Về Từ Cõi Chết

Về Từ Cõi Chết

 

* NgyThanh

 

Nổ mỏ than Trung quốc: chuyện thường ngày ở huyện

 

Lại một vụ nổ mỏ nữa ở Trung Quốc lúc 9 giờ tối thứ Năm 14/10/2010, nhưng tin tức bị giấu nhẹm cho đến sáng thứ Sáu chính quyền huyện mới được thông tin. Lần nầy, vụ nổ xẩy ra ở mỏ than Hưng Viên gần thị trấn Vũ Châu thuộc huyện Tiền Sơn, tỉnh Hà Nam, cách thủ đô Bắc Kinh 690 km về phía nam. Cũng mỏ than nầy hồi tháng 8/2008 đã nổ làm chết 23 phu mỏ. Lần nầy, Bộ An toàn Lao động TQ xác nhận vụ nổ làm thiệt mạng 21 người, thêm 16 người khác bị kẹt dưới hầm chưa biết sống chết ra sao.

 

Bản tin của Tân Hoa Xã, hảng thông tấn của nhà nước cho biết vụ nổ xẩy ra lúc cả thảy 276 thợ mỏ đang khai thác than và một toán phu khoan một lỗ để xả áp suất của khí cháy tiếp tục dồn nén trong lòng hầm. Vụ nổ xẩy ra sau khi chính quyền trung ương thông báo đã ra lệnh đóng cửa một loạt tổng cộng 1.355 hầm mỏ tầm nhỏ tính từ đầu năm dương lịch; những mỏ nầy gánh trên vai một chỉ tiêu 121.67 triệu tấn mỗi năm, bằng cách sử dụng kỹ thuật khai thác lỗi thời và không an toàn. Bản tin không cho biết độ sâu của vị trí xẩy ra tai nạn, nhưng có 239 người đã may mắn thoát chết, trong khi các toán cứu hộ đang vật lộn với thời gian, với khí nén chờ chực phát nổ, và với các tảng than rời vẫn sụt lỡ trong lòng hầm để tìm cách cứu số 16 người còn kẹt trong lòng đất. Tin tức lọt ra thế giới bên ngoài tiết lộ rằng mức độ khí nén trong hầm lên tới 40%, quá sức cao so với mức độ an toàn cho phép khai thác là 1%. Nguồn tin không định danh loại khí nào, nhưng thông thường, khí methane là thủ phạm chính của những vụ nổ hầm mỏ và gây chết người. Như mọi người đã biết, hai hiểm họa lớn nhất của ngành khai thác mỏ than là bụi than nổ và khí đốt nổ. Các chuyển động trong hầm làm bụi than bay lơ lửng trong chân không, còn khí đốt gồm hỗn hợp nhiều loại khí hydrô-carbon trong đó methane là thành phần chủ yếu, do biến đổi của than đá tích tụ và đè nén ở các túi địa chất chỉ chờ dịp được các mũi khoan chọc thủng để bung ra ngoài, sẵn sàng để phát nổ khi có một tia chớp sáng.

 

Trung quốc đứng đầu thế giới về công nghiệp khai thác và tiêu thụ than đá, và than đá cung cấp tới 75% năng lượng cho cả nước. Hiện quốc gia nầy có khoảng 11 ngàn mỏ than nhỏ với các phương pháp khai thác cỗ lỗ sĩ và thừa nguy hiểm để gây chết người, vì thế TQ giữ giải quán quân về số phu mỏ mất mạng hàng năm, với con số ngàn. Thảm họa mỏ than tang thương nhất thế giới cũng lọt vào tay Trung quốc, với vụ mỏ Bản Tây Hồ tỉnh Liêu Ninh, nổ ngày 26-4-1942 làm thiệt mạng 1.549 phu mỏ có mặt tại hiện trường hôm ấy.

 

Năm ngoái, Tân Hoa Xã nhìn nhận tai nạn hầm mỏ ở TQ làm chết 2.631 phu mỏ, so với con số 6.995 người chết hồi năm 2002 – nhưng các tổ chức hoạt động về nhân quyền quốc tế cho rằng con số thực sự hẳn phải cao hơn. Tính ra, trung bình mỗi ngày trong năm 2009 các mỏ than TQ giết hại hơn 7 sinh mạng, đỡ hơn nhiều so với 19 mạng hồi 2002. Nhưng qua nửa đầu năm nay, số người chết lại tăng, với 515 án mạng chỉ riêng ngành mỏ than. Tình trạng bất an hầm mỏ với các vụ tai nạn xẩy ra như cơm bữa ở TQ khủng khiếp đến độ hôm 7/07/2010 vừa qua thủ tướng Ôn Gia Bảo phải ra lệnh các cấp lãnh đạo và quản lý ngành khai thác mỏ sẽ bị các hình phạt nặng nề nếu không chịu luân phiên xuống hầm theo ca kíp với phu thợ để ý thức được hiểm họa tới độ nào do tình trạng quản lý lỏng lẻo, kém hiệu quả, và tệ trạng tham nhũng.

 

Hai phóng viên Triệu Tiểu Hồi và Giang Tiết Lý của thông tấn xã Tân Hoa trong bản báo cáo đề ngày 13-11-2004 nói rõ dù chỉ sản xuất được 35% sản lượng than toàn cầu, giải quán quân về số nạn nhân thiệt mạng vì hầm mỏ hiện chưa nước nào giật được từ tay Trung quốc, là quốc gia chiếm 80% “thành tích” toàn thế giới. Sau tai họa nổ khí methane thảm khốc ngày 14-2-2005 ở mỏ Sunjiawan của công ty than Liêu Ninh làm 214 người trong số 574 phu mỏ đang lao động tại chỗ thiệt mạng, hội đồng nhà nước nhóm họp để tìm cách cải thiện an toàn các mỏ than. Cuối buổi họp, nhà nước đã phân tích ra các nguyên nhân chính là do vi phạm điều lệnh an toàn và vì chạy đua để vượt chỉ tiêu thi đua do đảng và nhà nước đưa ra.

Phòng Quản Lý An toàn Quốc gia của Bắc Kinh cho biết chỉ riêng trong năm 2006 Trung quốc có 4.749 phu mỏ than bỏ mạng trong hàng ngàn vụ nổ hay vụ ngập nước, và các loại tai nạn khác. Ví dụ sau khi khí phát nổ ở mỏ Nam Sơn làm chết 24 thợ ngày 13-11-2006, biên bản điều tra cho thấy mỏ nầy đã hoạt động không có giấy phép an toàn, và vụ nổ xẩy ra do dùng liều lượng chất nổ bộc phá không thích nghi. Mặc dù đảng và nhà nước TQ luôn lớn tiếng tuyên truyền về thành tựu an toàn cũng như sự quan tâm của Bắc Kinh dành cho điều kiện làm việc của phu mỏ than, ngày 31-3-2010 vừa qua khí cháy methane lại phát nổ làm chết 12 phu mỏ, và làm kẹt 32 người khác trong hầm sâu. Đây là tai họa hầm mỏ thứ nhì chỉ trong vòng một tuần lễ. Quản đốc mỏ ông Vương Quốc Chính phải bỏ trốn để chính quyền địa phương đến niêm phong tài sản còn 4 viên chức hành chánh cao cấp tại địa phương vào chuồng rệp.

 

Vừa rồi, TQ đã làm thế giới chú ý sau vụ cứu sống một cách ngoạn mục hơn 100 phu mỏ thoát khỏi ngăn hầm ngập nước ở mỏ than quốc doanh Vương Gia Lĩnh trong tỉnh Sơn Tây; mỏ nầy “được trên giao chỉ tiêu 6 triệu tấn mỗi năm”. Vào ngày Chủ Nhật 28/03/2010, khi 261 phu mỏ đang làm việc dưới lòng đất, một toán thợ đã vô tình chọc thủng một bức tường ngăn với một đường hầm cũ chứa đầy nước. Hơn 100 công nhân đã thoát kịp, còn 153 người bị kẹt lại trong 9 khoang hầm. Họ đã dùng thắt lưng buộc thân mình vào tường hầm trong lúc ngủ để không bị chết đuối vì đầu gục xuống nước. Họ đã trải qua bảy ngày đêm chờ đợi tử thần đến chậm. Trong hơn một tuần lễ, họ đã cho vào dạ dầy từ mùn cưa, vỏ cây cho đến giấy và thậm chí cả than, để tiếp tục thở. Trong khi đó, trên khắp đất nước, vô số mỏ than thủ công nghiệp khác đang lén lút hoạt động bất hợp phát để thỏa mãn cơn khát năng lượng của một quốc gia đang bùng nổ kinh tế, trăm sự đều nhờ điện lực, và nền kinh tế của TQ vẫn tiếp tục dựa vào than, là khoáng sản tạo ra hai phần ba năng lượng dùng cho cả nước.

 

Tin tức vụ nổ mỏ Hưng Viên tới tai nhân dân và phu mỏ Trung quốc cùng lúc với tin toàn thể 33 phu mỏ Chí Lợi được cứu sống sau khi bị chôn 69 ngày. Hai bản tin đi song song làm bộ máy tuyên truyền của đảng cộng sản không tránh khỏi khó khăn trong việc tiếp tục dối gạt nhân dân mình, nhất là những suy nghĩ của dân về an toàn hầm mỏ và về biện pháp cứu mạng khi hữu sự trong thiên đàng cộng sản, một xã hội mà Karl Max và Angels hứa hẹn rằng lao động được tổ chức có kế hoạch và kỷ luật tự giác, tự nguyện là đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa”.

Chuyện hầm mỏ của phe tư bản, nơi “người bóc lột người”

Cách đây 162 năm, Karl Marx và Engels đã dự báo con đường đi của chủ nghĩa tư bản trong tác phẩm vĩ đại “Tuyên ngôn Cộng sản”. Hai ông hạ quyết tâm:Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền.” Giả thử bây giờ là năm 1848, còn Karl Marx và Engels là 2 công nhân hầm mỏ, nếu bắt hai ông phải chọn qua tỉnh Hà Nam đào than, và tới Chí Lợi đào vàng, hẳn đứa con nít cũng biết hai vĩ nhân nầy chọn nước nào làm quê hương, mặc dù bị chôn sâu ngót cả cây số suốt 69 ngày trong lòng đất thì chẳng thú vị chút nào, như kiểu mô tả của anh thợ mỏ Victor Segovia, “một cơn ác mộng hãi hùng”. Và điều quyết tâm của hai nguyên tổ chủ nghĩa Cộng sản đã thua một chị đàn bà. Ký giả Tim Padgett của tuần báo TIME viết về tòa soạn ở New York rằng trên con đường sỏi đá vắng vẻ và ngoằn nghèo uốn lượn từ thị trấn Copiapó ở phía bắc Chí Lợi dẫn ra mỏ vàng và đồng San José nằm giữa sa mạc hôm thứ Hai 11/10/2010, chiếc taxi của ông nhà báo gặp một phụ nữ hì hục lăn bánh xe lăn của mình giữa trưa đứng bóng. Người đàn bà tàn tật 52 tuổi ấy là Bernarda Lorca. Xe ngừng lại và Tim Padgett đề nghị cho chị đi quá giang, nhưng chị đã từ chối. Trong đầu Bernarda Lorca không có ý định nhờ quá giang miễn phí. Từ năm lên 9, người nữ thương gia nầy đã không còn bước đi bằng đôi chân của mình, và chỉ di chuyển bằng tay trên chiếc xe lăn. Chị đã bay từ thủ đô Santiago tới Copiapó, và dùng xe lăn để thực hiện chuyến hành hương tinh thần dài 45 km của mình tới một địa điểm mà chị cho là một kỳ quan có tác dụng chữa lành tật bệnh. “Nhóm của họ có 33 người, và Chúa Jesus đã chết và sống lại vào năm Ngài vào tuổi 33,” chị nói, tay sửa lá cờ Chí Lợi phần phật tung bay trên xe lăn của chị. “Như các ông thấy đó, tôi phải có mặt với họ khi họ sống lại.” Lorca chỉ là một trong bao nhiêu ngàn người vượt đường trường xa để có mặt ở khu hầm mỏ mang tên Trại Hy Vọng, một xó xỉnh xa xôi của thế giới mà hàng triệu người khác không có dịp tới đành ngồi nhà trước màn ảnh truyền hình để xem phóng sự trực tiếp bắt đầu từ 11:54 đêm thứ ba, giờ địa phương, khi con nhộng Phượng Hoàng từ từ rời hang trú ẩn sâu gần một cây số dưới lòng đất theo lỗ khoan rộng 70 cm đưa người phu mỏ đầu tiên trở về bề mặt địa cầu.

 

Trong khi thế giới đang cầu khẩn tin lành cho 16 phu mỏ Hưng Viên bên TQ, thì ở Chí Lợi, những người phu sống cuộc sống thứ nhì trong đời lần lượt trở về gia đình, sau khi đã nuôi hy vọng thoát chết bằng cách uống những ngụm nước nhiễm bẩn chất dầu và liên tục gây nổ các bánh bộc phá để báo động cho trên mặt đất biết họ chưa thành những thây ma.

 

Victor Segovia kể: “Mặt tốt của việc được cứu sống là khi anh nằm mộng dữ, giật mình tỉnh thức, anh biết đó chỉ là… mộng mà thôi. Nhưng khi còn dưới hầm, mỗi khi thức dậy, chúng tôi biết giấc mộng dữ là ác mộng thật.” Anh tiếp, “Chúng tôi cũng có lộn xộn, như trong bất cứ gia đình nào. Sống chung, thì phải có va chạm, gây gỗ, nhưng không có gì trầm trọng.”

 

Những người phu số đỏ đã trở thành tài tử truyền hình ngay khi lên tới cõi trần, vì cả thế giới nín thở theo dõi từng phút một theo vòng quay chậm rãi của bánh xe nâng sợi cáp trên giàn máy kéo con nhộng Phượng Hoàng. Giờ nầy họ đã được đề xuất các công việc mới, đã nhận được quà, và các lời mời thăm các đảo của Hy Lạp, thăm cơ ngơi Graceland của Elvis Presley ở Memphis, và dự các trận túc cầu giữa các đội bóng châu Âu.

 

Người viết bài nầy thấy mãn nguyện vì đã may mắn chứng kiến 2 cuộc truyền hình lớn trong chiều dài ngắn ngủn của một đời người, và đã cảm thấy choáng ngợp ngang nhau trước kỳ công của con người trong cả hai biến cố: lần trước, sau khi bay miết 4 ngày đêm, hai nhà phi hành không gian Mỹ Armstrong và Aldrin đã từ phi thuyền con trèo ra và đặt những bước chân đầu tiên của loài người lên bề mặt nguyệt cầu ở Biển Trầm Lặng vào ngày 20/07/1969, và lần nầy con người lại đục xuyên các tầng đá để chính xác thọc mũi khoan cứu nạn đường kính 70 cm xuống ngay trần hầm ở phía trên ngăn trú ẩn của 33 người thợ mỏ tưởng đã vùi thây. Các nhà tiên tri và các nhà tu khổ hạnh từ nhiều thế kỷ nay vẫn hằng khẳng quyết rằng cây đức tin tôn giáo chỉ đâm chồi nẩy lộc sum suê nhất tại những nơi vô sinh cằn cỗi, và sa mạc đá khô khan nham nhở như bề mặt nguyệt cầu mang tên Atacama của Chí Lợi là nơi mà nhiều người tin là phép lạ đúng nghĩa sẽ xẩy ra – nếu như con người thành công trong việc đục thủng vỏ trái đất để cứu sống nhau.

 

Rồi kết quả đã đến như mơ. Cả loài người trên trần gian đã thở ra hoan lạc khi mũi khoan khổng lồ của một công ty Hoa Kỳ phá thủng trần hầm vào hôm thứ Bảy 9/10, nhất là cái tưng bừng tại Trại Hy Vọng, giữa những tín đồ sùng tín và 1.500 phóng viên của đạo quân truyền thông đến từ 40 nước trên thế giới, chen lấn với những người bán thức ăn nước uống, các kỹ sư đội nón cứng bảo hộ, những linh mục và mục sư truyền giáo liên tục cầu kinh và hát thánh ca lời nguyện thâu đêm suốt sáng với các thân nhân và gia đình 33 nạn nhân, giữa tiếng đàn guitar và tiếng trống cầm nhịp bằng các chai không nước ngọt bằng nhựa nhét đầy thứ đá sỏi trộn chất vàng địa phương. Cách đó không xa là cần cẩu màu vàng khổng lồ với bánh xe dẫn cáp màu trắng. Phấn chấn tinh thần, Jimmy Sanchez, 19 tuổi là chú thợ mỏ trẻ nhất trong đám lâm nạn đã viết gởi lên theo đường ống nhỏ tiếp tế thức ăn: “Thực ra dưới nầy có tới 34 chứ không chỉ 33, vì Thượng Đế không bao giờ bỏ rơi chúng tôi dưới đây”. Nhưng mặc cho lòng sùng bái được liên hoan tưng bừng cả trên mặt đất lẫn dưới núi đá xa xôi, các viên chức Chí Lợi bù đầu vào ưu tư và tính toán khoa học với từng phút giây của cuộc cứu nguy. Họ đã bỏ ra suốt ngày Chủ Nhật và thêm ngày Thứ Hai để vò đầu suy nghĩ xem liệu vách tường đá của lỗ mới vừa khoan xong có đủ ổn định để cho con nhộng Phượng Hoàng với đường kính 50 cm lên xuống dập đập hơn bảy mươi lần? Ngoài ra, người ta đã tính trừ hao tới gấp đôi cho tất cả mọi diễn tiến: 30 phút cho một chuyến xuống hoặc lên, và toàn bộ cuộc cứu nạn sẽ kéo dài 48 giờ.

 

Góc nghiêng của đường khoan và những chỗ uốn lượn là những ẩn số không ai dám đưa ra lời giải đáp, nên lỗ khoan dù đã thông, nhưng việc cứu người đầu tiên đã phải chờ chực tới đêm thứ Ba, là thời gian mà các kỹ sư hoàn tất chế tạo các chiếc nón cứng bên trong lắp đặt sẵn các phương tiện truyền tin liên lạc mà con nhộng sẽ di hành qua trên khoảng cách từng đốt ngón tay. Phía thân nhân người bị nạn tự cho rằng họ tin thời gian hơn hai tháng thử thách quá đủ để người nhà của họ dưới kia vững tinh thần để chịu đựng những phút giây cuối cùng. “Chúng tôi là những tín đồ có đức tin,” ông Juan Sanchez nói. Ông là ông bố 49 tuổi của cậu Sanchez con đang kẹt dưới hầm. Bản thân ông cũng là phu mỏ, ông cho hay gia đình ông đã chuẩn bị xong bữa tiệc mừng ngày về của cậu con. Ông nói tiếp: “Khi bước chân xuống mỏ, chúng tôi đã mặc nhiên phú dâng mình vào bàn tay Thượng đế. Tôi không muốn thằng con tôi làm nghề nầy, nhưng nó cứ khăng khăng đi làm, sau khi sinh được đứa con gái. Lương bỗng nghề nầy khá hơn nghề xây dựng.”

 

Nói thế, nhưng Jimmy Sanchez cũng nhìn nhận nghe lòng bối rối một chút trong lá thư gởi từ dưới lòng đất lên: “Tôi chưa bị căng thẳng, nhưng lúc tới phiên mình, thế nào tôi cũng bị. Tôi mong ước được thấy mặt con gái tôi, và thét vang bốn phương trời”.

69 ngày tất bật trên mặt đất

 

Ba ngày sau khi 33 người phu bị bít kín lối về và chôn sâu trong lòng núi, tổng thống Chí Lợi triệu ông Andre Sougarret tới, và đi thẳng vào vấn đề: ông kỹ sư mặt chữ điền ăn nói thẳng như ruột ngựa được giao trọng trách việc đào bới và đem tất cả đám thợ lên. Thoạt đầu, ông Sougarret không khỏi do dự. Làm sao biết chắc được có ai còn sống không, nên áp lực đầu tiên là làm sao liên lạc với họ. Ông ý thức rằng khi biết được họ đã chết, cơn buồn đau của mọi người sẽ chỉ có đầu ông làm chỗ trút xuống, mặc dù ông vô tội, vì cỡ nào ông cũng bị lên án “vì họ đã khoan xuống không đúng chỗ, và làm việc như rùa”. Nhưng đàng nào cũng phải nghiêng vai nhận trách nhiệm, đơn giản là vì trong thâm tâm, ông muốn cứu thợ. Đây là một thứ nhiệm vụ không tiền khoáng hậu, chưa từng có, để mà tự rút kinh nghiệm. Chưa ai từng khoan một độ sâu như thế để tìm phu mỏ kẹt trong lòng núi. Không ai biết nếu còn sống, họ đang ở vị trí nào. Từ những ngày đầu tiên rối như tơ đến giờ phút vinh quang sau khi người thứ 33 thoát nạn, ông kỹ sư trưởng Sougarret là con người khi nào cũng có câu trả lời. Chẳng thế mà người cuối cùng trở lại với loài người, trưởng toán Luis Urzua nói với ông: “Người như ông đáng giá ngàn vàng trong đất nước Chí Lợi nầy”. Tác phẩm cứu nạn của ông ngoạn mục tới độ ba mươi mốt người đã rời bệnh viện hôm thứ Sáu để về với gia đình trong tình trạng toàn hảo, không tì vết, chỉ còn hai người cần theo dõi thêm đã được chuyển tới một bệnh viện khác.

 

Trả lời phỏng vấn của thông tấn xã AP, ông Sougarret đã kể việc ông thành lập một đội chuyên viên và xử lý vấn đề một cách lớp lang khoa học như thế nào, vì đây là thử thách lớn nhất đời của ông.

 

Về phía tổng thống Chí Lợi, khi cần tới một chuyên gia hầm mỏ trẻ trung, ông Sebastian Pinera đã chọn người điều hành El Teniente, mỏ đồng quốc doanh có sản lượng nhất thế giới. Là một kỹ sư làm việc có phương pháp với một bộ óc điềm tỉnh dưới bất cứ áp lực nào, Sougarret nói ông cố gắng không làm phiền tối đa những người mà ông phải giải cứu. “Tôi không cho phép tôi nghĩ lui lại những gì đã xẩy đến cho họ, những ưu tư, hay những nguyên do. Tôi nhủ lòng rằng việc của tôi là tìm một cửa thoát, một liên lạc với họ. Hãy liệu mà khắc ghi điều ấy vào đầu,” ông kể. “Tại sao họ phải ở dưới kia và chuyện gì đã xẩy ra không phải là trách nhiệm của tôi. Việc của tôi là liên lạc được dưới đó và mang họ lên”.

 

Nhận được lệnh, Sougarret tức tốc bay lên sa mạc Atacama ở bắc ngạn Chí Lợi để bắt đầu gom góp những rối rắm khi ngồi xuống vò đầu bứt tóc cùng các nhân viên cứu nạn, những đội chữa cháy, lực lượng cảnh sát, các thiện nguyện viên và thân nhân người mắc nạn đang khẩn hoảng van nài ông một vài chữ về số phận người ruột thịt của họ dưới lòng đất. Cũng như họ, ông chưa có câu trả lời. Nhưng ông phải quyết định cái gì phải làm trước nhất: yêu cầu những nhân viên cứu nạn rời hiện trường cho đến khi nào thực sự tìm được người lâm nạn để cứu. Tiếp theo, ông gom vào tay bất cứ bản đồ nào có thể kiếm được với hình vẽ khu mỏ hoang vắng nầy, rồi lập một nhóm, bắt đầu với Rene Aguilar, anh chàng quản đốc chuyên giải quyết tai biến của mỏ đồng El Teniente. Trong ít tuần tiếp theo, hai người nầy đã tiến hành một chiến dịch mở rộng đến trên 300 người, và kéo nhau ra sa mạc.

 

Sougarret nói: “Chúng ta đã biết mỏ sập. Sập là gì? Cái mà chúng ta hình dung ra là một mộ bia, giống như lúc chúng ta trong thang máy đang kẹt giữa hai tầng lầu, và cửa mở.” Vách đá trơn và rắn là một phần của núi đá mà mỏ đã xoáy vào sâu 2.625 feet (800 mét). Từ đó, họ quyết định phải khoan từ độ sâu khoảng 1.000 feet xuống ngay phần giữa hầm mỏ để móc mang lên khoảng 700.000 tấn đá. Máy khoan hoạt động làm rung chuyển khu vực có khả năng tạo ra một vụ sập hầm khác, và nghiền nát tất cả mọi thứ bên dưới. Như thế, một đường hầm hoàn toàn mới cần phải khoan để trước tiên tìm cách bắt liên lạc với toán phu. Để làm công đoạn nầy, họ cần thêm những người trong cuộc: những phu thợ đã xém bị đá nghiền nát trong ngày mỏ sập hôm 5/08/2010. Rene Aguilar đưa ý kiến cần thiết phải nói chuyện với ba người thoát chết sau cùng đã rời khỏi hang động. Ba người nầy hẳn phải nắm vững thực trạng vào phút cuối: về các thùng chứa nước uống, về hệ thống quạt thông gió, và và thực phẩm dự trữ cho 48 giờ đầu tiên trong một hầm trú ẩn đã được gia cố thật sâu bên dưới mặt đất. Để với tới toán phu mắc kẹt, bản đồ là chìa khóa. Các mũi khoan phải theo một trục đi xuyên qua tầng đá rắn để tránh thọc xuống đoạn hầm bỏ ngõ hay đã bị sập bên dưới, nhưng cái rắc rối là mỏ vàng và đồng nầy đã được đục đẻo khúc khuỷu tùy tiện bên dưới từ rất lâu trước đây nên không có bản đồ nào có thể gọi là chính xác. Tóm lại, họ phải đoán mò để quyết định đường khoan. Sougarret thú nhận, “Chúng tôi phải hình dung ra là họ có thể đang ở đoạn hầm nào”.

 

 

FILE – In this Oct. 13, 2010 file photo released by the Chilean government, miner Juan Illanes, right, shakes hands with Andres Sougarret, chief of rescue operations, after being rescued from the collapsed San Jose gold and copper mine where he was trapped with 32 other miners for over two months near Copiapo, Chile. (AP Photo/Hugo Infante, Chilean government, File)

 

Andres Sougarret, center, the chief engineer in charge of the rescue mission of 33 trapped miners, right, and Chile’s Mining Minister Laurence Golborne smiles during a joint press conference at the San Jose Mine near Copiapo, Chile, Thursday, Oct. 14, 2010. Sougarret, a 46-year-old mining engineer, was in charge of digging the miners out. (AP Photo/Natacha Pisarenko)

 

Chile’s Mining Minister Laurence Golborne, center, speaks to reporters as rescue chief Andre Sougarrete, left, and Chilean Senator Isabel Allende looks on at the San Jose mine near Copiapo, Chile, Monday Oct. 11, 2010. Golborne called the test of the rescue capsule nearly all the way down to where 33 miners are trapped a success on Monday. The miners became trapped when the mine collapsed on Aug. 5. (AP Photo/Jorge Saenz)

 

Andres Sougarret, the chief engineer in charge of the rescue mission of 33 trapped miners, talks to the press at the San Jose Mine near Copiapo, Chile, Thursday, Oct. 14, 2010. Sougarret, a 46-year-old mining engineer, was in charge of digging the miners out. (AP Photo/Natacha Pisarenko)

 

Andres Sougarret, center, the chief engineer in charge of the rescue mission of 33 trapped miners, poses for pictures with Chile’s Mining Minister Laurence Golborne, left, mine rescuer Rene Aguilar, right, and other rescuers, not seen, at the San Jose Mine near Copiapo, Chile, Thursday, Oct. 14, 2010. Sougarret, a 46-year-old mining engineer, was in charge of digging the miners out. (AP Photo/Natacha Pisarenko)

Những phu mỏ tan ca trở lên mặt đất ngay trước khi mỏ sập mô tả rằng toán mắc nạn đang ở vị trí làm việc khi tai nạn đến, như thế họ phải gần hầm trú là nơi họ thường túm tụm lại với nhau để được đưa lên mặt đất dùng bữa trưa. “Với những yếu tố suy luận được như thế, ai cũng vin vào hy vọng là bọn họ còn sống,” Sougarret kể.

 

Khi Sougarret nhận bàn giao quyền chỉ huy, đã có bảy công ty bắt tay vào việc tìm cách liên lạc với toán phu bên dưới. Ông quyết định chỉ giữ lại một số trong các công ty ấy để góp tay trong công đoạn khoan lỗ thông xuống vị trí làm việc ở độ sâu 2.041 feet (622 mét), gần hầm trú ẩn ở độ sâu 2.100 feet (700 mét). “Chúng tôi vừa khoan, vừa mày mò học hỏi. Ngày tháng bắt đầu trôi qua. Tôi biết chắc họ có thể sống sót 30 ngày, không chừng tới 40 ngày là khác, tùy điều kiện thể trạng mỗi người với nước và dưỡng khí, và tùy cơ thể mỗi người khi thiếu ăn… đó là những yếu tố tôi luôn ghi nhớ trong đầu,” Sougarret nói.

 

Tới hôm 19/08, toán của Sougarret chạm trán với một cơn khủng hoảng: mũi khoan thọc xuống độ sâu 700 mét, nhưng không tăm hơi gì cả. Khoan xuống 10 mét nữa, 20 mét nữa, tới 770 mét sâu cũng chẳng có chi. Hóa ra mũi khoan lệch hướng, xuyên sát tường hầm trú đến nỗi đám phu nghe được và cảm nhận tiếng động. Kết quả nầy gây chấn động cho thân nhân trên mặt đất. Họ giận dữ vì ông Sougarret đã không bắt được liên lạc. Kỹ sư Aguilar nhớ lại, “Người ta biểu tình, người ta phản đối. Thật là trăm dâu đổ đầu tằm.” Sức ép vô bờ nén xuống bản thân Sougarret: “Tất cả tội lỗi sẽ trút lên đầu tôi nếu phu mắc nạn chết vì chúng tôi không liên lạc được, hay vì mũi khoan đi quá chậm. Lúc ấy, không một ai trong toán chúng tôi dám thò mặt ra ngoài, không ai cả, trừ Rene và tôi… cho đến khi chúng tôi liên lạc được và mọi chuyện bắt đầu thông suốt, cờ xí bắt đầu kéo lên, và tất cả màn trình diễn của những người ngoại cuộc bắt đầu nhen nhúm.”

 

Cuối cùng, ngày 22/08, tin tức đầu tiên về thành tựu được loan báo: mũi khoan đã thọc xuống trần hầm cách buồng trú ẩn của toán thợ 50 mét. Từ trên mặt đất, tổ cứu nạn nghĩ họ nghe được tiếng mũi khoan xoáy vào chân không. Kéo mũi khoan lên, họ thấy một túi ny lông nhét trong rãnh của mũi khoan. Mở ra, họ tìm thấy một lời nhắn viết vội, “Estamos bien en el refugio los 33”. Tiếng Tây Ban Nha, nhưng bất cứ người nào trên thế giới cũng có thể hiểu ngay thông điệp giữa con người với con người, “Chúng tôi vẫn khỏe mạnh trong hầm ẩn trú, tập thể 33 người phu”.

 

Chỉ trong ít ngày sau đó, thêm hai mũi khoan nữa mở đường thông tới họ, để hàng ngày gởi xuống các thức ăn, thuốc men, lời nhắn động viên tinh thần. Bên trên cũng gởi xuống máy điện thoại và máy quay video, để trên dưới cùng làm việc và thảo luận với nhau, và cung cấp dụng cụ để bên dưới đo đạc và vẽ bản đồ ngăn hầm nơi được chọn làm điểm khởi hành khi Phượng Hoàng tuần tự mang từng người thợ lên.

 

Tức khắc sau khi biết toán phu còn sống, tổng công trình sư Sougarret huy động thêm ba giàn khoan với sức hoạt động mạnh hơn, đặt tên là Kế hoạch A, Kế hoạch B và Kế hoạch C, mỗi mũi dùng một phương thức khác nhau để đập vỡ đá và ấn mũi khoan vào núi. Riêng giàn khoan Kế hoạch B được thay mũi đường kính 15 cm bằng mũi lớn hơn gần 5 lần, để khoan một đường hầm rộng 70 cm (28 inches), làm đường thoát hiểm kéo các người lâm nạn.

 

Tai nạn đã đổi đời nạn nhân

 

Với hai thìa cá thu đóng hộp và một miếng bánh quy cộng thêm một ngụm sữa để đẩy thức ăn xuống bao tử trong mỗi 48 giờ, bấy nhiêu chỉ là muối bỏ biển đối với những người phu lao động cật lực bằng tay chân. Trong tình trạng bách tử nhất sinh, một tí tẹo chất cá và sữa tuy không dằn được tiếng nổi loạn của dạ dày, nhưng giúp họ sống sót, từng ngày, từng ngày, để chờ phép lạ. Và phép lạ đã xẩy ra, người trên mặt địa cầu đã nhận được thông tin bằng chữ nghĩa hằn hòi, “Chúng tôi vẫn khỏe mạnh trong hầm ẩn trú, tập thể 33 người phu”. Dưới kia, mỗi ngày vẫn có lệnh báo thức, để cùng nhau giết thì giờ bằng bộ cờ domino của một người trong bọn mang theo được. Trong những khoảnh khắc đầu tiên sau khi biết chắc họ sẽ sống, họ đã chồm tới trước ống kính video gởi từ hơn 600 mét bên trên xuống, để rưng rưng nước mắt mừng. Trong những thứ mà họ hỏi xin đầu tiên, là bàn chải và kem đánh răng.

 

Toán cứu nạn tiếp tục khoan mũi thứ nhì rộng 15 cm làm cuống rốn thông xuống hầm trú, để tiếp tế cho họ thêm thức ăn, nước uống, thuốc men, dưỡng khí và những trò tiêu khiển, cũng như để chuẩn bị cho họ thêm ba hay bốn tháng chờ đợi nữa trong buồng trú ẩn tới khi mũi khoan lớn 70 cm thành công, với hy vọng đưa họ lên kịp ăn lễ Noel. Với 500 feet vuông, buồng trú ẩn nầy có thể ví như một buồng nhốt tù trong các khám đường, hay một phòng trên tiềm thủy đỉnh. Tất nhiên dù có giàu tưởng tượng tới đâu cũng không thể cho đấy là một nơi ở tiện nghi hay xa xỉ, nhất là khi chúng ta tự khóa cửa văn phòng làm việc của mình lại và nghĩ rằng mình sẽ giam chân trong đó luôn 17 ngày. Vậy mà 33 người thợ khốn khổ kia đã thoi thóp sống trong cái nhiệt độ 90°F (32°C) ngột ngạt, và trong bóng đêm dài hơn 400 giờ đồng hồ, trừ những khi tối cần thiết phải dùng đèn đội đầu. Không được như bên Hoa kỳ, buồng trú ẩn của họ chỉ cao 1.5 mét, ngang 6 mét, rộng 9 mét. Cũng may, họ bị kẹt trong mỏ vàng nên không phải thở khí methane độc hại như trong mỏ than; dưỡng khi trong mỏ kim loại chỉ bị tiêu hao do con người hít thở mà không bị các chất khí khác phân hủy.

 

Mặc dù họ có đủ khoảng trống để co giản cơ thể, tiếp liệu và lương thực dự trữ thường được phòng xa chỉ đủ cho 48 tới 96 tiếng đồng hồ. Để kéo dài sự sống, họ chỉ ăn cầm hơi, và đào mương lấy nước ngầm hay tận dụng từng giọt nước rỉ ra từ các bộ phận tản nhiệt của những máy móc trong hầm để khỏi chết khát.

 

Một khía cạnh khác nữa là vấn đề vệ sinh. Đã đành dưới lòng đất họ có đủ khoảng trống để tạo một chỗ tiêu tiểu dã chiến xa chỗ ăn ngủ, nhưng cứ nghĩ đến con số 33 người lâm nạn, khả năng lây lan bệnh kiết lỵ không phải là nhỏ. Cũng may, tới khi liên lạc được với “trần gian”, chỉ có một người trong bọn khai đau bao tử.

 

Một ngày sau khi bắt được liên lạc, hôm 23/08, họ đã cùng hát bài quốc ca khi nhận được thêm các bình dưỡng khí từ trên gởi xuống, cùng với đường và những viên thuốc chống thoát nước cơ thể để phục hồi chức năng tiêu hóa. Về mặt tâm lý, họ không tránh khỏi chấn động, sau khi đã chuẩn bị để nhận cái chết, với hy vọng mong manh rằng may đâu – chỉ may đâu mà thôi – một người nào đó trong 33 người sẽ sống sót để kể lại cho lòai người. Trong 9 người được cứu sống từ mỏ Quecreek ở Mỹ, chỉ có 3 người quay lại làm việc cho mỏ cũ; hai người trên mặt đất, và chỉ có anh Randall Fogle là người duy nhất chịu xuống hầm.

 

Với sự trợ giúp của Cơ quan Không gian Hoa Kỳ, phu mỏ bị chôn sống đã được nuôi dưỡng kể từ ngày thứ 18 bằng loại thức ăn đặc biệt dành cho phi hành gia, bắt đầu bằng các chất lỏng glucose để chất đường giúp cơ thể họ làm quen trở lại với việc tiêu hóa thức ăn sau hai tuần rưỡi trong tình trạng gần như bị bỏ đói. Sau đó, từ từ, họ được tăng lượng chất đạm và calo chia thành 5 bữa sáng trưa tối và 2 bữa lỡ, dưới dạng chất lỏng, chuyển dần qua chất rắn. Các bữa lỡ của họ được chèn thêm sinh tố D, để nâng dần lên tới 2000 hay 2400 calories mỗi ngày. Mỗi ngày còn lại dưới hầm, mỗi người phải uống trên 4 lít nước kèm theo chất muối để duy trì quân bình nước trong thân thể và áp suất máu trong điều kiện sống nóng nực của hầm kín.

 

Sống lâu trong hầm con người cũng bị chấn động tâm lý làm cơ thể tiết ra những hóc môn khiến nhịp tim và nhịp thở tăng nhanh. Tình trạng nầy ảnh hưởng hệ thống miễn nhiễm và tăng nhanh quá trình chuyển hóa thức ăn, làm nhóm phu thợ có khuynh hướng mất khẩu vị và tiêu hao năng lượng cơ thể rất nhanh. Ngoài ra, các tình trạng vừa kể còn làm cơ thể con người dễ bị bệnh hoạn và nhiễm trùng hơn.

Khi liên lạc được, yêu cầu trước tiên của họ là cái ăn. Họ đã được cung cấp những gì cần thiết và có thể gởi lọt qua lỗ khoan tiếp tế rộng 10 cm, kể cả thuốc lá, chỉ trừ rượu. Điện, ống dẫn nước và dây điện thoại đã nối thông họ với thế giới bên trên mặt hành tinh, những trận túc cầu đã được truyền hình trực tiếp đến họ. Các phi hành gia và các nhà tâm lý học Mỹ cố vấn họ về cách sống trong điều kiện bị cô lập cũng như chỉ dẫn cho họ cách thức đối phó khi xuất hiện trước mặt công chúng và truyền thông quốc tế, hay cách kiếm tiền khi kể lại kinh nghiệm sống chết của mình cho báo chí. Họ đã có thể viết thư về nhà, kèm theo áo quần dơ để giặt giũ. Esteban Rojas nhắn lên cho bạn đời Jessica Yanez của mình, “Khi ra khỏi nơi đây, anh sẽ sắm bộ đồ cưới và chúng ta sẽ thành hôn với một đám cưới hoành tráng”. Sống với nhau 25 năm, họ đã sinh con đẻ cháu những chưa làm hôn thú. Người nhà nói rằng anh chàng Rojas 44 tuổi có lẽ linh cảm được tai họa, vì trước khi xuống hầm, ông đã tặng quà cho con cái mặc dù chưa đến ngày Lễ Các Con.

 

Các món quà xa xỉ cũng đã được gởi xuống lòng đất, như các iPod tân kỳ, do chính Steve Jobs, sáng lập viên hảng Apple đích thân biếu tặng, đi kèm với chuyến hàng có chiếc áo của thủ môn David Villa bên Tây Ban Nha, người cầu thủ có bố và ông cũng làm nghề phu mỏ. Trong mỗi 24 giờ, người bên trên đã gởi xuống 76 chuyến hàng khác nhau, để chuẩn bị cho 33 người kéo dài cuộc sống tới Lễ Giáng Sinh, là hạn kỳ mà tóan cứu nạn quyết tâm đem mọi người trở về trần thế.

 

Với những phu mỏ mới ra quân ngày đầu vào kỹ nghệ hầm mỏ gay cấn như cậu Carlos Mamani 23 tuổi, công dân duy nhất của nước Bolivia trong toán mắc nạn, chuyện hầm sập và kiểu sống cách ly với trần thế có vẻ là một thử thách không kém nghiêm trọng. Nhưng với anh phu Raul Bustos, 40 tuổi, thì cho rằng anh đi tới đâu là gieo tai họa tới đó. Anh vừa mất việc thợ máy ở thị trấn Talcahuano hồi tháng Hai vì động đất ở trung bộ Chí Lợi, nên dẫn xác tới mỏ vàng nầy cầu may, và xin được một chân tài xế xe vận tải. Ngày 5/08, anh phải xuống hầm để sửa chiếc xe tải dỡ chứng của mình, và hầm sập.

 

Chẳng ai thích đề cập đến chuyện tiền bạc, nhất là trong những câu chuyện thần tiên như chuyện cứu sống 33 người từ cõi chết như thế nầy. Nhưng trong lúc nét chính của câu chuyện gần như huyền thoại của thiên sử thi kéo dài hai tháng nay có lẽ là chuyện thuần túy nhân ái của trái tim, một âm mưu rẻ tiền và hạ cấp dính líu đến đồng tiền và những trò trí trá, tùy tiện đã bắt đầu lộ ra ánh sáng song song với niềm phấn chấn đột khởi khi màn cuối cùa công cuộc cứu nạn đang chìm dần vào lãng quên. Hẳn nhiên những anh hùng chính hiệu của câu chuyện cứu nạn nầy xứng đáng để chúng ta ngã nón chào, và đáng để thể giới ngưỡng mộ, nhưng đáng tiếc là có những mẩu chuyện phàm cũng đã phát sinh.

 

Trong khi Ariel Ticona bị kẹt dưới đất, chị vợ ở nhà sinh đứa con thứ ba, lấy tên của Trại Cứu Nạn Esperanza (Hy Vọng) đặt cho con gái của mình. Một phu mỏ khác, Mario Sepulveda, mừng sinh nhật thứ 40 của mình dưới hầm, và sắp vồ được nghề mới: trong thời gian làm em-xi và đại diện cho nhóm phu lâm nạn để hướng dẫn chương trình phỏng vấn truyền hình về cuộc sống dưới lòng đất, khuôn mặt của anh đã trở thành quá quen thuộc và ăn khách với khán giả, nên các đài tivi đang tranh nhau mời anh cộng tác và kể chuyện 69 ngày đêm trong cõi tối tăm. San Esteban, chủ hầm mỏ San Jose, một cơ sở làm ăn với hồ sơ an toàn rất bừa bãi và nhiều giờ đồng hồ sau khi hầm sụp lỡ mới báo cáo cho chính quyền, đã khai phá sản và nói không bảo đảm tiền lương cho công nhân trong thời gian họ ngồi chơi xơi nước dưới lòng đất, bỏ mặc cho chính phủ Chí Lợi trả tiền trọn gói công cuộc cứu nạn, trong đó có ba giàn khoan khổng lồ. Những con số cụ thể mà San Esteban nắm vững là: 15 triệu đô phải chi tiêu cho toàn thể cuộc cứu nạn; 18.000 đô tiền sử dụng máy khoan Geotec’s T-130 mỗi ngày để tiến hành Phương án B giải cứu nạn nhân; 4.000 đô mỗi ngày để nuôi tất cả những người hiện diện ở Trại Hy Vọng; 50.000 đô là món tiền do tạp chí Bild của Đức đề nghị để được độc quyền phỏng vấn nạn nhân; 6.300 đô phải trả cho công ty Oakley sản xuất kính mát đặc biệt dành cho 33 phu mỏ khi trở lại với ánh sáng mặt trời.

 

Kể từ hôm tai họa xảy ra, Công ty Khai thác mỏ San Esteban đã đình chỉ các hoạt động hầm mỏ San Jose để chờ phán quyết của tòa án xem có phải tuyên bố phá sản vì mất khả năng thanh toán số nợ đã lên đến 10.4 triệu đô, trong số 300 chủ nợ có cả Công ty Mỏ quốc gia và sở thuế nhà nước. Ngày 24/09 tòa án Santiago đã niêm phong tài khoản ngân hàng của San Esteban để 10 chủ nợ lớn nhất thẩm định giá trị tài sản của công ty trong vòng 30 ngày, sau đó, các chủ nợ sẽ được bản báo cáo thẩm định để cùng quyết định cho phép công ty tiếp tục hoạt động hay xin tòa phán quyết phá sản.

Trước mắt, San Esteban đã trả lương tháng 8/2010 và nửa lương tháng 9 cho 240 nhân viên, kể cả 33 thợ mỏ lâm nạn; đó là đợt trả lương cuối cùng. Chủ tịch nghiệp đoàn thợ mỏ công ty cô Evelyn Olmos cũng đã xác nhận San Esteban không còn tiền để trả lương, thậm chí bó tay trong công tác cứu hộ thợ mỏ. Tiền cứu hộ tạm thời do chính phủ trả, rồi San Esteban sẽ bồi hoàn lại nhưng chuyện ấy quá mong manh. Đã có các đề nghị xin chính phủ tạm ứng lương cho 33 thợ mỏ mắc nạn để giúp gia đình họ trong lúc khó khăn vì mất trụ cột gia đình, nhưng Bộ trưởng hầm Mỏ Laurence Golborne đã trả lời thẳng rằng chính quyền không thể làm trái luật lao động để chịu trách nhiệm thay cho San Esteban, mà phải do phán quyết của tòa án.

 

Với một số trong đám thợ bị tai họa, rắc rối tài chính không chỉ là chuyện lương tiền của 69 ngày qua. Với riêng bốn người trong số họ, cái rắc rối đến từ chuyện “cơm”“phở”, kể cả những “món phở” sắp tìm họ mà đến vì bỗng dưng họ bỗng nổi danh. Không ít người truyền miệng chuyện tiếu lâm tân thời của Yonni Barrios, anh phu mỏ 50 tuổi. Họ bảo rằng anh không muốn trồi lên mặt đất tí nào. Khi cửa buồng cấp cứu Phượng Hoàng vừa mở, Barrios chưa kịp bước ra, người tình của anh la lớn với ký giả và nhân viên an ninh ở hiện trường, “Anh ấy yêu tôi!”. Đáp lễ lại, vợ anh ta cũng la lớn, “Con đàn bà nầy không có quyền gì nơi chồng tôi!” Yonni Barrios là một nhân vật lắm chuyện. Khi còn dưới hầm, anh đã viết thư nhắn cho vợ rằng cả toán đã đồng lòng mướn một luật sư tới thăm mỏ San Jose, và yêu cầu gởi hồ sơ xuống hầm để cả nhóm nắm chắc mọi thủ tục tố tụng sẽ không trật khớp, rằng tất cả những chi tiết do họ tiết lộ sẽ phải mặc cả trong tương lai, thay vì cho không. “Nếu chúng ta biết cách làm đúng, chúng ta sẽ ngồi mát ăn bát vàng đến mãn đời.”

 

Hơn hai tháng trước, khi số phận của 33 người thợ mỏ bị chôn kể như đã kết thúc, thì vợ con, anh chị em và bè bạn của họ kết đoàn lại đòi hỏi chính phủ phải tiếp tục tìm kiếm – là điều đáng biểu dương. Ví dụ, hầm sập lúc 2 giờ chiều, nhưng không viên chức nào của phía công ty hầm mỏ chịu báo tin cho các thân nhân. Đến 10 giờ đêm, nghe tin qua đài phát thanh, Andrea Segovia, con gái của phu mỏ Dario Segovia, đã bương bã chạy tới hiện trường, kéo theo các bà vợ bà mẹ khác. Cảnh sát đã phải được huy động để ngăn không cho các bà tự mình xuống hầm để kiếm chồng con. Sau đó, cũng chính những người phụ nữ nầy cắm dùi dựng trại, nằm vạ tại chỗ, để bảo đảm là lực lượng cứu nạn không bỏ cuộc giữa chừng. Nhưng 17 ngày sau, khi lời nhắn của “nhóm 33” gởi lên lúc 6 giờ sáng cho biết họ còn sống, ban chỉ huy tìm kiếm muốn dành vinh dự cho tổng thống Sebastián Piñera đích thân báo tin cho mọi người. Tổng thống bay tới lúc 3 giờ chiều thì đã quá muộn: một công nhân trong toán cứu nạn không dằn lòng được, đã rỉ tai cho người nhà. Nhanh như điện, một thanh niên từ Trại Hy Vọng vừa chạy xuống núi, vừa la thất thanh, “Họ còn sống! Họ còn sống!” Người công nhân kia nầy liền bị đổi qua làm việc khác, không ở gần giàn khoan nữa.

“Có không ít chuyện tùy tiện, tùy hứng,” Juan Hermosillo nói với ký giả một ngày trước khi đứa con đỡ đầu của ông là Carlos Barrios được cứu lên. “Ví dụ khi mọi thứ đều đã sẵn sàng, chúng tôi vẫn phải chờ chỉ một người đến để cuộc giải cứu mở màn”.

Gazi Jalil, phóng viên của nhật báo El Mercurio nhận xét rằng sự chú ý của chính quyền và báo chí vào cuộc giải cứu mang tên Chiến Dịch Lorenzo đã làm các vấn đề khó khăn của đất nước bị tan biến đi, như một phép mầu, nhất là nỗi thống khổ của trận động đất vào ngày 27/02 vừa qua ở nam bộ đất nước. Điển hình là Talcahuano, một thời là thành phố cảng náo nhiệt, đến nay còn tê liệt, nhà cửa còn hoang tàn, mậu dịch ở cảng còn đình đốn. Vẫn còn người sống lây lất trong lều bạt núp nắng trốn mưa, các tử thi người ruột thịt chưa tìm gặp – bỗng tất cả tan biến đi, mọi người hân hoan chào đón phép lạ cứu 33 người thợ mỏ.

Ở gần giàn khoan là một thị trấn lều bạt nhỏ mới hình thành với nhiệt độ xuống tới 4 độ C sau khi tắt ánh mặt trời với nhiều ngàn người chen chúc trên một diện tích bằng hai khu phố, nơi mỗi đài truyền hình gửi tới không ít hơn 50 nhân viên từ xướng ngôn viên, phóng viên, kỹ thuật viên đến nhân viên trang điểm. Nay hầu hết phu mỏ đã rời bệnh viện để trở về nhà, sức ép càng tăng trên mấy ông phóng viên vào buổi vãn tuồng, nên có nhiều đề nghị về tài chính lớn được đưa ra để cầu mong một vài phóng sự lớn. Nhật báo Sun của anh đã trả tới 50 ngàn đô cho một cuộc phỏng vấn. Trước khi Jimmy Sanchez lên tới mặt đất, tạp chí Bild của Đức đã ra giá 45 ngàn nếu anh thợ mỏ nầy chịu dành 72 tiếng đồng hồ đầu tiên cho nhân viên tờ báo vào sống chung trong gia đình; Sanchez là người trẻ nhất trong 33 phu thợ được cứu sống. Ariel Ticona có chị vợ lâm bồn khi anh còn trong lòng đất đã được mời phỏng vấn với giá 15 ngàn đô. Tất cả 33 người thất nghiệp tại chỗ sau khi rời bệnh viện, liệu họ sẽ từ chối các món tiền kếch xù ấy?

Khi họ còn trong lòng đất, người ta loan tin đồn rằng chẳng qua ai cũng muốn là kẻ được cứu sau cùng để được kỷ lục là người phu mỏ bị chôn sống lâu nhất thế giới. Tin đồn ấy không được xác nhận, nhưng điều được nhìn nhận là, cả 33 người đã giao ước miệng với nhau về việc chia đồng đều tất cả số tiền kiếm được từ phía truyền thông, hay công ty điện ảnh, và cả sách sẽ được viết. Ngay Victor Segovia, người đã ghi lại tất cả chi tiết suốt 69 ngày, cũng chỉ bằng phu thợ nào đó không hề được ký giả đoái hoài.

Trước mắt, nhà xuất bản New York  chuẩn bị phát hành một cuốn của ký giả Jonathan Franklin, nhà báo theo dõi biến cố từ đầu mùa cho nhật báo Guardian bên Anh. Trong lúc đó cuốn của phóng viên New York Times ông Alexei Barrionuevo cũng đang được nói tới. Tác phẩm của Franklin mang tựa “33 người bị chôn sống: Câu chuyện dưới lòng đất của những phu mỏ Chí Lợi” đã bán tác quyền cho nhà xuất bản Transworld. Bản quyền ấn bản Âu châu cũng đã ký kết với giữa Transworld với nhiều nhà phát hành ở nhiều quốc gia khác nhau. Tác giả Franklin sẽ phải trao bản thảo vào giữa tháng 12, và sách sẽ ra thị trường vào đầu năm tới, nhưng tin tức không tiết lộ ông Franklin trả cho nhóm phu thợ bao nhiêu để được nghe kể chuyện.

 

Người Mỹ trầm lặng

 

Bốn chữ ấy là tựa đề một tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Anh Graham Greene, viết về nhà báo Thomas Fowler làm phóng sự cuộc chiến tranh của quân đội Pháp tại Việt Nam. Còn người Mỹ trầm lặng mà chúng ta đang nói đến, là những công dân Hoa Kỳ trong âm thầm đã cống hiến phần mình để biến cuộc giải cứu phu mỏ Chí Lợi thành hiện thực.

 

Trong tuần lễ cuối tháng 8, sau lời kêu gọi giúp đỡ của chính phủ Chí Lợi, Cơ quan Quản trị Không gian Hoa Kỳ (NASA) đã gởi một tóan 4 người gồm hai bác sĩ điều trị Michael DuncanJames Polk, cùng bác sĩ tâm lý Al Holland và ông kỹ sư Clinton Cragg tới khu mỏ để trợ giúp trong khâu cung cấp thức ăn và tâm lý, cũng như thiết kế ống cấp cứu chứa người. NASA là cơ quan có quá thừa kinh nghiệm trong công tác xử lý các vấn đề con người bị cô lập trong vũ trụ, nên các bác sĩ đến để nuôi ăn các thợ mỏ bị mắc kẹt theo chế độ vẫn được áp dụng cho các phi hành gia, thông qua một cái ống với đường kính chỉ lớn hơn cái bát ăn cơm.

 

Clinton Cragg là một trong những kỹ sư của NASA có mặt trong toán đặc trách an toàn vừa thành lập sau thảm họa phi thuyền Columbia năm 2003. Anh trải qua hầu hết quá khứ của mình trong quân chủng Hải quân, và phục vụ với chức vụ thuyền trưởng một tiềm thủy đỉnh Hoa Kỳ, quen sống gò bó và cách ly, nên khi chính phủ Chí lợi cần một kế hoạch để mang lên mặt đất những con người bị vùi gần nửa dặm dưới sâu, người ta chọn anh. Họ cần một chiếc xe để làm việc ấy, hay một con nhộng có thể trượt lọt trong lòng lỗ khoan rộng bằng bánh xe đạp, không có chỗ dư để thư giản, hay co duỗi tay chân.

 

Toán chuyên viên NASA tới mỏ San Jose ngày 30/08, hơn một tuần sau khi biết 33 người thợ còn sống. Đến nơi, Cragg vẫn chưa biết mình phải làm gì. Phía Chí Lợi cũng chưa hình dung được cách thức nào sẽ dùng để mang 33 người trở về. Cragg gặp Đề đốc Renato Navarro, cũng là một thuyền trưởng tiềm thủy đỉnh. Cragg đề nghị được nhập cuộc với họ. Phía họ biết đường kính mũi khoan và chiều cao tối đa của con nhộng để có thể lọt qua các khúc quanh, nhưng chỉ có thế. Cragg bay về lại văn phòng của mình ở Trung tâm Nghiên cứu NASA tại Langley, Virginia và tập họp 20 kỹ sư khác lại để thảo luận bản vẽ. Dùng những quy trình như khi thiết kế phi thuyền không gian, sau ba ngày cả tổ hoàn tất bản phác thảo với 75 thành phần linh kiện khác nhau. Con nhộng phải có cửa thoát trong trường hợp nó bị mắc kẹt giữa đường. Đến khi các bác sĩ của NASA tới xem, họ thêm vào bản vẽ nhiều yêu cầu khác nữa: bình dưỡng khí, bệ phẳng bên dưới để con người đứng thay vì nằm… Khi giao bản vẽ cho Hải quân Chí Lợi để chế tạo, tác phẩm của anh khi lắp đặt xong sẽ giống chiếc hộp đựng xì gà trong các phim khoa học giả tưởng, cao 13 feet và nặng 926 pounds. Sau cùng là một cái tên cho nó, hai bên đồng ý: Phượng Hoàng.

Tới ngày mũi khoan lớn thọc xuống buồng trú ẩn của 33 người thợ hôm thứ Bảy 9/10, chuyên viên máy khoan Hoa Kỳ ông Jeff Heart được nhân dân Chí Lợi coi là anh hùng của họ. “Sự xúc động đến nghẹn ngào làm tôi không diễn tả được. Chúng tôi đã cật lực chiến đấu không ngừng nghỉ để đạt tới kết quả nầy. Chúng ta đã khai thông sinh lộ cho những người dưới đất,” Heart nói. 40 tuổi, ông được chính phủ Chí Lợi tuyên dương vì vai trò trung tâm của ông trong chiến dịch giải cứu. “Thế là chúng ta biết chắc sẽ cứu được họ. Từ đây thật chẳng còn gì quan trọng hơn để tôi phải làm,” Heart nói với phóng viên thông tấn xã Reuters trong khi gia nhân và bè bạn phu mắc nạn chen nhau tới gần ông để xin chụp chung hình, hay ôm hôn ông với lòng biết ơn. Ông Heart đã đứng giàn khoan cho công ty Geotec Boyles Bros 24 năm, và công ty ông được chính phủ mướn tới khoan một trong ba đường khoan cứu nạn, với lưỡi khoan chỉ rộng hơi vai người một chút, là một trong những mạch khoan lịch sử của kỹ nghệ hầm mỏ. Trước đó, Heart được gọi về từ Afghanistan nơi ông đang giúp quân đội Mỹ khoan tìm mạch nước uống. Ông vừa ký tặng người ái mộ, vùa kế: “Khi được lệnh bay từ Kabul qua Chí Lợi, tôi không thể hình dung tôi được cử đi làm gì. Rồi chúng tôi tới, cắm đầu làm công việc của mình, và bây giờ lại chuẩn bị ra đi. Ở đây không thiếu gì tổ sư ngành khoan, chúng tôi chỉ được cái may mắn hơn họ.”

 

Heart, ông bố với hai đứa con ở tiểu bang Colorado, nói rằng các nhân viên toán cứu nạn trên nầy nghe được trong ống điện thoại nối liền với toán phu lâm nạn những tiếng động khi mũi khoan thọc lủng trần hầm dưới kia. Một người trong đám đã xuất hiện với một chai sâm-banh, và Heart đã khui, làm rượu phun tung tóe, “Tôi đã khoan miệt mài 33 ngày, và hôm nay là ngày hết sức may mắn.”

 

Đóng góp vào chiến tích hôm ấy là công của hảng vận tải hàng hóa UPS của Hoa Kỳ. Họ chỉ mất không đầy 48 tiếng đồng hồ để chở tới các linh kiện của một giàn khoan năng 13 tấn từ tiểu bang Pennsylvania. Ngoài ra, họ cũng vận chuyển những màn hình điều khiển từ trên mặt đất do hảng Zephyr Technologies chế tạo ở Maryland.

 

Nhưng các đơn vị chiến thắng là hảng khoan Geotec và các nhà sản xuất mũi khoan, Công ty Center Rock, và Công ty Schramm đã lắp đặt giàn khoan T-130. Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Center Rock, ông Brandon Fisher nói rằng ông không hoài nghi gì về việc mũi khoan sẽ gặp hầm trú ẩn của công nhân. Fisher người gốc miền tây bang Pennsylvania, có ông nội từng là phu mỏ. Ông đã kinh qua tất cả các loại máy khoan hạng nặng kể từ năm 18 tuổi. Tám năm trước, công ty do ông làm chủ đã khoan xuống hầm mỏ Quecreek để cứu 9 phu thợ bị chôn sống 5 ngày. Chuyến nầy gay cấn hơn, một phần do loại đá phún xuất thạch từ núi lửa cũ cứng gấp ba lần loại đá bên nhà, nên mạch khoan đã phải đảo qua né lại để tránh những chỗ khó ăn. Khi vào 300 feet cuối, Fisher quyết định cho khoan quay chậm lại và thay mũi 28-inch bằng mũi bé hơn để bứt phá đường khoan, sau đó mới dũa lại cho rộng ra. Ông đã quyết định đúng. Mũi khoan kết thúc lúc 8:05 sáng (7:05 giờ Washington DC), và tất cả nhà thờ trong thị trấn Copiapó đổ chuông, trước khi lan dài ra khắp nước, để thông báo cho mọi người niềm hân hoan vô bờ.

 

NgyThanh

18/10/2010

 

 

6 tệp đính kèm — Tải xuống tất cả tệp đính kèm (nén cho

Tiếng Anh (Mỹ)

)   Xem tất cả ảnh

Bernardita Lorca 11-10-2010 – ảnh Dario Lopez-Mills.jpg
494K   Xem Tải xuống
Con nhộng Phượng Hoàng.jpg
28K   Xem Tải xuống
Giàn cần cẩu cứu nạn do các kỹ sư NASA vẽ kiểu.jpg
400K   Xem Tải xuống
Kỹ thuật hiện đại giúp phu thợ bị chôn sống liên lạc với bề mặt địa cầu.jpg
317K   Xem Tải xuống
Thông điệp lịch sử ‘Estamos bien en el refugio los 33’ gởi lên mặt đất được truyền hình cho cả thế giới.jpg
354K   Xem Tải xuống
Tổng thống Chile đã cho mọi người thấy mẩu tin nhắn của các thợ mỏ.jpg
380K   Xem Tải xuống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: