình trạng kinh tế chậm lụt của Mỹ và các phần khác trên thế giới đã khiến cho các nhà lãnh đạo  trên thế giới đặc biệt cảm thấy họ bị nhồi nặn bởi sự ma giáo về tiền tệ hiện nay. Tôi nghĩ vấn đề sâu sắc hơn là chỉ giới hạn trong lãnh vực tiền tệ, nó có liên quan nhịp nhàng với chính sách và tham vọng chính trị của các nước liên hệ (đặc biệt Trung Quốc và Nga) trong ý đồ thống lĩnh và áp chế các quốc gia khác về lâu về dài.

Đầu tháng Mười Một, lãnh tụ của 20 quốc gia đã họp G-20 tại Seoul, thủ đô Nam Hàn nhằm tiết chế tình trạng căng thẳng của chiến tranh tiền tệ và đi đến kế hoạch ổn định kinh tế toàn cầu. Sau 2 ngày họp thượng đỉnh, nhóm 20 quốc gia thuộc G-20 đã phổ biến cái gọi là Kế Hoạch Hành Động Seoul, là một thông điệp đề ra những chính sách về kinh tế vĩ mô, nhằm tăng cường sức mạnh kinh tế và ngăn ngừa thế giới rơi vào một cuộc khủng hoảng khác. Một trong những cam kết là tiết chế về sự cạnh tranh giảm giá tiền tệ. Đây là một lưu ý trực tiếp tới một trong nhiều chủ đề tranh chấp trong liên hệ tài chánh quốc tế: sự tranh luận về tiền tệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Tuy nhiên hội nghị cũng chưa đạt được sự đồng thuận rõ ràng nào về vấn đề căng thẳng tiền tệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này chứng tỏ hội nghị thượng đỉnh G-20 không thực sự có ảnh hưởng đáng kể đối với những vấn nạn kinh tế mà thế giới đang đương đầu.

 

Jobs! Jobs! Jobs!

Nếu kỹ nghệ địa ốc và mortgage của 2007 đã dẫn tới làn sóng tịch thu nhà cửa, khởi sự cho cuộc khủng hoảng của hệ thống tài chánh, hệ thống ngân hàng, kinh tế Mỹ và toàn cầu, thì nạn thất nghiệp là nhân tố tối hậu chi phối sự phục hồi của kinh tế 2010 và những năm tới.

Kinh tế suy sụp, dân chúng bị thất nghiệp, từ vị trí có giá trị sản xuất và khả năng tiêu thụ bỗng biến thành không có giá trị sản xuất, không còn khả năng tiêu thụ và trở thành gánh nặng cho xã hội. Thiếu người tiêu thụ, hàng hóa không bán được, hàng tồn kho sẽ bị ứ đọng. Xí nghiệp do đó phải giảm hoặc tạm ngưng sản xuất, nghĩa là giảm giờ làm việc và bắt đầu sa thải nhân công. Tỉ số thất nghiệp sẽ gia tăng. Cái vòng lẩn quẩn cứ thế tiếp tục, càng ngày càng gây phản ứng dây chuyền làm suy sụp kinh tế. Cho tới giữa tháng 11/2010,  nước Mỹ đã tốn $319 tỉ cho tiền trợ giúp thất nghiệp (CNNMoney analysis of federal records). Tới hôm nay chúng ta đã biết cuộc suy trầm kinh tế đã thực sự bắt đầu từ tháng 12, 2007 và đã chính thức kết thúc vào tháng 6, 2009, nhưng tại sao kinh tế Mỹ chưa thực sự phục hồi và trở lại bình thường? Có thể là do kết hợp của những yếu tố sau đây:

1. Thứ tự ưu tiên sai lầm

Chính phủ Obama không đặt đúng thứ tự ưu tiên trong chính sách và chương trình trợ giúp phục hồi. Chính phủ đã hốt hoảng dồn hầu hết nỗ lực cứu giúp vào các đại công ty được coi là “too big to fail”. Tiền cứu nguy phần lớn đã đi vào túi tư bản thay vì duy trì công ăn việc làm cho dòng chính. Đây là một sai lầm trầm trọng của một nội các thiếu kinh nghiệm, phung phí tiền và không hiệu nghiệm.

2. Đóng cửa không cho vay

Giới tiểu thương đã bị chính phủ khóa cửa, không được cho cơ hội tín dụng để có thể vay vốn tư bản cần thiết. Hậu quả là họ đã chết dở trong việc tạo việc làm cần thiết để đưa kinh tế tới phục hồi. Theo phúc trình của Federal Reserve Bank of New York 18/10/2010, doanh nghiệp nhỏ đã tạo việc làm cho gần một nửa dân Mỹ, nghĩa là khoảng 60% của lực lượng lao động. Lịch sử cho biết doanh nghiệp nhỏ đã tạo nhiều việc làm hơn là những đại công ty trong giai đoạn kinh tế phục hồi.  Sự hạn chế cơ hội vay tiền đã giới hạn khả năng của doanh nghiệp nhỏ trong vai trò thiết yếu này. Phúc trình cũng cho biết hơn ¾ doanh nghiệp nhỏ nạp đơn vay tiền trong thời gian 6 tháng đầu 2010 chỉ nhận được chút ít hoặc không được vay số tiền mong muốn. Theo thăm dò của Ngân Hàng Trung Ương New York trong tháng Sáu và Bảy, 2010, đã có 59% trong số 426 người được thăm dò đã nạp đơn xin vay. Điều này chứng tỏ rằng cũng còn nhu cầu vay tiền của doanh nghiệp nhỏ. Nhưng 40 tỉ tiền cho vay đã biến mất: kể từ khi khởi sự suy trầm kinh tế, số tiền cho doanh nghiệp nhỏ vay từ $710 tỉ trong tam cá nguyệt quí 2, 2008  đã giảm xuống dưới $670 tỉ trong tam cá nguyệt đầu của 2010. Ngày 15/10/2010, Chủ Tịch Quỹ Dự Trử Liên Bang Ben Bernanke cho biết ngân hàng đã dễ dãi hơn đối với tiêu chuẩn cho vay và đây là dấu hiệu tốt. Trong 3 năm rưởi trời, phần lớn ngân hàng đã tạo thêm tiêu chuẩn khó khăn cho vay trong khi họ đã nhận hàng chục, hàng trăm tỉ từ quỹ cứu trợ của Federal Reserve Bank. Họ đã gây khó khăn, làm nản lòng doanh nghiệp nhỏ cần vay tiền, trái lại dùng tiền để thăng thưởng các giới chức cao cấp và đem đầu tư sinh lời cho đại công ty của họ. Chúng ta nên nhớ rằng “lãnh vực tư tạo công ăn việc làm, chứ không phải chính phủ“.

3. Luật lệ chi phối doanh nghiệp vô chừng

Trong giai đoạn khủng hoảng vừa rồi, doanh gia đã bị bỏ ra ngoài dòng chính và hốt hoảng quơ kiếm như những hiệp sĩ mù giữa cơn giông bão kinh tế. Xin đơn cử một ví dụ: Dick Kelly, CEO của Xcel Energy và Chủ tịch Edison Electric Institute chẳng ước gì hơn là chúng ta có một chính sách quốc gia và biết được luật lệ ra sao, để chúng ta có thể hành động. Kỹ nghệ điện lực chỉ biết loáng thoáng là có lẽ sẽ có những thay đổi trong luật liên bang; nhưng các cấp giám đốc mù tịt về những thay đổi nào sẽ có và khi nào sẽ xảy ra. Mọi người phải ngưng mọi quyết định quan trọng chẳng hạn như đầu tư nhiều tỉ bạc vào dự án biến đổi những nhà máy điện chạy than cũ kỹ sang nhiên liệu dầu khí, đòi hỏi nhiều chi tiết kỹ thuật. Không một ai biết và vì vậy không quyết định quan trọng nào đã có thể xảy ra. Rất nhiều công ty cung cấp nhu cầu thực dụng đã có những kinh nghiệm tương tự như vậy trong môi trường kinh tế. Do đó chúng ta có thể nhận thấy tại sao kinh tế phát triển rất chậm chạp thay vì nhanh hơn để cải tiến sự phục hồi của kinh tế. Khi dân chúng không biết chắc những gì sắp xảy ra, họ sẽ trở nên bất động, một hiện tượng được gọi là “tê liệt vì thiếu chắc chắn” (uncertainty paralysis). Khi ta không chắc chắn, ta dễ trở nên cẩn trọng quá mức. Do đó sự phục hồi kinh tế vốn đã chậm chạp lại càng thêm vô định.

4. Thiếu thống nhất và ưu tiên lãnh đạo

Nội các Obama không dành một thứ tự ưu tiên hợp lý cho cuộc khủng hoảng kinh tế, trái lại đặt chủ yếu vào các lãnh vực xã hội không có nhu cầu cấp thiết và ưu tiên lúc này, nên vấn đề tối quan yếu và cấp thiết trở thành tầm thường và ngược lại, đã làm cho chính sách cứu nguy kinh tế nếu có, trở nên bối rối không còn khả năng thành công. Thiếu những chính sách thống nhất khả thi, chỉ có những liều thuốc vá víu, chạy theo sau con bịnh, đặc biệt là thái độ thiếu thiện cảm gần như thù nghịch đối với giới tư bản, xu hướng xã hội của T/T Obama và nội các của ông đã khiến cho quyền tự do hiến định của công dân Mỹ từ từ bị xâm phạm và nền kinh tế tư bản Mỹ mất sinh khí của một đại cường, trở thành dở sống dở chết, hầu như kiệt lực.

 

Ben Bernenke, Chủ Tịch Federal Reserve tuyên bố trong 8 tháng sắp tới sẽ dùng $600 tỉ mua trái phiếu để gia tăng công ăn việc làm, duy trì sự ổn định vật giá và giữ vật giá leo thang ở mức độ thấp và có tính bền. Ngoài ra cũng sẽ tái đầu tư thêm từ $250 đến $300 tỉ vào trái phiếu trước giữa năm 2011. Ông viết: “tỉ lệ thất nghiệp trên toàn quốc gần 10% và lạm phát thấp hơn mức độ phần lớn các nhà làm chính sách của Federal Reserve ước đoán, được coi là phù hợp với chiều hướng của sự phát triển kinh tế tốt.” Tất cả những sự yểm trợ cần thiết nói trên còn có tác dụng ngăn ngừa hiện tượng mất giá (deflation) có thể gây tác dụng ngược cho sự phục hồi kinh tế. Thị trường chứng khoán với trị giá cao sẽ làm tăng tài sản của người tiêu thụ và giúp tăng niềm tin khiến người ta sẽ mua sắm nhiều hơn, và do đó kích thích sự phục hồi kinh tế nhanh hơn.

Có nhiều dấu hiệu về sự cải thiện của công việc làm trong tháng Mười vừa qua, tuy chưa có tính bền nhưng đây là một dấu hiệu tốt. Kinh tế thêm 151 ngàn việc làm cho tháng Mười (Labor Dept 5/11/2010). Lãnh vực tư hy vọng cũng sẽ thêm 92 ngàn việc làm. So với tháng Chín giảm 41 ngàn việc làm, đây là một sự cải thiện rõ rệt. Có lẽ đây là tín hiệu của khúc quanh về việc làm. Tuy là một bước nhỏ nhưng ít ra nó cũng đi đúng hướng. Mọi việc không thể trở lại tồi tệ thêm được. Doanh nghiệp tiếp tục thuê nhân công trong 10 tháng liên tiếp sau gần 2 năm liền lãnh vực tư liên tục giảm việc làm. Tuy vậy, thị trường việc làm vẫn còn yếu. Nước Mỹ cần phải có thêm khoảng 150 ngàn việc làm mỗi tháng để chỉ đủ theo kịp vận tốc gia tăng dân số, và ít nhất phải có 300 ngàn mỗi tháng để làm giảm tỉ số thất nghiệp. Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây là mặc dù kỹ nghệ địa ốc vẫn còn tiếp tục bị khủng hoảng nhưng kinh tế Mỹ đã ra khỏi giai đoạn suy trầm từ tháng 6, 2009 và chuyển sang giai đoạn phục hồi. Ngày 30/12/2010 Hội Địa Ốc Quốc Gia Mỹ cho biết số lượng hợp đồng bán nhà đã tăng 3.5% trong tháng 11 vùa qua, có lẽ là do kết hợp của giá nhà và lãi suất thấp. Giá nhà có lẽ sẽ tiếp tục giảm thêm 5-10% trong 2011 và lãi suất sẽ còn tương đối thấp trong thời gian khó khăn sắp tới của thị trường địa ốc. Thăm dò mới nhất của CNNMoney.com cho biết 25 kinh tế gia đồng thuận rằng Ngân Hàng Dự Trử Liên Bang (Federal Reserve) sẽ không tăng lãi suất và sẽ giữ ở mức gần như 0% thêm ít nhất một năm nữa. Mười bảy (17) nhà kinh tế tiên đoán lãi suất sẽ không tăng cho tới năm 2012.  Vì tỉ lệ thất nghiệp hiện còn cao (9.8%) nên lãi suất sẽ tiếp tục được giữ thấp trong năm tới. Tỉ lệ thất nghiệp có lẽ sẽ ở khoảng 9% vào cuối 2011.  Các nhà kinh tế vĩ mô (macroeconomists) ước lượng kinh tế Mỹ sẽ phát triển ở mức 4.4% GDP trong 2011. Moody‘s Analytics tiên đoán 3.9% GDP. Goldman Sachs tin rằng khoảng 3.4% GDP. Tất cả các con số trên nói lên dấu hiệu và kỳ vọng cải thiện của 2011 so với 2010 (chưa được chính thức công bố) nhưng ở mức 2.7% GDP theo lượng giá của Moody‘s. Mặc dù Chỉ Số Tin Tưởng của giới tiêu thụ Mỹ (Consumer Confidence Index) bị giảm bất ngờ trong tháng 12, 2010 nhưng các kinh tế gia được thăm dò bởi Briefing.com tiên đoán  chỉ số này sẽ cải thiện trong năm mới 2011.  Thị trường chứng khoán,  trị giá Dollar trên thị trường tiền tệ quốc tế, chỉ số Tổng Sản Lượng Nội Địa GDP đều cải thiện trong năm 2010. Duy chỉ có tỉ lệ thất nghiệp còn khá cao ở 9.8%.  Tôi nghĩ rằng chúng ta không còn phải sợ hãi kinh tế bị suy trầm bất ngờ thêm một lần nữa, mặc dù tỉ số thất nghiệp còn cao và thị trường địa ốc còn tiếp tục khủng hoảng trong thời gian sắp tới.

Những cải thiện ta thấy chỉ là những bước đầu chập chững của một nền kinh tế đang phục hồi rất chậm chạp. Con đường phục hồi còn dài, cần nhiều thời gian, kiên nhẫn và lạc quan.

 

Điều gì thật sự làm giảm nạn thất nghiệp

Phải giải quyết nạn thất nghiệp, kinh tế mới phục hồi. Đây là một thực tế sỗ sàng.

Thực tế khó khăn là cần phải có một sự phát triển kinh khủng của Tổng Sản Lương Nội Địa (Gross Domestic Product – GDP) để mới có thể làm giảm chút ít tỉ số thất nghiệp. Mặc dù có một số tin tức tương đối tốt trong tháng 11 về sự cải thiện của sản phẩm bán lẻ trong tháng 10 vừa qua, kinh tế Mỹ gần như cần khá nhiều năm để có thể thấy tỉ số thất nghiệp giảm xuống đáng kể (Fortune 500 16/11/2010). Kinh tế Mỹ hiện nay hình như chỉ đủ để có thể giữ tỉ số thất nghiệp không gia tăng là may lắm rồì. Suốt 3 tháng liền từ tháng 8, tỉ số thất nghiệp không thay đổi ở mức 9.6% và mỗi tháng GDP phát triển 2% một năm, trong khi phải cần tối thiểu 3% mới đủ sức giữ tỉ số thất nghiệp không tăng. Và kinh tế phải cần phát triển hơn gấp đôi , nghĩa là 5% GDP để có thể làm giảm bớt tỉ số thất nghiệp được 1%. Ngay cả nếu điều này sẽ xảy ra, (mặc dù hầu như không có kinh tế gia nào tiên đoán trong vòng 2 năm tới GDP sẽ là 5% và tỉ lệ thất nghiệp ở mức 8.6%), phần lớn thị trường việc làm cũng sẽ chỉ cảm nhận chút ít mà thôi. Tỉ số thất nghiệp 8.6% vẫn còn quá cao hơn tỉ số 6% thất nghiệp trước thời kỳ Đại Khủng Hoảng Tế Giới. Kinh tế gia thường đưa ra tỉ số thất nghiệp 5% như là mức độ mốc để so sánh cho cuộc khủng hoảng 1981-1982 lúc bấy giờ đang lên tới 10.8%. Trong những năm đầu của sự phục hồi, GDP tăng trung bình 6.7%, đã giúp tỉ số thất nghiệp tụt xuống 7.2% chỉ trong vòng 2 năm. Nhưng cuộc khủng hoảng hiện nay chưa hề đạt được mức phát triển ở mức tương tự như vậy. Vì thế chúng ta có cảm tưởng lẽ ra nên gọi đây là cuộc phục hồi của nạn thất nghiệp. Nhiều kinh tế gia, kể cả cựu Giám Đốc Office of Management and Budget (OMB) Peter Orszag, chỉ hy vọng GDP sẽ phát triển chậm trong 12-24 tháng sắp tới, may ra 0%-2%. Ngoài việc GDP cần phải đạt 5%, kinh tế phải liên tục thêm 100-120 ngàn việc làm mỗi tháng đủ để bắt kịp sự gia tăng dân số, kể ra cũng đã khó mà thỏa mãn. Tỉ lệ phát triển “GDP mà chúng ta đã thấy không đủ để có thể ảnh hưởng gì đáng kể đến tỉ lệ thất nghiệp” như phát biểu của kinh tế gia Josh Bivens của Economic Policy Institute. Ngay cả GDP đạt được mức 5% ngay bây giờ và do đó làm giảm nạn thất nghiệp đôi chút, e rằng nó có thể gây ra nạn vật giá leo thang liên tục. Laura Gonzalez, giáo sư kinh tế tài chánh và doanh nghiệp Fordham University, ước lượng rằng GDP của Mỹ phải chỉ được phép phát triển ở mức 2.5%-3.5% để tránh nạn vật giá leo thang.

 

Econobama sau ngày bầu cử giữa nhiệm kỳ (2/11/2010)

Kết quả của cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ngày 2/11/2010 chẳng những là một chiến bại thê thảm mà còn mang ý nghĩa một cuộc trưng cầu dân ý bất tín nhiệm Tổng Thống Obama và nội các của ông, cũng như đảng Dân Chủ. Thế nên nếu không có thái độ hợp tác nhịp nhàng và thành khẩn của lưỡng đảng, nhiều người nghĩ rằng TT Obama và đảng Dân Chủ sẽ gặp cơn ác mộng lớn trong 2011 và 2012 khi phải đương đầu với Quốc Hội mới mà Cộng Hòa chiếm đa số áp đảo Hạ viện và tăng thêm 6 ghế ở Thượng Viện.

Sự thâm thủng cán cân mậu dịch với nhập cảng nhiều hơn xuất cảng; sự bất quân bình ngân sách tăng chi giảm thu; mang nợ Trung Quốc và Nhật Bản hàng ức Mỹ Kim và tiếp tục gia tăng; tỉ lệ thất nghiệp ở mức 9.8%; giá dầu gia tăng do nhu cầu cao của các nước đang phát triển (Trung Quốc, Ấn Độ, v.v.) chứ không phải Mỹ, sẽ ảnh hưởng xấu cho kinh tế Mỹ. Chỉ từng đó cũng sẽ là những vấn nạn quá lớn, quá nặng cho một vị Tổng Thống khoa bảng nhưng thiếu kinh nghiệm quản trị, đang học việc, và một đảng cầm quyền không còn được dòng chính của dân Mỹ tín nhiệm. Tổng Thống Obama cần phải đặt quyền lợi nước Mỹ lên trên quyền lợi cá nhân (dù phải là Tổng Thống một nhiệm kỳ) và đảng Dân Chủ, phải can đảm ý thức rõ ràng rằng nước Mỹ giàu mạnh nhất thế giới là nhờ chủ nghĩa tư bản, với lý tưởng tự dodân chủ, chứ không phải chủ nghĩa xã hội như các nước Âu châu hay độc tài như Cộng Sản tại Á châu hiện nay. Chính thể chỉ là mỹ từ, chế độ mới phản ảnh trung thực một xã hội. Xã Hội Chủ Nghĩa  ảnh hưởng bất lợi cho kinh tế và xã hội. Chính trị có thể ảnh hưởng kinh tế nhất thời; nhưng chủ nghĩa kinh tế tạo khuôn thước lâu dài cho định chế chính trị. Chủ nghĩa Tư Bản với Thị Trường Tự Do làm nền tảng, minh định mô hình kinh tế và chính trị, đòi hỏi phải có môi trường dân chủ và tự do để phát triển. Cộng Sản độc tài là tệ hại nhất với chính sách bần cùng hóa nhân dân. Làm gì có Thị Trường Tự Do theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, một kết hợp mâu thuẫn và định nghĩa ngược ngạo như vậy. Chủ nghĩa Xã Hội theo mô hình châu Âu không tạo cơ hội cho kinh tế và xã hội phát triển theo nhân tính và đúng mức chẳng hạn như ở Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, v.v. Chủ nghĩa Tư Bản không hoàn hảo nhưng tốt nhất. Chúng ta phải cương quyết duy trì chủ nghĩa Tư Bản và nuôi dưỡng The American Dream. Nước Mỹ không thể nào cho phép Giấc Mộng Cờ Hoa chết được.

Tóm lại, mặc dù với tất cả tin tốt có được tới giờ phút này và còn rất khiêm nhượng, giới đầu tư và tiêu thụ chưa đủ tin tưởng vào kinh tế Mỹ, đang còn ở vị trí rất xa với sự phục hồi. Nước Mỹ đang trả giá rất đắt cho sự tiêu xài quá mức của những năm phồn thịnh ảo đã dẫn đến cuộc khủng hoảng khởi sự từ tháng 12, 2007 và kết thúc vào tháng 6, 2009.

Jobs! Jobs! Jobs! Chừng nào nạn thất nghiệp chưa được giải quyết, tỉ lệ thất nghiệp chưa xuống tới mức 5% thì chừng đó kinh tế Mỹ vẫn chưa trở lại bình thường để có một sự phục hồi hoàn toàn. Có lẽ phải cần nhiều thời gian.

ts Tạ Cự Hải

1/1/2011

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: